Ngành Mai
Sau 1975 hầu như tỉnh nào, huyện nào cũng có sân bãi rộng, thường là sân banh để cho cải lương trình diễn, và đoàn hát cũng được ra đời nhiều, tỉnh nào cũng có gánh hát được thành lập dưới sự điều động, quản lý của cơ quan văn hóa thông tin. Do vậy nên vấn đề điện đã đỡ khổ được một phần cho bầu gánh. Thời những năm đầu sau 1975 còn chế độ bao cấp, cơ quan văn hóa lãnh đạo góp tay vào, cũng đồng thời có trách nhiệm nên bầu gánh, tức trưởng đoàn bớt lo về vấn đề điện.

Cải lương về nông thôn kiếm sống. Một đêm hát giữa đồng, ánh sáng từ ngọn đuốc thay cho bóng đèn điện. (Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)
Thời bao cấp này nhờ sân bãi rộng sức chứa được nhiều, nên giá vé cũng thấp vừa túi tiền bà con nông thôn, nên suất hát nào cũng trên cả ngàn khán giả. Do người đi coi hát đông quá nên cải lương phải có âm thanh phát ra tiếng lớn, khán giả mới nghe ca được. Do vậy mà nguồn điện mạnh để khuếch đại âm thanh vẫn là điều cần thiết. Mà đâu phải tỉnh nào, huyện nào cũng đầy đủ điện, thành ra chiếc máy đèn vẫn là mối quan tâm cho các trưởng đoàn kể cả cơ quan văn hóa quản lý đoàn hát.
Cải lương hoạt động tốt đẹp khoảng năm năm thì bắt đầu đi xuống, những năm đầu của thập niên 1980 các đoàn cải lương quả tình là khó sống vững được, khi chỉ diễn quanh quẩn ở các rạp trong thành phố, chỉ trừ một vài đoàn đủ vững mạnh để chịu đựng. Ða số các đoàn hát phải đi lưu diễn nơi nầy nơi nọ để tìm khán giả mới. Khán giả ở vùng xa xôi hẻo lánh cũng vui mừng có đoàn hát đến để họ có dịp giải trí sau những ngày làm lụng cực nhọc. Ðoàn đi lưu diễn để mở con đường sống, mà đi xa thì phải có máy đèn, chớ nếu chỉ trông cậy vào điện ở các vùng sâu nông thôn thì “chết một cửa ngũ” vì rất thường bị cúp điện. Thật vậy, cúp điện là cái nạn “hãi hùng nhứt.” Và để tránh nạn cúp điện khi đang hát phải trả vé, một vài đoàn lớn thường có máy phát điện mang theo, để phòng hờ khi điện bị cúp bất ngờ.
Các đoàn nhỏ thì đâu có máy đèn, nên khi dọn gánh hát đến địa phương thì việc trước tiên là phải thuê mướn máy đèn có sẵn ở sân bãi, hoặc tìm nhà nào đó họ có máy đèn cho mướn với hình thức kinh doanh. Vì vậy suốt đêm hát có điện, đoàn vẫn phải trả tiền mướn máy đèn, dù rằng chẳng chạy phút nào cả.
Các đoàn hát chịu tốn kém như thế thì cũng phải ráng chịu đựng để kiếm sống. Thế nhưng, có điều hài hước, buồn cười là đoàn nào mướn máy đèn, chịu trả tiền mỗi đêm thì điện không có bị cúp suốt những đêm diễn. Còn đoàn nào không mướn máy đèn để sẵn đó, nghĩa là không phải chịu trả tiền mỗi đêm thì sao điện cứ bị cúp hoài? Cứ phải vướng cái nạn cúp điện, có người nói cứ cái tình trang cúp điện này có lẽ các đoàn hát nên trở lại cái thời hát đèn “măng xông” chắc ổn hơn vậy.
Cái khổ của cải lương là khi các địa phương đã có điện rồi, thì nguồn điện đã bị chia vào cho nhà dân xài, và người dân cũng quen dần dùng đồ điện, chớ đâu phải điện chỉ dành riêng cho gánh hát cải lương. Thành thử ra ở các địa phương dù có nguồn điện mạnh thì cải lương khổ theo mạnh, mà điện yếu thì khổ theo yếu vậy.
Một lần, tại một bãi diễn, khán giả đông nghẹt, nhưng mới mở màn đã cúp điện. Khán giả la ó. Anh bầu liền bắt loa giấy hét vang dậy:
-Ðồng bào chớ lo. Có điện. Có điện mà…
Anh ta rề cái xe hơi cũ kỹ thường hay nằm đường của mình tới, cho nổ máy và rọi đèn pha lên sân khấu. Khổ nỗi, chiếc xe chỉ còn có một ngọn đèn, đèn bên kia đứt bóng hồi nào không biết. Chỉ khổ cho các nhân vật trong tuồng, cứ mỗi lần vô vọng cổ, hay ca Nam Ai lớp mái, Văn Thiên Tường lớp dựng, đều phải ló đầu ngay chỗ đèn pha cho khán giả thấy mặt. Anh kép ca xong thì lui ra cho chị đào ló đầu vào chỗ ánh sáng đèn pha ca Lý Con Sáo, Ngựa Ô Nam hay vô Xàng Xê.
Diễn trong tình trạng như thế mà khán giả vẫn im lặng thưởng thức, và nhờ tiếng đàn, tiếng ca của diễn viên cũng làm dịu lòng khán giả. Hát kiểu này, các đoàn văn nghệ nước ngoài có dịp đi thăm các đoàn lưu diễn ở miền quê chắc phải phục sát đất cải lương Việt Nam. Chắc chắn là cái dạng biểu diễn này không có ghi trong sách vở.
Nào đã hết đâu? Vở tuồng diễn được hơn phân nửa thì ông bầu la lên hết xăng, đèn pha tắt ngấm. Khán giả la ó. Ông bầu liền “giảng thuyết”:
-Thưa bà con cô bác, tới đây thì đoàn ca kịch tập thể của Sở Văn Hóa Thông Tin của chúng tôi đành phải cáo lỗi vì trục trặc kỹ thuật. Chúng tôi xin hẹn lần sau tái ngộ sẽ diễn hết vở tuồng. Bây giờ thì chỉ còn gần hai màn chót, không thể diễn tiếp được. Ðồng bào la ầm ĩ nhưng rồi cũng đành kéo nhau ra về. Theo lệ, hễ đêm diễn mà hát quá nửa tuồng là không phải trả vé. Nhưng cứ thế này mãi thì đoàn hát sẽ rã gánh trong một ngày không xa.
Tóm lại nạn cúp điện là nỗi khổ luôn ám ảnh cải lương kể từ ngày nghệ thuật này loại bỏ đèn măng xông, chạy theo điện, chạy theo máy đèn.

















































































