Tỳ vị

Bác Sĩ Đặng Trần Hào

Người xưa bảo tỳ là lá lách (spleen), rất quan hệ tới sự tiêu hóa. Không tỳ thì chết. Đem cắt bỏ lá lách vẫn sống. Như vậy tỳ không phải là lá lách. Tỳ phải là tụy tạng (Pancreas), vì tụy tạng cần cho sự tiêu hóa thức ăn. Nếu không có tụy tạng con người không thể sống đươc. Đông Y lầm tỳ là lá lách, có thể lá lách nằm sát dạ dày dễ thấy. Tụy tạng nằm sau dạ dày khó thấy. Về hình thức và vị trí là như vậy, nhưng tỳ có nhiệm vụ về thăng giáng khí hóa trong cơ thể và là nồi hâm nóng để cho thức ăn tiêu hóa, vì tỳ khí suy, không đủ hợp tác với tụy tạng gây ra tiêu hóa dễ bị trở ngại một phần.

Sơ lược về cơ thể học 

Định vị: Nằm bắt ngang theo thành bụng, sau dạ dày. Tụy tạng được chia làm ba phần: đầu, thân và đuôi. Đầu nằm sát thập nhị chỉ tràng, có ống dẫn từ tụy tạng, kết hợp với ống dẫn mật, đổ vào thập nhị chỉ tràng qua một lỗ chung. Thận  nằm sau dạ dày khoảng cột sống lưng số 1 và số 2. Đuôi nằm trước mặt thận trái, liền với lá lách

Tụy tạng dài khoàng 12-15cm, nặng 80-90 gram, màu vàng nhạt.

Tụy tạng có hai nhiệm vụ: ngoại tiết và nội tiết:

-Ngoại tiết: chất được tiết ra bởi tuyến ngoại tiết là phân hóa tố. Gọi là ngoại vì không ở trong máu. Tụy tạng  tiết các phân hóa tố để tiêu mỡ, tiêu đường và tiêu hóa các chất thịt. Các chất này kết hơp với chất mật của túi mật để đổ vào thập nhị chỉ tràng để tiêu hóa thức ăn từ dạ dày xuống.

-Nội tiết: Chất được tiết ra bởi tuyến nội tiết, gọi là kích thích tố. Kích thích tố được tiết thẳng vào máu nên gọi là nội. Tụy tạng tiết chất kích tố để tăng và giảm đường trong máu.

Gừng có tác dụng giải biểu, tán phong hàn, làm ấm phế, ấm tỳ vị, khử mùi hôi, giải độc… (Hình: thuocdantoc.org)

Theo Đông Y, tỳ và lá lách không phân định rõ ràng tuy hai mà là một, nằm ở trung tiêu.

-Ngũ sắc: Màu vàng.

-Ngũ vị: Thích mùi thơm, vị ngọt nhập tỳ. Tỳ tiết phân hóa tố tiêu hóa.

-Ngũ âm: Âm-cung, Thanh-ca hát.

-Thất tình: Ưu tư lo lắng nhiều hại tỳ.

-Ái ố: Ưa ráo, thích hòa hoãn. Thuốc vào tỳ có phục linh để ráo và cam thảo để hòa hoãn.

-Biến động: Khạc nhổ, nôn ọe.

-Công năng: Mùi vị ở đó mà ra, tỳ chủ về cơ nhục và tứ chi. Tỳ yếu thì gầy, tứ chi mệt mỏi.

-Bộ phận đặc trưng: Miệng, môi, dãi, nhớt trong miệng.

-Ngũ hành: Thuộc hành thổ.

-Không gian: Trung ương.

-Thời gian: Tứ thời.

-Lục khí: Thuộc khí Thái Âm, địa hành là thổ, nên gọi là thái âm thấp thô.

-Bệnh thời: Tỳ bệnh khởi từ Mậu Kỷ (thổ). Khỏi ở Tân Canh (thuộc kim). Không khỏi, dây dưa qua Nhâm, Quí và sẽ lâm nguy ở Giáp Ất (thuộc mộc, mùa Xuân).

-Ngũ hành: Tỳ thuộc hành thổ, gặp tháng Mậu Kỷ lại thổ. Hai thổ gặp nhau đưa tới thổ quá vượng, nên tỳ bị hại. Thổ đẻ ra kim, nên thổ được vơi đi. Do đó Tân Canh thì tỳ thổ khỏi bệnh. Nếu không khỏi thì dây dưa tới Nhâm Quí. Thổ khắc thủy nên tỳ thổ không chết. Tới Giáp Ất thì  thổ lâm nguy, vì Giáp Ất thuộc mộc. Mộc khắc Thổ, tỳ chết. Dựa vào giải thích trên, cha ông chúng ta đã biết được ngày chết và sống của bệnh nhân. Đó là sự thật với điều kiện định bệnh đúng và bắt mạch đúng.

Nay với hình thức tân giải, ta giải thích như sau: Tỳ khởi bệnh ở Mậu Kỷ vì tỳ thổ vốn ẩm ướt, nay gặp Mậu Kỷ là thổ (trường hạ hay mưa dầm dề), hai thổ gặp nhau lại càng ẩm ướt hơn nên thành bệnh. Khỏi bệnh ở Ất Canh thuộc kim khô ráo, tỳ ưa khô ráo, gặp Kim giúp tỳ nên tỳ khỏi bệnh. Nếu không khỏi bệnh thì dây dưa ở  Nhâm Quí, Nhâm Quí thuộc lạnh nên vẫn khô ráo hơn so với trường hạ, do đó không chết. Lâm nguy là Giáp Ất, vì Giáp Ất thuộc mộc, thuộc mùa Xuân cây cỏ và vạn vật đều nẩy nở kể cả con người. Khi nẩy nở thì đòi hỏi năng lượng từ thức ăn, tỳ yếu không đủ sức cung cấp thức ăn nên phải chết. Đây là một kiểu mẫu tân giải.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT