Làng nghề tiêu biểu quanh Hà Nội (tiếp theo và hết)

 


Pao Lâm (sưu tầm)


 


Làng sơn mài Hạ Thái


 


Làng nghề thủ công truyền thống sơn mài Hạ Thái thuộc huyện Thường Tín, Hà Nội. Ngày xưa, làng có tên là Cự Tràng Trang, năm 1870 đổi tên là làng Ðông Thái và đến đầu thế kỷ XX thì chính thức mang tên là làng Hạ Thái.










Sản phẩm sơn mài Hạ Thái. (Hình: Ciao Travel cung cấp)


Tương truyền, nghề sơn Hạ Thái có từ khoảng thế kỷ XVII, lúc đó mới chỉ là nghề sơn đồ nét. Tuy không phải là phường đất tổ nghề sơn của Việt Nam, nhưng phường sơn Hạ Thái ngày trước được trọng dụng vì có nhiều thợ tài hoa, khéo léo, sáng tạo.


Ðầu thập niên 1930 của thế kỷ trước, những họa sĩ Việt Nam đầu tiên học tại trường Mỹ Thuật Ðông Dương đã tìm tòi phát hiện thêm các vật liệu màu khác như vỏ trứng, ốc, cật tre. Ðặc biệt là đưa kỹ thuật mài vào, tạo nên kỹ thuật sơn mài độc đáo để sáng tác những bức tranh sơn mài thực sự. Thuật ngữ sơn mài và tranh sơn mài cũng xuất hiện từ đó. Tranh sơn mài sử dụng các vật liệu màu truyền thống của nghề sơn như sơn then, sơn cánh gián làm chất kết dính, cùng các loại son, bạc thếp, vàng thếp, vỏ trai vẽ trên nền vóc màu đen.


Cũng trong giai đoạn này, làng Hạ Thái có cụ Ðinh Văn Thành, là giảng viên trường Mỹ Thuật Ðông Dương được mời sang Pháp dự thi đấu xảo Paris về nghệ thuật tranh sơn mài. Sau này, cụ cải tiến từ sơn dầu để đưa nghề sơn mài về làng. Sản phẩm sơn mài Hạ Thái đã khẳng định được thương hiệu không chỉ nhờ uy tín, chất lượng luôn bóng, mịn, đẹp, độ bền cao, mà còn kết tinh dấu ấn của bàn tay khéo léo, sức sáng tạo của những người thợ tài hoa.


Khi mới ra đời, sơn mài chỉ có ba màu: Sơn then (màu đen), sơn son (màu đỏ) và sơn cánh gián (màu vàng nâu). Nhờ quá trình tìm tòi sáng tạo của nhiều họa sĩ, bảng màu của sơn mài ngày nay đã phong phú hơn. Màu của sơn mài lộng lẫy mà đằm thắm, ẩn hiện lớp lớp tầng tầng. Màu dưới nâng màu trên, lại tiếp những lớp bột vàng, bột bạc được rắc phủ đậm nhạt, tạo nên những hòa sắc lộng lẫy lạ thường.


Nghề làm sơn mài cũng lắm công phu, nhiều công đoạn. Mỗi công đoạn đều đòi hỏi người làm nghề phải thật kiên nhẫn, tỉ mỉ, trau chuốt, nâng niu, nếu không, sản phẩm hoàn chỉnh sẽ không thấy được cái hồn. Có thể khái quát các công đoạn của một sản phẩm sơn mài là: 1. Cốt (hay còn gọi là vóc); 2. Gắn; 3. Ðánh vải; 4. Bó; 5. Hom; 6. Kẹt lót; 7. Thí; 8. Phun màu (hoặc dán bạc); 9. Quang toát. Có thể nói, công nghệ sơn mài chỉ có nguyên lý chung, nhưng khác biệt trong kinh nghiệm, kỹ thuật của từng cá nhân, từng gia đình mà những kỹ thuật được biến đổi theo từng loại sản phẩm.










Nghệ nhân sơn mài Hạ Thái. (Hình: Ciao Travel cung cấp)


Bên cạnh những sản phẩm truyền thống, người Hạ Thái còn tạo ra hàng nghìn mẫu sản phẩm hấp dẫn, đáp ứng thị hiếu, nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước như bát, đĩa, lọ hoa, khay, tranh sơn, tranh khảm. Chất liệu chính của sơn mài Hạ Thái là gỗ, tre, nứa, song mây, gần đây có thêm các chất liệu mới như, composite, gốm sứ càng tạo nên sự độc đáo cho sản phẩm. Ngoài việc kế thừa kinh nghiệm truyền thống ông cha để lại, những nghệ nhân trong làng càng phát hiện ra nhiều màu mới với nhiều sắc độ khác nhau. Người Hạ Thái biết sử dụng cách khắc trên sơn để tạo ra những đường nét mềm mại, uyển chuyển, sinh động.


Các sản phẩm sơn mài với những hình dáng thanh thoát, những mẫu vẽ đậm đà sắc thái dân tộc như: Bến nước cây đa, con đò lá trúc, vịnh Hạ Long, chùa Một Cột đang dần thu hút cả những người khó tính nhất.


 


Làng mây tre đan Phú Vinh


 


Nằm cách trung tâm Hà Nội 35 km theo hướng Tây Nam, làng nghề mây tre đan Phú Vinh, Phú Nghĩa, Chương Mỹ (Hà Nội), được biết đến như một trong những làng nghề truyền thống nổi tiếng.










Sản phẩm mây tre đan Phú Vinh. (Hình: Ciao Travel cung cấp)


Năm 2002, làng Phú Vinh chính thức được công nhận là làng nghề truyền thống nhưng nghề mây tre đan của Phú Vinh, với tên gọi cũ Phú Hoa Trang đã được biết đến gần 400 năm nay. Các nghệ nhân trong làng kể rằng, cách đây bốn trăm năm về trước, Phú Hoa Trang (tên cũ của Phú Vinh) xuất hiện ba ông chuyên làm các sản phẩm “lâm sản ngoài rừng” như rổ, rá, rế, làn, phục vụ cho nhu cầu của bà con chòm xóm. Theo thời gian, nghề dần lan rộng sang cả thôn, rồi cả xã và dần hình thanh nên một làng nghề Phú Vinh ngày nay.


Ðể có một sản phẩm hoàn thiện, các công đoạn sản xuất mây tre đan đòi hỏi sự cẩn thận, cầu kỳ từ khâu chọn nguyên liệu. Cây mây phải chọn cây có gióng đều, thông thường phải đạt độ dài năm mét. Kỹ thuật chế biến mây bao gồm hai công đoạn chính là: Phơi sấy và chẻ mây.


Tránh cho các sản phẩm bị mối, mọt thì mây tre phải được sấy trước khi dùng làm sản phẩm. Khi sấy, nhiều khói quá mây sẽ đỏ, ít khói quá cũng bị đỏ. Khi phơi, gặp mưa thì sợi mây mất vẻ đẹp, mà nắng quá thì sợi mây mất vẻ tươi. Sợi mây chưa khô tới thì nước da bị úa, mà khô kiệt quá thì nước da mất vẻ óng mềm. Do đó, phơi sấy mây đòi hỏi phải đúng kỹ thuật, không thể xao nhãng, phải liên tục săn sóc, theo dõi.


Chẻ nan mây là một kỹ thuật khó, đòi hỏi người thợ có tay nghề cao. Tùy theo từng sản phẩm mà người thợ có cách chẻ nan riêng, sợi nan lúc thì chẻ thành từng ống tròn, lúc chẻ thành bảy hoặc chín nan mỏng. Ðối với kỹ thuật chẻ nhiều nan mỏng đều tay thì đòi hỏi người thợ phải có nhiều kinh nghiệm.










“Nghệ nhân” tí hon làng mây tre đan Phú Vinh. (Hình: Ciao Travel cung cấp)


Với truyền thống lâu đời, ở Phú Vinh nhà nào cũng có người làm nghề mây tre đan, từ thanh niên trai tráng, phụ nữ đến người già, trẻ nhỏ đều có thể tham gia vào một công đoạn nào đó của nghề. Cha truyền con nối, nên bao đời nay người Phú Vinh vẫn sống chết với nghề mây tre đan. Trước đây, sản phẩm từ mây tre của người dân trong làng chủ yếu là thúng, mủng, dần, sàng, túi, hộp… các đồ dùng phục vụ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Nhưng, cuộc sống ngày càng phát triển, nhu cầu của người dân ngày một cao nên những sản phẩm mỹ nghệ từ mây tre đan như các đồ vật trang trí, chao đèn, rèm cửa, tranh chân dung, phong cảnh, hoành phi, câu đối cũng theo đó đã ra đời và vẫn giữ được trọn vẹn sự tinh xảo, tính thẩm mỹ cao và chất lượng tốt được lưu truyền.


 


Làng gỗ Ðồng Kỵ


 


Làng gỗ Ðồng Kỵ (thuộc phường Ðồng Kỵ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), cách Hà Nội khoảng 25 km, vẫn nổi tiếng khắp cả nước bởi duy trì được nét văn hóa truyền thống và nghề sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ gỗ.










Ðẽo gỗ ở làng Ðồng Kỵ. (Hình: Ciao Travel cung cấp)


Nghề làm gỗ mỹ nghệ ở Ðồng Kỵ có từ bao giờ thì hầu như người dân không rõ. Chỉ biết những đứa trẻ nơi đây khi mới tập tênh biết đi đã làm quen với đục, với mùi thơm của gỗ, lớn lên đã được bố mẹ dạy cho cách đục đẽo, chạm trổ. Trước đây, người thợ Ðồng Kỵ đi làm ở khắp nơi, ai thuê gì làm đó, từ giường tủ, bàn ghế đến tượng Phật. Ðến đầu những năm 1990, khi nhu cầu của thị trường ngày càng tăng, người làng mới bắt đầu mở cơ sở sản xuất gỗ mỹ nghệ ngay tại làng.










Hoàn tất sản phẩm gỗ ở làng Ðồng Kỵ. (Hình: Ciao Travel cung cấp)


Nét độc đáo của sản phẩm gỗ mỹ nghệ Ðồng Kỵ là kết hợp rất nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại nên rất phù hợp với xu hướng tiêu dùng và gu thẩm mỹ của khách hàng. Gỗ mỹ nghệ Ðồng Kỵ được làm hết sức khéo léo, cầu kỳ từ khâu chọn nguyên liệu, làm đồ ngang (xẻ gỗ thành tấm theo kích cỡ đã định trước) đến khâu chạm khắc và hoàn thiện. Người thợ với đôi bàn tay khéo léo tỉ mỉ chạm khắc những nét hoa văn độc đáo hay hình rồng, phượng tạo thành những sản phẩm gỗ mỹ nghệ rất đa dạng, từ các sản phẩm thông dụng như giường, tủ, bàn ghế đến các sản phẩm trang trí nội thất độc đáo, có tính thẩm mỹ như tranh gỗ, hình trang trí, phù điêu.


Ðồng Kỵ được xem là một làng nghề phát triển nhất hiện nay bởi sự năng động của sức trẻ và chiều sâu của một làng nghề truyền thống mà chất lượng đã được khẳng định từ trăm năm trước.


 


Làng rắn Lệ Mật


 


Từ xa xưa, kho văn hóa ẩm thực Hà thành đã nức tiếng bởi những cốm Vòng, chả cá Lã Vọng, bánh cuốn Thanh Trì. Trong kho tàng ấy không thể không nhắc đến làng nuôi rắn Lệ Mật, một trong những ngôi làng có lịch sử lâu đời của đất Kinh kỳ từ thế kỷ XI (nay thuộc phường Việt Hưng, quận Long Biên) với nghề săn bắt, chăn nuôi và chế biến rắn.










Lấy mật rắn tại làng Lệ Mật. (Hình: Ciao Travel cung cấp)


Tương truyền vào thời thế kỷ thứ 11 Công Chúa dạo chơi trên sông Thiên Ðức (nay là sông Ðuống) bị con Giảo Long cuốn trôi. Vào lúc đó chàng trai nghèo tên là Lệ Mật sống ở ven sông đã giết con Giảo Long cứu công Chúa, được vua ban thưởng vàng bạc châu báu cùng mảnh đất phía Tây thành Thăng Long – nay là làng Lệ Mật. Chàng đã biến nơi hoang vu thành 13 làng trại trù phú. Sau này, chàng mất, dân làng lập đình thờ chàng, suy tôn là Thành hoàng. Theo gương chàng, dân chúng làng Lệ Mật ngoài việc nhà nông còn phát triển thêm nghề bắt rắn, nuôi rắn và nghề rắn cũng bắt nguồn từ đó.


Thời gian đầu dân làng Lệ Mật chỉ nuôi rắn để ngâm rượu làm thuốc chữa bệnh, sau này da rắn được làm đồ mỹ nghệ như dây lưng, ví da, giày da. Do có sự giao lưu kinh tế nên rắn Lệ Mật còn trở thành đặc sản của người dân Hà Nội và thực khách gần xa. Ban đầu chỉ có vài món rất đơn giản như rắn ướp muối tiêu nướng, rắn xào hành tỏi, rắn băm nhỏ xào giòn. Ngày nay, các nhà hàng đã phục vụ nhiều món ăn mới hơn, thỏa mãn khẩu vị của thực khách khiến Lệ Mật được đánh giá là làng rắn nổi tiếng, độc nhất ở Việt Nam và trên thế giới.










Lễ hội tại làng rắn Lệ Mật. (Hình: Ciao Travel cung cấp)


Sự kết hợp hài hòa của một làng nghề độc đáo dưới dáng dấp của làng Việt cổ đã thực sự thu hút và hấp dẫn những du khách “dũng cảm” ghé thăm và thưởng thức những món ăn độc đáo từ rắn.


Thăm các làng nghề là dịp để tận hưởng không khí trong lành và bình yên của vùng ngoại ô, đắm chìm trong một không gian đậm chất Việt và mua những món quà lưu niệm độc đáo. Ðó là những lý do để không nên bỏ qua một chuyến đi về làng nghề khi đến Việt Nam.


 





Ciao Travel


Add: 1st Floor, 3 Phan Huy Ich Street, Hanoi, Vietnam


Tel: 84-4-39290270; Fax: 84-4-39290271


E-mail: [email protected]


Website: www.ciaotravels.com



 

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT