Tìm hiểu Luật Ngân Hàng

Luật Sư LyLy Nguyễn

Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Luật Khánh Tận Chương 7, 11, 13 cho cá nhân và cơ sở thương mại, xóa hết các loại nợ, tranh tụng trước Tòa Khánh Tận và khai phá sản hủy bỏ nợ thuế. Về Hoạch Định Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo di chúc và tín mục (trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định kế nghiệp. Về Luật Thuế, Luật Sư LyLy đại diện cho thân chủ trường hợp bị kiểm thuế, xin ngưng tịch thâu tài sản vì thiếu thuế, đại diện biện hộ trước Tòa Án Thuế và điều đình xin giảm nợ thuế. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ hợp hùn hạp. Ngoài ra Luật Sư LyLy còn rất giàu kinh nghiệm về thuế lợi tức cá nhân, thuế trả nhân công, thuế mua bán và thuế tài sản ở hai cấp liên bang và tiểu bang. Luật Sư LyLy Nguyễn được chứng nhận hành nghề tại Supreme Court of California, United States District Court, United States Court of Appeals for the Ninth Circuit và United States Tax Court. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 10221 Slater Avenue, Suite 216, Fountain Valley, California 92708. Điện thoại: (714) 531-7080. website: www.lylylaw.com

Như đã trình bày kỳ trước, ngân hàng là một nghiệp vụ tối quan trọng bắc cầu giữa giới có tiền và giới cần tiền. Ngân hàng đóng vai trò rất cần thiết trong nền kinh tế tại Hoa Kỳ cũng như các nước văn minh tân tiến khác. Tuy nhiên vì ngân hàng có ảnh hưởng đặc biệt với sinh hoạt kinh tế và thương mại cho nên đã trở thành một lãnh vực có yếu điểm dễ phát sinh lạm dụng.

Vì nhận thức tầm nguy hại của nguy cơ nhũng lạm và quản trị sai lạc vốn cố hữu trong hệ thống ngân hàng cho nên cả liên bang lẫn tiểu bang đều có “Luật Ngân Hàng và Cơ Sở Tài Chánh “ (Banking and Financial Institutions Law) chi phối mọi giao dịch ngân hàng và cơ sở cho vay trên toàn quốc.

Một khi ngân hàng được giấy phép thành lập thì các giới chức thẩm quyền đều có rất nhiều phương thức và phương tiện để kiểm soát hoạt động của ngân hàng. Mục tiêu của luật ngân hàng là ngăn ngừa ngành hối đoái tiền tệ sụp đổ mà trong quá khứ đã từng có lần gây tai họa cho nước Mỹ trong cuộc “đại khủng hoảng kinh tế” (the Great Depression) xẩy ra thời tiền bán thế kỷ 20 khiến hàng loạt hệ thống ngân hàng phải đóng cửa vì phá sản. Ngày nay nhờ sự giám sát chặt chẽ các ngân hàng thương mại và với bảo đảm của chính phủ liên bang trên số tiền ký thác tại hầu hết ngân hàng cho nên tín nhiệm vào hệ thống ngân hàng đã được nâng cao nhiều hơn; đồng thời cũng tạo tác dụng ngăn ngừa hoang mang cho quần chúng vốn là nguyên nhân chính gây ra thảm họa sụp đổ kinh tế Hoa Kỳ trước kia.

Theo luật hiện hành có rất nhiều cơ quan chính quyền được ủy nhiệm việc giám sát ngân hàng. Quan trọng hàng đầu là “Cơ Quan Quản Trị Tiền Tệ Hoa Kỳ” (U.S. Office of the Controller of Currency) trực thuộc Bộ Ngân Khố Liên Bang (U.S. Department of Treasury). Cơ quan này có quyền lực pháp lý trên hàng ngàn ngân hàng quốc gia (national banks) trên toàn quốc. Cơ quan Quản Trị Tiền Tệ chuẩn cấp giấy phép thành lập và có thẩm quyền giám sát ngân hàng quốc gia. Nhiều trách vụ khác nhau của cơ quan được thi hành do sáu “sở hành chánh vùng” (regional administrative offices) đặt trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ. Tiểu bang California được chỉ định vào quận Tây (Western District) có trụ sở chính đặt tại San Francisco. Sở này là nguồn cung cấp chính xác mọi chi tiết về luật lệ liên bang liên quan đến ngân hàng. Tại California cơ quan quản trị tiền tệ còn đặt nhiều chi nhánh thường trực tại Los Angeles và Orange County.

Ngoài cơ quan quản trị tiền tệ việc giám sát và thanh tra ngân hàng cũng còn được nhiều cơ quan chính quyền khác thi hành do viên chức của Federal Deposit Insurance Corporation (viết tắt là FDIC) và Federal Reserve System đã đề cập kỳ trước. Riêng tại California, có giới chức “Giám Sát Ngân Hàng California” (California Superintendent of Banks) kiểm soát các chi nhánh ngân hàng quốc gia hoạt động tại California cùng các ngân hàng tiểu bang (state banks) và ấn định lãi suất tối đa đối với vài loại tiền vay.

Ngân hàng và các cơ sở cho vay đồng thời cũng chịu dưới quyền tài phán của hàng loạt cơ quan kiểm tra khác thuộc liên bang và tiểu bang. Thí dụ Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ (U.S. Department of Justice) có quyền ngăn cản các vụ sáp nhập ngân hàng nếu giới chức ở đây nghĩ rằng việc sáp nhập có thể gây ra ra nạn độc quyền tại vùng nào đó. Một cơ quan khác là Ủy Ban Trao Đổi Chứng Khoán (Security and Exchange Commission viết tắt là SEC) có qui định ngân hàng và cơ sở tài chánh nếu có bán chứng khoán ra ngoài công chúng thì phải lập tờ tường trình báo cáo định kỳ lên ủy ban. Ngoài ra ngân hàng và cơ sở tài chánh nào có tham gia vào một vài chương trình cho vay của chính phủ thì đều phải chịu nhiều kiểm tra kỹ lưỡng của các cơ quan có liên hệ khác thuộc nhiều phân bộ khác nhau, thí dụ như Cơ Quan Hành Chánh Cựu Chiến Binh (Veteran Administration) hoặc các Bộ Lao Động (U.S. Department of Labor), Phát Triển Gia Cư và Đô Thị (Housing and Urban Development), hoặc Nha Sức Khỏe và Phục Vụ Nhân Bản (Health and Human Services), v.v… Thêm vào đó, ngân hàng và cơ sở tài chánh cũng như mọi nghiệp vụ khác còn bị ảnh hưởng các đạo luật liên bang và tiểu bang về vấn đề đặc biệt liên quan đến việc làm công bằng (employment equal opportunity), kỳ thị trong việc cho vay (discrimination in lending), báo cáo hồ sơ tín dụng không thiên vị (fair credit reporting), tín nhiệm cho vay (truth in lending) và các thủ tục đòi nợ trễ hạn một cách hợp pháp.

Theo định kỳ các ngân hàng và cơ sở cho vay đều bắt buộc phải tường trình chi tiết tình trạng tài chánh lên các thẩm quyền giám sát. Những báo cáo này nộp từng tam cá nguyệt do các ngân hàng cỡ trung bình trở lên và sáu tháng cho các ngân hàng hay cơ sở nhỏ. Riêng với các ngân hàng đang gặp khó khăn thì bắt buộc phải lập phúc trình đặc biệt nhất là đối với ngân hàng hay cơ sở nào gần sụp đổ phải lập báo cáo liên tục cho đến khi thay đổi tình trạng.

Ngoài việc lập báo cáo định kỳ, các ngân hàng còn phải chịu các cuộc thị sát định kỳ của nhiều toán thanh tra khác nhau để bảo đảm rằng ngân hàng hoạt động theo đúng theo luật lệ pháp định và tôn trọng các nguyên tắc căn bản về ngân hàng, cũng như không phát hiện kỳ thị nào xẩy ra cho mọi tầng lớp khách hàng. Thông thường các cuộc thị sát này đều bất ngờ không loan báo trước. Các giới chức thanh tra thi hành trách vụ duyệt xét mọi hồ sơ lưu trữ của ngân hàng, đích thân kiểm điểm từng hồ sơ, thử nghiệm hệ thống điện toán, duyệt lại nguyên tắc và thủ tục cho vay tiền, đếm lại tiền mặt hiện hữu. Hai lãnh vực mà các giới chức thanh tra thường lưu ý tới nhất là tình trạng của các món nợ chưa trả xong và kết toán danh mục tổng số tiền cho vay.

Đối với tình trạng các món nợ chưa trả xong, thanh tra ngân hàng sẽ lượng định tầm cỡ của từng món tiền mà ngân hàng đã cho vay rồi đánh giá khả năng trả tiền của người nợ. Mỗi ngân hàng được phê điểm căn cứ trên tầm cỡ của trọn hồ sơ cho vay. Để lượng định các món nợ, giới chức thanh tra kiểm xét các món thế chấp cho từng món nợ, lưu lượng tiền mặt của người nợ đã trả hàng tháng. Trong giai đoạn kiểm tra này điều chính yếu ngân hàng phải có đầy đủ hồ sơ chính xác. Vì lý do đó đã khiến ngân hàng thường đối xử khắt khe với khách hàng trong việc chấp thuận cho vay tiền, luôn luôn đòi hỏi phải có đầy đủ giấy tờ liên hệ rồi mới cho vay, cho dù đối với khách quí.

Ngân hàng còn phải chuẩn bị trình hồ sơ tiền cho vay (loan porfolio) cho giới chức thanh tra duyệt xét. Trên nguyên tắc hồ sơ tiền cho vay của ngân hàng sẽ được đánh giá là “hồ sơ cho vay cân bằng” nếu các món vay được trải đều cho nhiều loại mục đích vay khác nhau, thí dụ như vay cho địa ốc, kỹ nghệ sản xuất, các ngành cung cấp dịch vụ hay vay tiền mua xe hơi. Hồ sơ với tiền cho vay cân bằng sẽ có khả năng đứng vững và sẽ thoát được tình trạng kinh tế trồi sụt bất thường xẩy ra cho kỹ nghệ nào đó và được đánh giá mạnh hơn hồ sơ cho vay nặng về một kỹ nghệ mà thôi.

Thẩm quyền thanh tra ngân hàng nằm trong tay nhiều cơ quan khác nhau cho nên nhiều cuộc thanh tra liên tiếp gây tốn phí rất nhiều cho chính phủ và trở thành gánh nặng quá mức cho ngân hàng. Để giảm bớt nhiều cuộc thanh tra trùng hợp không cần thiết, các giới chức thanh tra thuộc nhiều cơ quan khác nhau đều dùng chung một hệ thống tính điểm gọi là “Hệ Thống Đánh Giá Ngân Hàng Đồng Nhất cho Liên Cơ Quan” (The Uniform Interagency Bank Rating System). Hệ thống này cho điểm kiểm tra ngân hàng trên năm lãnh vực căn bản là ngân hàng có (1) đầy đủ vốn, (2) tài sản đáng giá, (3) khả năng quản lý (4) thành tích gây lời (5) khả năng thanh toán tiền mặt. Cả năm yếu tố này được gộp chung thành một tên gọi là CAMEL (chữ viết tắt của Capital, Asset, Management, Earning, Liquidity). Mỗi ngân hàng sẽ được phê điểm mỗi yếu tố của CAMEL từ 1 đến 5, theo đó số 1 là thứ hạng cao nhất xuống tới số 5 là hạng thấp nhất. Hạng 1 biểu thị ngân hàng xuất sắc, hạng 2 là ngân hàng khá chỉ có ít sai sót nhỏ không đáng kể, hạng 3 cho biết ngân hàng có sai sót nghiêm trọng trong địa hạt nào đó và được yêu cầu chỉnh đốn, hạng 4 ám chỉ ngân hàng đang gặp rắc rối khó khăn nên đang nhận lệnh chỉnh đốn nghiêm trọng hơn, và hạng 5 dành cho ngân hàng đang trên đà sụp đổ đang tìm biện pháp giải quyết hay tìm ngân hàng khác để sáp nhập hay bán đi.

Cả luật liên bang lẫn tiểu bang đều nắm giữ việc kiểm soát lãi suất mà ngân hàng được phép đánh trên tiền cho khách hàng vay. Các đạo luật này cung cấp một loạt giới hạn mức phân xuất tiền lãi hợp pháp tối đa. Ngân hàng có quyền tự do tính lãi khách hàng bất cứ phân xuất lãi nào miễn là nằm trong phạm vi được luật ấn định tùy theo tiêu chuẩn riêng của ngân hàng. Các tiêu chuẩn này tùy thuộc yếu tố khả năng trả tiền đều của người vay, tiền lãi mà ngân hàng phải trả cho người ký thác và áp lực cạnh tranh trên thị trường hối đoái tiền tệ, luật liên bang cũng như tiểu bang cũng ấn định giới hạn tối đa mà cá nhân hoặc một nghiệp vụ có quyền vay. Giới hạn này được ấn định tùy thuộc chính yếu vào số vốn căn bản của ngân hàng.

Cả luật liên bang lẫn tiểu bang đều đặt một số điều khoản hạn chế ngân hàng trong việc sử dụng ngân sách của chính mình. Những luật này đều rất phức tạp, rắc rối mà chỉ có các chuyên gia kinh nghiệm mới có đủ khả năng giải đáp thắc mắc thỏa đáng cho ngân hàng dựa trên nguyên tắc căn bản như sau. Trước hết các ngân hàng quốc gia và ngân hàng tiểu bang đều bị cấm chỉ không được phép đầu tư vào lãnh vực địa ốc ngoại trừ sử dụng cho nhu cầu của mình. Thêm nữa, tổng số trị giá địa ốc dùng làm cơ sở không được vượt quá số tiền vốn căn bản. Ngoài ra các ngân hàng quốc gia và tiểu bang cũng còn bị cấm không được phép đầu tư tất cả vốn liếng vào chứng khoán. Tuy nhiên có ngoại lệ đặc miễn giới hạn cho các cơ sở phụ thuộc có chức năng hoạt động ngân hàng, chứng khoán do Bộ Ngân Khố phát hành và nghĩa vụ tổng quát đối với chính quyền tiểu bang và địa phương. Ngân hàng thông thường cũng bị ngăn cản không được đầu tư vào những khu vực kinh tế không thuộc về tài chánh, thí dụ như khu vực kỹ nghệ sản xuất hay kỹ nghệ săn sóc sức khỏe. Riêng trong khu vực tài chánh, ngân hàng không được đầu tư vào một số ngành bảo hiểm hay cam kết tài trợ chứng khoán. Những giới hạn này được kiểm tra rất kỹ càng, tuy nhiên gần đây quốc hội đang tái xét việc nới lỏng hay hủy bỏ những giới hạn này cho các ngân hàng.

Cũng như thường lệ người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ có mục đích sử dụng với tính cách thông tin (information) giúp quí độc giả một vài kiến thức tổng quát về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi và không thể coi như liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên quan đến luật, quí độc giả vẫn cần thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường hợp của quí vị.

Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở địa chỉ 10221 Slater Avenue, Suite 216, Fountain Valley, CA 92708. Điện thoại: (714) 531-7080. Website: lylylaw.com.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT