The future perfect tense


Bản ghi chép do Lãm Thúy thực hiện. Bài học được phát trên Hồn Việt Television.


QUỲNH ANH: Ðây là chương trình Anh Ngữ Trong Ðời Sống Hàng Ngày do Bùi Bảo Trúc, Lãm Thúy và Quỳnh Anh phụ trách. Chương trình đến với quí vị hàng tuần để ôn lại một số điều liên quan đến Anh ngữ mà quí vị gặp trong đời sống. Quí vị có thắc mắc xin lien lạc với Hồn Việt TV nhờ chuyển lại.

LÃM THÚY
: Thưa anh, trong tiếng Anh, các thì Present, Past và Future Perfect, theo Thúy, là những thì (tenses) gây phiền nhiễu nhiều nhất cho những người mà tiếng Anh không phải là ngôn ngữ chính của họ.

Thí dụ thì Present Perfect có thể được dùng cho những việc đã hoàn tất, đã xong, đã chấm dứt rồi, nhưng nó cũng lại được dùng cho cả những việc chưa xong cũng được luôn. Thì Past Perfect thì được dùng cho những việc xảy ra trước những việc đã hoàn tất (finished in the past) trong quá khứ. Và thì FUTURE PERFECT thì được dùng cho những việc sẽ trở thành quá khứ, sẽ hoàn tất trước một việc nào đó trong tương lai. Rắc rối ơi là rắc rối. Tại sao tiếng Anh không giản dị như tiếng Việt của chúng ta?

BÙI BẢO TRÚC: Ðồng ý là các thì Perfect có làm cho cô khó chịu và chúng cũng có rắc rối thật, nhưng cô sẽ thấy là với những thì này, tiếng Anh chính xác hơn tiếng Việt nhiều.

QUỲNH ANH: Thưa anh, trong tiếng Việt chúng ta có thì Future Perfect không?

BBT
: Có chứ. Chúng ta chỉ không gọi nó là Future Perfect mà thôi. Chắc hai cô đã nghe câu ca dao này:


Khi đi em chửa có chồng
Khi về em đã tay bồng tay mang


Ðó chính là Future Perfect vậy. Người đàn ông từ biệt người phụ nữ khi cô còn rất trẻ, chưa chồng con, chưa có gia đình, nhưng khi chàng trở về sau chuyến đi thì nàng đã trở thành một phụ nữ có chồng có con rồi. Nhưng (hôm nay) thì chàng đã trở về chưa cô Thúy?

LÃM THÚY: Chưa vì khi chàng nói câu ấy thì hai người chỉ mới từ biệt nhau. Lúc ấy nàng còn trẻ, nhưng chàng tin rằng chuyến đi sẽ kéo dài và phải năm bảy năm sau chàng mới trở lại, và khi trở lại thì nàng đã tay bồng tay mang, con cái đầy đàn rồi.

QUỲNH ANH: Như vậy chuyện chàng trở về chưa xảy ra. Chuyện trở về là chuyện trong tương lai. Nhưng khi chàng trở về thì người con gái đã thành gia thất, đã chồng con rồi, ván đã đóng thuyền, mộc dĩ thành châu, gạo đã thành cơm rồi. Chuyện đó sẽ trở thành quá khứ trong tương lai, trước việc chàng trở về, việc cô có chồng con chưa xảy ra.

BBT: Như vậy hai cô đã hiểu rõ cách dùng của Future Perfect, có còn thấy khó hiểu nữa không? Chúng ta sẽ nói cô ấy sẽ là mẹ của mấy đứa bé như thế này: SHE WILL BE A MOTHER OF 2 (KIDS).

LÃM THÚY: Như vậy, Future Perfect bao giờ cũng đi chung với SIMPLE FUTURE phải không thưa anh?

BBT: Gần đúng như thế, nên tôi phải nói ngay ở đây là chúng ta KHÔNG dùng WILL hay SHALL tức là SIMPLE FUTURE với những TIME CLAUSES bắt đầu bằng những chữ WHEN là khi; WHILE là trong lúc; BEFORE là trước; AFER là sau; BY THE TIME là vào lúc; AS SOON AS là ngay khi; IF là nếu và UNLESS là ngoại trừ khi. Những chữ này văn phạm tiếng Anh gọi là TIME CONJUNCTIONS, những liên từ chỉ thời gian. Sau những TIME CONJUNCTIONS này chúng ta dùng SIMPLE PRESENT TENSE mặc dù ý nghĩa thì vẫn là những chuyện sẽ xảy ra trong tương lai.

Thí dụ WHEN I GET HOME TONIGHT là khi tôi về nhà tối nay mà KHÔNG bao giờ nói WHEN I WILL GET HOME TONIGHT… Cô Quỳnh Anh cho nghe vài thí dụ của TIME CLAUSES với các TIME CONJUNCTIONS như AFTER, BEFORE và UNTIL coi.

QUỲNH ANH: AFTER SHE GRADUATES IN 2015… sau khi cô ấy tốt nghiệp năm 2015 …BEFORE MY SON GOES TO BERKELEY… trước khi con trai tôi đi học ở Berkeley…

UNTIL WE SAVE ENOUGH MONEY … cho tới khi chúng tôi để dành được đủ tiền…

BBT: Cám ơn cô. Còn Lãm Thúy… đặt thử mấy câu với AS SOON AS, WHILE, SHEN coi.

LÃM THÚY: AS SOON AS HE COMES HERE NEXT WEEK… ngay khi ông ấy tới đây tuần tới. WHILE HE IS IN CANADA AT THE END OF THE YEAR… khi anh ấy ở Canada vào cuối năm tới… WHEN THE SWALLOWS COME BACK TO CAPISTRANO… khi những con én trở lại Capistrano.

BBT: Bây giờ chúng ta trở lại với FUTURE PERFECT. Thì FUTURE PERFECT cũng như hai thì PRESENT PERFECT và PAST PERFECT được thành lập bởi động từ TO HAVE và PAST PARTICIPLE của động từ chính.

QUỲNH ANH: Nếu là PRESENT PERFECT thì chúng ta dùng TO HAVE trong thì hiện tại. Thí dụ WE HAVE LIVED AND WORKED IN CALIFORNIA SINCE 1990 chúng tôi đã sống và làm việc tại California từ năm 1990.

LÃM THÚY: Và nếu là PAST PERFECT thì chúng ta dùng PAST của TO HAVE. Thí dụ HE HAD LEFT AN HOUR AGO là ông ấy đã lên đường cách đây một tiếng phải không thưa anh?

BBT: Ðúng rồi, và với thì FUTURE PERFECT, chúng ta dùng WILL/ SHALL HAVE +PAST PARTICIPLE.

Quỳnh Anh nói thử câu khi ông ấy trở về thì cô ấy đã là mẹ của 2 đứa con bằng tiếng Anh coi.

QUỲNH ANH: WHEN HE RETURNS, SHE WILL HAVE BECOME A MOTHER OF 2 (KIDS)

BBT: Trong Chinh Phụ Ngâm hai câu này cũng là FUTURE PERFECT:


Phận trai già cõi chiến trường
chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về


OLD WARRIOR SIÊU WILL NOT COME HOME UNTIL HIS HAIR WILL HAVE TURNED WHITE… Bây giờ mỗi cô cho nghe hai câu với Future Perfect coi.

LÃM THÚY: I WILL HAVE COOKED DINNER BEFORE MY KIDS COME HOME là tôi sẽ nấu xong bữa chiều trước khi các con tôi về tới nhà.

HE WILL HAVE BEEN 18 NEXT MARCH là nó sẽ được 18 tuổi vào tháng 3 sang năm.

QUỲNH ANH: WE WILL HAVE LIVED IN THIS HOUSE FOR 5 YEARS IN JANUARY là chúng tôi sẽ sống trong căn nhà này được 5 năm vào tháng 2.
MY NIECE WILL HAVE GRADUATED WHEN SHE IS 23 là cháu tôi sẽ tốt nghiệp khi nó 23 tuổi.

BBT: Làm sao chúng ta đổi những câu trên sang thể phủ định tức là NEGATIVE?

LÃM THÚY
: Thì chúng ta thêm NOT vào sau WILL và SHALL để thành I WILL NOT HAVE COOKED DINNER và HE WILL NOT HAVE BEEN 18 phải không Quỳnh Anh.

QUỲNH ANH: Ðúng rồi. Hai thí dụ của Quỳnh Anh sẽ là WE WILL NOT HAVE LIVED IN THIS HOUSE và MY NIECE WILL NOT HAVE GRADUATED…

BBT: Và thể hỏi của các câu vừa kể thì chỉ cần đưa WILL và SHALL lên trước chủ từ là xong. WILL WE HAVE LIVED? Và WILL SHE HAVE GRADUATED? Dễ quá.

QUỲNH ANH: Thưa anh, người Anh và người Mỹ có hay ví von như người Việt không? Họ có ví von giống chúng ta không?

BBT: Câu trả lời là “CÓ” cho cả hai thắc mắc của cô. Người Anh và người Mỹ rất hay ví von và có những trường hợp họ ví von rất giống những câu ví von của chúng ta. AS CLEAR AS CRYSTAL là trong như pha lê chẳng hạn. Hay AS LIGHT AS A FEATHER là nhẹ như lông hồng.

Cách ví von như thế tiếng Anh gọi là SIMILES. Bao giờ cũng với hai chữ AS ở trước và sau tiếng ADJECTIVES (tĩnh từ) mà chúng ta dùng để so sánh, ví von.

Tuy nhiên cũng có những cách ví von nghe rất lạ vì chúng ta không ví von như thế bao giờ. Cái lạ đó là do sự khác nhau giữa các nền văn hóa. Thí dụ ngươi Việt nói “gắt như mắm tôm” trong khi người Anh và người Mỹ thì không có lối ví von như thế vì họ không có món mắm tôm. Người Việt nói “đôi mắt em sắc như là dao cau” nhưng người Mỹ không ăn trầu thì họ làm sao biết con dao cau như thế nào.

Tiếng Anh sẽ nói AS SHARP AS A RAZOR là sắc như dao cạo. Bây giờ tôi sẽ đưa ra mấy câu ví von và hai cô giảng nghĩa cho tôi nhé. Tôi sẽ dùng những cách ví von rất gần với chúng ta và những câu ví nghe rất lạ với người Việt: AS QUICK AS A WINK là gì đây cô Thúy?

LÃM THÚY: Nhanh như chớp. Nhưng đây là chớp mắt chứ không phải là sấm chớp. Sấm chớp là LIGHTNING.

BBT
: AS SLOW AS A SNAIL.

QUỲNH ANH
: Chậm như sên.

BBT
: AS SOLID AS A ROCK.

LÃM THÚY
: Cứng như đá. Thực ra, SOLID là đặc mới đúng.

BBT
: AS STRONG AS AN OX.

QUỲNH ANH: Khỏe như trâu. OX thực ra là con bò. Vậy phải nói “khỏe re như con bò kéo xe” mới thực ra đúng.

BBT: AS TIMID AS A RABBIT.

LÃM THÚY: Nhát như thỏ đế. Thực ra, TIMID là e thẹn, hay mắc cỡ thì đúng hơn.

BBT: AS WHITE AS SNOW.

QUỲNH ANH: Trắng như tuyết.

BBT: AS ALIKE AS TWO PEAS IN A POD.

LÃM THÚY: Giống nhau như hai giọt nước . Thực ra là giống nhau như hai hột đậu trong trái đậu.

BBT: AS BLACK AS COAL.

QUỲNH ANH:
Ðen như than.

BBT
: AS COLD AS ICE.

LÃM THÚY
: Lạnh như nước đá.

BBT
: Một chục câu so sánh ví von coi như là đủ vì chúng ta không thể kể hết ra ở đây trong bài học này. Trong một bài tới hai cô nhắc tôi trở lại với những cách so sánh khác.

QUỲNH ANH:
Thưa anh, anh vừa nói là “nhắc” anh thì tiếng Anh có nói là MAKE ME REMEMBER không?

BBT
: Nói như vậy thì người ta hiểu đấy. Nhưng người Anh có một động từ khác để diễn tả ý tưởng ấy, đó là TO REMIND. Ðộng từ TO REMIND là nhắc cho người ta nhớ một chuyện gì, làm một việc gì đó, một người nào , hay nhắc để người nghe làm một điều gì đó.

Nhắc để người ta làm một việc gì thì chúng ta nói TO REMIND SOMEBODY TO DO SOMETHING. Thí dụ PLEASE REMIND ME TO RETURN THE BOOK TO THE LIBRARY là nhắc tôi đem sách trả thư viện. Quỳnh Anh cho nghe hai thí dụ với TO REMIND coi.

QUỲNH ANH: I ALWAYS HAVE TO REMIND MY SON TO CHANGE THE OIL FOR THE CAR là bao giờ tôi cũng phải nhắc con trai tôi thay nhớt máy xe.

MY MOTHER REMINDED ME TO BUY HER SOME TIGER BALM OINTMENT FOR HER ARTHRITIS là mẹ tôi nhắc tôi mua dầu con cọp cho bệnh thấp khớp của cụ.

BBT: Mời cô Thúy…

LÃM THÚY: MY DAUGHTER REMINDED ME TO GET SOME MILK là con gái Thúy nhắc Thúy mua sữa.

BBT: Ðộng từ TO REMIND cũng có thể dùng với một danh từ như trong trường hợp nói cô ấy làm tôi nhớ đến chị tôi: SHE REMINDS ME OF MY SISTER.

Quỳnh Anh nói thử câu này: Cuốn phim làm tôi nhớ lại những ngày còn đi học ở trung học.

QUỲNH ANH: THE FILM REMINDED ME OF MY SCHOOL DAYS.

BBT:
Còn Thúy nói “Chiếc xe làm tôi nhớ tới những ngày còn ở Sài Gòn” bằng tiếng Anh coi.

LÃM THÚY: THE OLD CAR REMINDS ME OF THE DAYS IN SAIGON MANY YEARS AGO.

BBT: Ðộng từ TO REMEMBER thì khác. TO REMEMBER là nhớ, tự mình nhớ lại, lục lọi trí nhớ, gợi lại hoài niệm mà không cần phải được ai nhắc. I REMEMBER HIS FACE. I REMEMBER SEEING HIM SOMEWHERE BEFORE là tôi nhớ mặt ông ấy vì tôi đã gặp ông ấy trước đây ở đâu rồi. TO REMEMBER là nhớ một điều gì hay nhớ làm một chuyện gì đó. Cô Thúy nói tôi không thể nhớ nổi cái tên của ông ta. Tôi luôn luôn nhớ số điện thoại của các bạn của tôi.

LÃM THÚY: I CANNOT REMEMBER HIS NAME. I ALWAYS REMEMBER ALL MY FRIENDS’ TELEPHONE NUMBERS.

BBT: Với động từ TO REMIND, chúng ta có danh từ REMINDER là một vật, một cái gì làm cho chúng ta nhớ lại một điều gì , một chuyện nào đó. Thí dụ A SCAR IN HIS FACE IS A REMINDER OF THE WAR là vết sẹo trên mặt ông ấy là nhắc nhở của cuộc chiến. A DRIED FLOWER IS A REMINDER OF HIS FIRST LOVE bông hoa khô là nhắc nhở mối tình đầu.

QUỲNH ANH: Như vậy, A REMINDER có phải là một kỷ niệm không thưa anh?

BBT: Không. Kỷ niệm là MEMORY. Thí dụ I HAVE MANY BEAUTIFUL MEMORIES OF SAIGON nghĩa là tôi có nhiều kỷ niệm đẹp về Sài Gòn. Còn IN MEMORY (OF) thì lại là để tưởng niệm, để nhớ lại như IN MEMORY OF A SCENT…

LÃM THÚY: Thưa anh, đó có phải là tên một cuốn tiểu thuyết của Mai Thảo không?

QUỲNH ANH: Quỳnh Anh đọc cuốn đó rồi: ÐỂ TƯỞNG NHỚ MỘT MÙI HƯƠNG…

Thưa quí vị, chương trình Anh Ngữ Trong Ðời Sống Hàng Ngày của Hồn Việt Television đến đây xin tạm chấm dứt. Chương trình sẽ trở lại trên màn ảnh Hồn Việt Television trong bài học tới. Bùi Bảo Trúc, Lãm Thúy và Quỳnh Anh xin kính chào quí vị.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT