Tìm hiểu luật gia đình-hôn nhân

Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Hoạch Ðịnh Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo Di Chúc và Tín Mục (trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định kế nghiệp. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ hợp hùn hạp. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở địa chỉ: 17151 Newhope Street, Suite 113, Fountain Valley, California 92708. Điện thoại: (714) 531-7080, website: www.lylylaw.com

Luật Sư LyLy Nguyễn

“Hôn thú” (marriage certificate) là văn kiện chứng thực một cặp vợ chồng đã chính thức kết hôn hợp pháp. (Hình minh họa: Tumisu/Pixabay)

Hôn nhân – cũng còn gọi là kết hôn hay hôn phối (marriage) – thường được định nghĩa là một hợp đồng ký kết giữa một cặp cá nhân nam nữ bày tỏ ý định trở thành chồng vợ trước con mắt luật pháp. Như vậy hôn nhân là một hợp đồng pháp lý bởi vì khi một cá nhân kết hôn người ấy không những nhận được quyền hạn và phúc lợi do cuộc kết hôn đem đến nhưng đồng thời đó cũng là một ràng buộc chặt chẽ về cả hai khía cạnh pháp lý lẫn tài chánh.

Phần đông các tiểu bang định nghĩa hôn nhân là một hợp đồng theo hộ luật (civil contract) giữa một người đàn ông và một người đàn bà để trở thành chồng vợ. Khi cặp này kết hôn thì liên hệ lập gia đình của họ trở thành hợp pháp. Vợ chồng khi lấy nhau đều có chung nghĩa vụ tài chánh và cá nhân trong suốt thời kỳ chung sống và sau khi ly thân hay ly dị. Phạm vi trách nhiệm vợ chồng đều do luật lệ tiểu bang định đoạt. Vào năm 1888 Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ra tuyên ngôn về vấn đề hôn nhân như sau: “Một khi ai lập quan hệ vợ chồng là lúc luật pháp bước vào để giữ cho hai bên hôn phối có nghĩa vụ liên đới với nhau.” Dĩ nhiên hôn nhân là mối ràng buộc riêng tư giữa hai cá nhân, nhưng đồng thời đó cũng chính là thành phần quan trọng của xã hội.

Ngày nay xã hội hiện tại cũng nhìn nhận hôn nhân là:

  • Một cách chứng tỏ sự ràng buộc, củng cố mối giao tình mật thiết đem lại tương trợ tình cảm chung giữa một cặp vợ chồng.
  • Một cấu trúc tương đối ổn định vững vàng cho gia đình để dậy dỗ con cái.
  • Một sự hùn hạp tài chánh trong đó cả đôi vợ chồng đều được chọn lựa thủ nhiều vai trò khác nhau. Cả hai vợ chồng đều có thể cùng đi làm để cùng chung sức gây dựng gia đình, hoặc chồng đi làm để nuôi vợ hay vợ đi làm để nuôi chồng.

Vì xã hội càng ngày càng phức tạp cho nên chẳng bao giờ có câu trả lời nào ngắn gọn cho câu hỏi: “Hôn nhân là gì?” Mọi định nghĩa và ý kiến về chức năng đúng mức của hôn nhân cứ mãi mãi thay đổi.

Các phong trào đòi quyền bình đẳng của phụ nữ và của giới đồng tình luyến ái đã làm thay đổi quan niệm của một số người về hôn nhân và tạo ra nhiều hình thức mới về quan hệ luyến ái kể cả những kiểu “kết hợp nội bộ” (domestic partnership) hay “kết hôn dân sự” (civil union) cho những cặp đồng giới tính. Trong những tình huống này dù hình thức hôn nhân còn tồn tại nhưng ý nghĩa nếp sống gia đình thay đổi liên tục.

Điều kiện pháp định của hôn nhân – Điều kiện để kết hôn hợp pháp thì giản dị dẫu rằng luật hôn phối thường khác biệt theo từng tiểu bang. Nói chung một người đàn ông và một người đàn bà muốn thành hôn với nhau trước hết phải xin “giấy phép kết hôn” (marriage license) tại tiểu bang mà họ muốn cử hành lễ cưới, thông thường do chánh văn phòng thư ký quận hạt (county clerk) hay lục sự tòa án (clerk of the court) cấp với một khoản lệ phí nhỏ.

Nhiều tiểu bang qui định muốn thành hôn thì cả hai người nam và nữ cùng phải đi thử máu khám nghiệm bệnh hoa liễu trước khi được cấp giấy phép kết hôn. Cũng có nhiều tiểu bang khác không bắt buộc thử máu nếu hai người đã sống chung với nhau. Nếu kết quả thử máu phát hiện một trong hai người bị mắc bệnh thì một số tiểu bang từ khước không cấp phát giấy phép kết hôn nhưng cũng có tiểu bang vẫn cấp giấy phép nếu cả hai đương sự cùng đều am tường rõ sự kiện mắc bệnh. Tại một số tiểu bang khác, cả hai đương sự phải xuất trình giấy chứng nhận miễn nhiễm hay giấy chứng đã chủng ngừa phòng một số bệnh tật. Cũng có tiểu bang còn đòi hai người sắp kết hôn cùng phải đi khám sức khỏe tổng quát.

Nếu một hay cả hai người đã từng kết hôn trước kia thì khi xin phép kết hôn phải nộp bằng chứng rằng cuộc hôn nhân trước đã chấm dứt qua cái chết của người hôn phối cũ, ly dị, hoặc hủy bỏ mặc dù có một số tiểu bang không đòi hỏi giấy chứng hủy bỏ nếu cuộc hôn nhân chưa bao giờ cử hành hợp pháp.

Cả hai bên muốn xin kết hôn đều phải hội đủ khả năng và điều kiện kết hôn. Điều này có nghĩa là cả hai người nam và nữ đều phải hiểu rõ sự việc lấy vợ lấy chồng và ý nghĩa của hôn nhân ra sao. Nếu vì lý do say rượu, điên khùng hay do một vấn đề trở ngại nào khác khiến một bên thiếu khả năng kết hôn thì cuộc hôn nhân đó kể như bất hợp pháp. Những người có quan hệ huyết thống gần đều không thể kết hôn mặc dù tại một số tiểu bang cho phép anh em họ một đời (anh em con cô, con cậu hay anh em con chú bác, cô dì) được phép lấy nhau. Trong số các tiểu bang cho anh em họ một đời kết hôn như vậy cũng có một số tiểu bang còn ra điều kiện phải giữ không được có con.

Phần nhiều tiểu bang – nhưng không phải tất cả – đặt điều kiện sau khi nhận được giấy phép kết hôn phải trải qua một “thời kỳ đợi” (waiting period) từ một tới năm ngày rồi mới được làm lễ cưới. Lý do bắt chờ đợi như vậy là để cho cả cô dâu chú rể một thời gian “làm nguội” (cool-off) để bình tâm suy nghĩ lại cho chín chắn nếu muốn thay đổi ý định không muốn cưới nữa.

Tuy nhiên điều kiện “thời kỳ đợi” này có thể được miễn nếu có lý do chính đáng, thí dụ như chú rể từ tiểu bang khác đến cưới vợ vì lý do bất khả kháng chỉ lưu lại có một ngày trong khi luật tiểu bang bắt chờ ba ngày thì chú rể ấy có quyền xin tòa địa phương cho đặc miễn cưới ngay khỏi chờ.

Tại hầu hết các tiểu bang cả hai người nam nữ đều phải hội điều kiện ít nhất đủ mười tám tuổi nếu muốn lấy nhau mà không cần cha mẹ đồng ý. Đồng thời cũng có một số tiểu bang khác cho người con trai hay con gái được phép kết hôn vào tuổi mười sáu hay mười bảy nếu có sự đồng ý của cha mẹ hay quan tòa địa phương. Mọi cuộc kết hôn hợp pháp tại tiểu bang hay xứ sở nơi cử hành lễ cưới đều được nhìn nhận hợp pháp tại tiểu bang hay xứ sở nào mà sau đó cặp vợ chồng này rời đến cư ngụ.

Những đám cưới không theo tôn giáo thường được gọi là lễ nghi dân sự (civil ceremonies) thường được cử hành do một vị chánh án, giới chức hành chánh như thị trưởng hay người đại diện, viên chức văn phòng hay tòa án quận hạt. Những vị này đều có thẩm quyền để cử hành hôn lễ hoặc do một nhân vật được chánh án hay thư ký quận hạt ủy quyền đứng ra chủ lễ.  Các đám cưới theo nghi thức tôn giáo thường do một chức sắc như linh mục, mục sư, thượng tọa,… cử hành theo nghi thức của tôn giáo đó. Thông thường không có điều luật nào bắt buộc phải nói những gì khi cử hành hôn lễ mà chỉ cần cả cô dâu và chú rể tỏ lộ thuận tình kết hôn với nhau. Điều cần nhớ đôi tân lang và tân giai nhân có quyền chế ra bất cứ kiểu lễ cưới nào mà mình muốn

Khác biệt giữa giấy phép kết hôn và hôn thú – Giấy phép kết hôn là một tờ giấy cho phép cử hành hôn lễ, trong khi “hôn thú” (marriage certificate) là văn kiện chứng thực một cặp vợ chồng đã chính thức kết hôn hợp pháp.

Điển hình một cặp nam nữ xin được giấy phép kết hôn rồi tổ chức lễ cưới sau khi đã qua thời kỳ đợi như đã đề cập ở trên. Tiếp theo vài ngày sau, nhân vật đứng ra cử hành lễ cưới nộp đơn xin lập “hôn thú” cho chú rể cô dâu tại văn phòng thư ký quận hạt sở tại. Tùy theo địa phương cư ngụ, nơi cấp giấy hôn thú có thể là văn phòng quận hạt, văn phòng lưu trữ công khố (recorder or registrar). Trong vòng vài tuần lễ sau lễ cưới, cặp tân hôn sẽ nhận được một bản trích lục có chứng thực (certified copy of marriage certificate) sao từ sổ đăng bộ hôn thú sở tại. Phần đông nhiều tiểu bang qui định cả hai người phối ngẫu cùng vị chủ hôn và một hay hai người chứng cùng hiện diện lúc ký hôn thú mà thường được thi hành ngay sau lễ cưới.

Về phần giấy phép kết hôn đơn xin thường được nạp tại bất cứ văn phòng quận hạt nào trong tiểu bang người đứng xin cư ngụ. Tùy theo luật tiểu bang trong một vài trường hợp người đứng xin phải nạp đơn tại thành phố hay quận hạt nơi người ấy dự định làm lễ cưới. Dĩ nhiên người ấy cũng phải đóng một khoản lệ phí nhỏ và đợi một vài ngày sau thì giấy phép mới được cấp phát.

Tại một số tiểu bang sau khi được giấy phép kết hôn thì người sắp cưới phải đợi một vài ngày như đã nói ở trên, tuy nhiên nếu sau khi được giấy phép mà để quá lâu không cưới thì giấy phép này sẽ hết hạn. Tùy từng tiểu bang, giấy phép kết hôn có hiệu lực trong vòng 30 ngày đến một năm. Nếu để quá hạn thì người định cưới phải xin lại giấy phép khác.

Kỳ tới chúng tôi tìm hiểu thêm về vấn đề kết hôn theo luật gia đình Hoa Kỳ. Cũng như thường lệ người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ có mục đích sử dụng với tính cách thông tin (information) giúp quý độc giả một vài kiến thức tổng quát về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi và không thể coi như liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên quan đến luật, quý độc giả vẫn cần thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường hợp của quý vị.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT