Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng
“Magnificat anima mea Dominum…”
Tiếng hát của ca đoàn cất lên, vang vọng dưới những mái vòm cao vút của nhà thờ Đức Bà Sài Gòn sáng sớm hôm ấy. Lời Thánh Ca bằng tiến Latinh “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa tôi” ngân nga giữa bầu không khí trang nghiêm của một Thánh Lễ đặc biệt. Ngôi thánh đường chật ních giáo dân đến dự lễ nhân chuyến thăm Việt Nam của Hồng Y Francis Spellman, tổng giám mục New York, một vị thượng khách của tân Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.
Trong số những người cất tiếng hát hôm ấy có chính tác giả bài viết này, cùng nhiều thanh niên vừa từ miền Bắc di cư vào Nam sau Hiệp Định Geneva 1954.
Tiếng hát hôm ấy không chỉ là lời ca ngợi Thiên Chúa mà còn như một lời tạ ơn cho cuộc sống mới. Từ một miền Bắc chiến tranh, loạn lạc, nay được sống giữa Sài Gòn thanh bình, tự do, nhộn nhịp, chúng tôi cảm thấy tương lai đang mở ra đầy hy vọng. Sài Gòn lúc ấy quả thật xứng đáng với danh hiệu “Hòn Ngọc Viễn Đông.”
Nhưng đó chỉ là cảm nhận đơn sơ của tuổi trẻ.
Chúng tôi nào có ngờ rằng, ngay trong lúc Thánh Ca còn vang vọng dưới mái vòm, thì bên ngoài, trên bàn cờ chính trị Sài Gòn, những cuộc tranh giành quyền lực đang diễn ra hết sức quyết liệt. Người Pháp chưa chịu buông bỏ ảnh hưởng sau gần một thế kỷ đô hộ. Lực lượng của các giáo phái đang thách thức chính quyền trung ương. Và ngay cả Hoa Kỳ, đồng minh mà ông Diệm đang trông cậy, cũng chưa thật sự tin vào khả năng lãnh đạo của ông.
Bảy mươi mốt năm trôi qua. Những tài liệu được giải mật cho phép đặt lại một câu hỏi lớn: Nếu không có sự can đảm và quyết đoán của ông Ngô Đình Diệm trong những năm 1954-1955, liệu miền Nam có thể thoát khỏi phân hóa, thoát khỏi bóng thực dân, và dựng nên một quốc gia cộng hòa hay không?
Người muốn đi tu bỗng gánh vác vận nước
Ông Ngô Đình Diệm không phải là người xa lạ trên chính trường. Năm 1933, ông từng làm thượng thư bộ lại dưới triều Hoàng Đế Bảo Đại, nhưng chỉ vài tháng sau đã từ chức, vì không chấp nhận để người Pháp tiếp tục thao túng triều đình Huế. Từ đó, ông theo đuổi con đường độc lập dân tộc, chống cả thực dân lẫn Cộng Sản.
Theo hồi ký Con Rồng Việt Nam (1990), cựu Quốc Trưởng Bảo Đại kể lại rằng ông đã nhiều lần mời ông Diệm lập chính phủ, nhưng lần nào ông cũng từ chối. Lý do rất giản dị: Ông không muốn nhận trách nhiệm khi thực quyền vẫn nằm trong tay người Pháp.
Tháng Sáu, 1954, thời thế đã khác hẳn. Pháp vừa thảm bại ở Điện Biên Phủ. Hội Nghị Geneva đang định đoạt số phận Đông Dương. Bóng ma chia cắt đất nước hiện ra rõ rệt. Ông Bảo Đại lại mời ông Diệm một lần nữa.
Ông viết: “Sau khi thảo luận với ông John Foster Dulles (ngoại trưởng Mỹ), để cho ông ta biết ý định ấy, tôi cho vời Ngô Đình Diệm và bảo ông:
-“Cứ mỗi khi mà tôi cần thay đổi chính phủ, tôi lại phải gọi đến ông. Ông thì lúc nào cũng từ chối. Nay tình thế rất bi đát, đất nước có thể bị chia cắt làm đôi. Ông cần phải lãnh đạo chính phủ.”
-“Thưa hoàng thượng, không thể được ạ,” ông Diệm đáp. “Tôi xin trình ngài là sau nhiều năm suy nghĩ, tôi đã quyết định. Tôi định đi tu…”
-“Tôi kính trọng ý định của ông. Nhưng hiện nay, tôi kêu gọi đến lòng ái quốc của ông. Ông không có quyền từ chối trách nhiệm của mình. Sự tồn vong của Việt Nam buộc ông như vậy.”
Sau một hồi yên lặng, cuối cùng ông Diệm đáp:
-“Thưa hoàng thượng, trong trường hợp đó, tôi xin nhận sứ mạng ngài trao phó.”
Như vậy, giây phút ấy – ngày 16 Tháng Sáu, 1954 – là giây phút quyết định số mệnh của ông Ngô Đình Diệm. Ông muốn từ quan để đi tu, nhưng phải lĩnh nhận một sứ mạng đầy khó khăn, nguy hiểm, dấn thân vào một hành trình mà ở cuối đường, tử thần đã đứng sẵn để đợi ông.
Hôm đó, ông được trao cho quyền thành lập chính phủ. Ngày 7 Tháng Bảy, 1954, nội các Ngô Đình Diệm chính thức ra mắt.
Một miền Nam bên bờ vực thẳm
Khi ông Diệm nhận chức, thì trên lý thuyết, quốc gia Việt Nam đã có chủ quyền. Nhưng trong thực tế, bóng dáng người Pháp vẫn còn phủ kín khắp nơi nơi.
Quân đội quốc gia vẫn nằm trong hệ thống chỉ huy của Pháp. Ngay giữa Sài Gòn, lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn nắm cả bộ máy cảnh sát lẫn những sòng bạc, những nguồn lợi béo bở. Các giáo phái có quân đội riêng, cát cứ từng vùng.
Cùng lúc ấy, Thủ Tướng Diệm lại phải lo di chuyển gần 1 triệu đồng bào di cư từ miền Bắc vào miền Nam. Sau đó là gánh nặng định cư cho đoàn người này.
Về đối ngoại, Pháp muốn giữ ảnh hưởng, còn Mỹ muốn thay chân Pháp. Hai đồng minh cùng chống Cộng nhưng bất đồng về người lãnh đạo miền Nam.
Tướng Paul Ely, tổng tư lệnh quân đội Pháp, biết rõ thành tích chống thực dân của ông Diệm, nên đã cố thuyết phục Tướng J. Lawton Collins, đặc sứ của Tổng Thống Dwight Eisenhower tại Sài Gòn, để Mỹ để loại bỏ ông, viện cớ là ông không được người miền Nam ủng hộ, thiếu khả năng dung hòa và sẽ gây ra một cuộc nội chiến. Đáng ngại hơn, ông Collins ngày càng chia sẻ quan điểm của ông Ely.
Chỉ vài tháng sau khi nhậm chức, ông Diệm đã bị bao vây bốn bề: Quân phiệt trong nước chống đối, Pháp muốn hạ bệ, và ngay cả đại diện của Hoa Kỳ cũng bắt đầu vận động để ông ra đi.
Tháng Tư Đen 1955: Khi Washington quyết định “thay lãnh đạo”
Người Việt quốc gia vẫn gọi Tháng Tư, 1975 là “Tháng Tư Đen.” Nhưng ít ai nhớ rằng đúng 20 năm trước đó, Tháng Tư, 1955 cũng từng là một tháng tư đen tối, suýt nữa đã chôn vùi tương lai miền Nam. Chỉ khác ở kết cục: Lần ấy, miền Nam thoát hiểm.
Tại sao? Tháng Ba, 1955, các lực lượng đối lập liên kết thành Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia, đòi ông Diệm cải tổ chính phủ và chia sẻ quyền hành. Cuộc tranh chấp với Bình Xuyên về quyền kiểm soát cảnh sát ngày càng căng thẳng.
Ông Diệm cương quyết đòi lại quyền ấy cho chính phủ.
Cuối Tháng Ba, súng nổ ở Sài Gòn, Tướng Ély áp đặt lệnh ngừng bắn, nhưng khủng hoảng vẫn âm ỉ.
Ngày 9 Tháng Tư, 1955, Đặc Sứ Collins gửi về Washington DC một điện văn đề nghị kế hoạch nhằm thay thế ông Diệm: Giải quyết vấn đề cảnh sát, thuyết phục ông Diệm từ chức, chọn người thay thế, và thương lượng với các giáo phái. Ngày 19 Tháng Tư, ông Collins lại khẳng định không còn giải pháp nào khác ngoài việc thay thế ông Diệm.
Rồi ông Collins bay thẳng về Washington DC, trực tiếp vận động với Tổng Thống Eisenhower, Ngoại Trưởng John Foster Dulles cùng các giới chức quốc phòng và tình báo. Ông Dulles vốn có cảm tình với ông Diệm, nhưng ông Collins là người ông Eisenhower đặc biệt tin cậy, cho nên đã thành công.
Ngày 27 Tháng Tư, 1955, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ gửi đi một mật điện cho phép tiến hành thay thế Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.
Mật điện ngày 27 Tháng Tư, 1955
Xin trích bản dịch trong cuốn sách ‘Khi Đồng Minh Nhảy Vào’ (KĐMNV) của tác giả:
BỘ NGOẠI GIAO HOA KỲ – Ngày 27 Tháng Tư, 1955
“Tướng Collins và Tướng Ely phải thông báo cho Thủ Tướng Diệm biết rằng vì lý do ông không thành lập được một chính phủ liên hiệp có cơ sở rộng rãi và ông bị người Việt chống đối, chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ Pháp không còn đủ tư thế để ngăn ngừa việc ông phải từ chức. Những đức tính yêu nước của ông vẫn có giá trị tiềm năng lớn đối với Việt Nam, và chúng ta hy vọng rằng ông sẽ hợp tác với bất kỳ chính phủ mới nào được chỉ định…
“Chúng tôi tạm đề nghị một tân chính phủ như sau:
1-Nội các: Quyền hành pháp đầy đủ trao cho [Trần Văn] Đỗ hoặc [Phan Huy] Quát làm thủ tướng và phó thủ tướng…
2-Một Hội Đồng Tư Vấn khoảng từ 25 đến 35 đại diện các phe nhóm, gồm cả các giáo phái… và
3-Một Quốc Hội Lâm Thời: Một cơ chế gần như một Quốc Hội Lập Pháp, gồm những người đã trù liệu được bầu ra hay chỉ định theo lịch trình…”
Dulles
Washington đã vẽ sẵn cả thành phần lẫn cơ cấu của chính phủ kế nhiệm. Đó là một trong những nghịch lý lớn nhất của lịch sử Việt Nam Cộng Hòa: Chỉ sáu tháng trước ngày nền cộng hòa ra đời, chính đồng minh Hoa Kỳ đã sẵn sàng gạt bỏ người sẽ trở thành vị tổng thống đầu tiên của nó.
Những ngày đổi chiều lịch sử
Nhưng lịch sử không đi theo kịch bản của Washington.
Ngày 28 Tháng Tư, 1955, chiến sự bùng nổ dữ dội giữa quân đội Quốc gia và Bình Xuyên ngay giữa lòng thủ đô. Khói lửa trùm lên thành phố. Đó là một canh bạc sinh tử của ông Diệm: Chỉ cần quân đội trở cờ, hoặc Bình Xuyên thắng thế, chính phủ có thể sụp đổ trong vài ngày.
Nhưng quân đội đã đứng về phía chính phủ. Bình Xuyên bị đánh bật khỏi những vị trí then chốt. Cảnh sát và an ninh thủ đô trở về tay chính quyền trung ương.
Tin chiến thắng bay về Washington DC. Lập trường của Mỹ xoay chuyển chỉ trong một vài giờ. Ngoại Trưởng Dulles coi trận đánh là một phép thử: Ông Diệm có dám hành động không, và quân đội có trung thành với ông không? Bây giờ thì câu trả lời đã rõ. Washington đình chỉ kế hoạch thay thế ông Diệm.
Ngày 30 Tháng 4, 1955, có một tình tiết đáng nhớ xảy ra. Tướng Ely tìm gặp ông Randolph Kidder để bàn chuyện cùng nhau loại bỏ ông Diệm. Ông Kidder là người tạm thay mặt ông Collins (trong lúc ông đi Washington DC) để điều hành tòa đại sứ Mỹ.
Cái may cho ông Diệm là ông Kidder thẳng thừng từ chối: Hoa Kỳ sẽ không hợp tác với Pháp để lật đổ chính phủ ông Diệm. Như vậy, nếu như ông Collins không đi Washington DC thì ông Ely đã có thể thành công.
Sau cùng, Tháng Tư, 1955 đã khép lại theo một cách không ai có thể dự đoán. Từ một thủ tướng bị coi là sắp ngã ngựa, ông Diệm trở thành người nắm thế thượng phong tại miền Nam. Sử gia Joseph Buttinger nhận xét rằng trong suốt cuộc đấu tranh giành và giữ quyền lực, ông Diệm đã trải qua nhiều giai đoạn gian nan, nhưng khó có giai đoạn nào cay đắng và hiểm nghèo hơn Tháng Tư, 1955.
Nếu ông thất bại trong những ngày ấy, lịch sử miền Nam đã rẽ sang một ngả hoàn toàn khác.
Vĩnh biệt đoàn quân viễn chinh Pháp
Một trong những công lao lớn nhất của ông Diệm là chấm dứt sự hiện diện quân sự của Pháp tại miền Nam.
Hiệp Định Geneva chỉ quy định đình chiến và tập kết hai miền. Quân Liên Hiệp Pháp rút về phía Nam vĩ tuyến 17 và vẫn đóng ở đó với lực lượng đáng kể.
Với ông Diệm, độc lập thật sự không thể tồn tại khi quân đội quốc gia còn lệ thuộc vào bộ chỉ huy của một cựu cường quốc thực dân.
Chiến thắng Bình Xuyên đã trao cho ông thế mạnh để đòi hỏi. Ngày 20 Tháng Năm, 1955, quân đội Pháp rút khỏi khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn. Những tháng sau đó, lực lượng Pháp giảm nhanh. Đến ngày 28 Tháng Tư, 1956, những đơn vị Pháp cuối cùng hoàn tất việc rút khỏi miền Nam.
Sau gần một thế kỷ, tiếng giày đinh của quân đội viễn chinh không còn vang trên đất miền Nam.
Ngày 26 Tháng Mười, 1955: Nền cộng hòa khai sinh
Củng cố được quyền lực trung ương, ông Diệm tiến thêm một bước quyết định. Đó là thay đổi thể chế quốc gia.
Ngày 23 Tháng Mười, 1955, cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức để chọn giữa Quốc Trưởng Bảo Đại và Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Kết quả công bố cho thấy ông Diệm thắng áp đảo. Cách tổ chức và kiểm phiếu của cuộc trưng cầu này về sau vẫn còn bị giới nghiên cứu tranh luận, nhưng về mặt lịch sử thể chế, nó đã khép lại chế độ quốc gia Việt Nam của ông Bảo Đại.
Ngày 26 Tháng Mười, 1955, ông Diệm tuyên bố thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa và trở thành vị tổng thống đầu tiên.
Ngày 4 Tháng Ba, 1956, cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến được tổ chức. Ngày 26 Tháng Mười, 1956, đúng một năm sau ngày khai sinh nền cộng hòa, Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa được ban hành, thiết lập ba ngành hành pháp, lập pháp, và tư pháp.
Dựng nên một chính quyền trung ương, một quốc hội, một bản hiến pháp, và một nền hành chính, giữa một đất nước vừa qua chiến tranh, chia cắt và nội loạn, là một công trình vô cùng gian khổ. Chính những nền móng ấy đã giúp Việt Nam Cộng Hòa đứng vững trong hai thập niên kế tiếp.
Từ bị nghi ngờ đến được đón tiếp như một anh hùng
Chỉ hai năm sau cơn khủng hoảng Tháng Tư, vị thế của ông Diệm đổi khác hoàn toàn.
Trưa ngày 8 Tháng Năm, 1957, chiếc Columbine III, chuyên cơ của tổng thống Hoa Kỳ, đáp xuống phi trường National ở Washington DC (nay là phi trường Ronald Reagan Washington National Airport Reagan). Đứng đón ở chân cầu thang là chính Tổng Thống Dwight Eisenhower, bên cạnh Ngoại Trưởng Dulles và Tướng Nathan Twining (tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ). Đây là lần thứ hai trong suốt nhiệm kỳ, ông Eisenhower đích thân ra phi trường đón một nguyên thủ ngoại quốc.
Trong lời chào mừng, ông Eisenhower ca ngợi ông Diệm là hiện thân của lòng ái quốc ở mức cao nhất, đã mang đến cho công cuộc dựng nước lòng can đảm lớn lao và tài kinh bang tế thế. Hai mươi mốt phát đại bác vang lên. Hơn 50,000 người đứng dọc đường đón đoàn xe.
Hôm sau, ngày 9 Tháng Năm, ông Diệm đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ. Ông nói về khát vọng độc lập, tự do của nhân dân miền Nam, so sánh cuộc di cư của gần 1 triệu đồng bào miền Bắc với hành trình tìm tự do của những người Mỹ hành hương trên con tàu Mayflower. Các nhà lập pháp đứng dậy vỗ tay không dứt.
Phản ứng tại Quốc Hội Mỹ hết sức thuận lợi. Các thượng nghị sĩ, dân biểu thay nhau khen ngợi. Thượng Nghị Sĩ Jacob Javits (Cộng Hòa-New York) tuyên bố: “Ông là một trong những anh hùng của thế giới tự do.” Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield (Dân Chủ-Montana) ca ngợi ông Diệm là con người có quyết tâm, can đảm, trong sạch, và chính trực, “một người đã chứng tỏ khả năng rất cao trước những khó khăn thật là to lớn.”
Nhưng cao điểm của chuyến đi là New York. Ngày 13 Tháng Năm, 1957, thành phố này tổ chức cuộc diễn hành rải giấy (ticker-tape parade) chào đón ông Diệm, từ khu Battery dọc đại lộ Broadway đến tòa thị chính. Khoảng 250,000 người đổ ra đường. Từ những cao ốc hai bên, hàng triệu mảnh giấy trắng tung bay như tuyết rơi giữa Tháng Năm.
Tại tòa thị chính, Thị Trưởng Robert F. Wagner gọi miền Nam Việt Nam là một “phép lạ chính trị,” và nói rằng thành công này thuộc về Tổng Thống Ngô Đình Diệm, người mà lịch sử có thể sẽ xếp vào hàng những nhân vật vĩ đại của thế kỷ 20. Ông Diệm được trao Huy Chương Danh Dự của thành phố.
Ba năm sau, năm 1960, ông Eisenhower lại viết thư cho ông Diệm:
“Chúng tôi đã chứng kiến sự can đảm và táo bạo mà ngài và nhân dân Việt Nam đã biểu dương để đạt tới độc lập trong một tình huống nguy hiểm đến mức nhiều người đã coi như là vô vọng.
Chúng tôi còn ngưỡng mộ khi tình trạng hỗn loạn ở miền Nam đã nhường chỗ cho trật tự, và tiến bộ đã thay thế cho tuyệt vọng, tất cả với một tốc độ thật nhanh chóng.”
Những lời ấy đến từ chính vị tổng thống mà năm năm trước, chính quyền của ông đã soạn sẵn một mật điện để thay thế ông Diệm (như đề cập trên).
Thành tựu và một kết thúc bi thương
Công lao của ông Diệm không dừng lại ở năm 1955. Chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa đã định cư gần 1 triệu đồng bào di cư, cấp đất, tạo công ăn việc làm. Trường học mọc lên khắp nơi. Nền hành chính được thống nhất từ trung ương đến xã ấp. Cải cách điền địa, phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ được xúc tiến. Miền Nam có được “Năm Vàng Son 1955-1960: Vừa Phát Triển Vừa Hòa Bình” (sách Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 13).
Dĩ nhiên, chính phủ Diệm cũng có những giới hạn và sai sót. Một tài liệu đầy tranh cãi gọi là “Tuyên Ngôn Caravelle Tháng Tư, 1960” của một nhóm thân hào, nhân sĩ đã nêu lên một số khuyết điểm như quyền lực tập trung vào một nhóm nhỏ, tình trạng tham nhũng, sinh hoạt đối lập bị thu hẹp (KĐMNV, Chương 14). Thêm vào đó là những mưu toan của nhóm chống ông Diệm tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ do ông Roger Hilsman lãnh đạo. Lý do là vì ông Diệm, tuy rất cần viện trợ của Hoa Kỳ, không bao giờ cúi đầu trước mọi đòi hỏi của đồng minh, một phẩm chất làm nên sự nghiệp của ông, nhưng cũng là mầm mống của việc Mỹ nhúng tay vào việc lật đổ ông.
Ngày 1 Tháng Mười Một, 1963, cuộc đảo chính xảy ra. Hôm sau, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị sát hại.
Một kết thúc bi thảm cho người đã dựng nên nền cộng hòa.
“Magnificat anima mea Dominum”
Mỗi năm, khi ngày 26 Tháng Mười đến, tôi lại nhớ đến buổi sáng năm xưa dưới mái vòm nhà thờ Đức Bà. Chúng tôi, những chàng trai vừa từ Bắc vào Nam, đã hát bằng tất cả niềm tin và hy vọng. Khi ấy, chúng tôi chưa hiểu hết những gian truân mà vị thủ tướng trầm lặng kia đang gánh chịu.
Bây giờ, sau hơn 70 năm nhìn lại, tôi càng nhận thức rõ hơn rằng sự ra đời của Việt Nam Cộng Hòa không phải là một kết quả tất nhiên của lịch sử. Đó là thành quả của những cuộc đấu tranh chính trị, ngoại giao, và quân sự vô cùng gay go, trong đó ông Diệm đóng một vai trò quyết định. Ông không chỉ là người luôn được Mỹ ủng hộ. Ngược lại, trong những ngày hiểm nghèo nhất vào Tháng Tư, 1955, chính Washington đã chuẩn bị thay thế ông.
Bởi vậy, khi đánh giá một nhân vật lịch sử, những sai lầm trong quá trình cầm quyền không thể xóa đi công lao của người đã khai quốc.
Ông Diệm không chỉ là người đã cứu được miền Nam trên bờ vực thẳm năm 1954, ông còn là người cương quyết chấm dứt sự lệ thuộc vào Pháp, và đẩy toàn bộ quân đội Pháp ra khỏi Việt Nam năm 1956.
Lịch sử có thể tiếp tục tranh luận về những thành công và sai lầm của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Nhưng khi nhớ đến ngày Quốc Khánh 26 Tháng Mười, chúng ta không thể quên công lao của người đã đặt nền móng cho nền cộng hòa Việt Nam. [đ.d.]