Lê Tâm
(theo Washington Post)
Vào mỗi mùa Thu, có gần 70% các học sinh tốt nghiệp trung học ở Mỹ bước vào cổng trường đại học. Đối với nhiều bậc cha mẹ, đây là điều đánh dấu việc “hoàn thành nhiệm vụ” của họ và trông đợi rằng vài năm sau con của mình sẽ lại nhận được một mảnh bằng khác ở buổi lễ tốt nghiệp cử nhân.
Những người này đã từng phải lo lắng rất nhiều trong thời gian chuẩn bị vài năm trước đó, từ việc cho con học tập để có điểm số cao trong kỳ thi khảo sát đại học, giúp tìm kiếm các trường ưng ý, nộp đơn xin học và tính toán vấn đề tài chánh chi trả cho việc học của con mình sau khi đã được nhận vào trường.
Nói chung, các bậc cha mẹ thường có sự trông đợi rằng nếu con của mình tốt nghiệp trung học và vào đại học, chúng sẽ đương nhiên tốt nghiệp sau đó.
Nhưng thực tế nhiều khi không phải vậy.
Theo kết quả hai cuộc nghiên cứu được đưa ra trong tháng này, về những sinh viên hoàn tất đại học và những chỉ dấu báo động về các sinh viên dễ gặp rủi ro bỏ học giữa chừng, cho thấy hình ảnh của một tương lai hoàn toàn khác với những gì mà phần lớn bậc phụ huynh nghĩ ra cho con mình.
Kết quả cuộc nghiên cứu đầu tiên được công bố tuần qua đã xem xét mức tốt nghiệp của các sinh viên bắt đầu vào đại học niên khóa 2010. Vì mức độ tốt nghiệp nêu lên trong bản báo cáo này tùy thuộc vào các yếu tố khác nhau, như nơi học và đời sống cá nhân của họ, các tác giả nghiên cứu đã nhắm vào thành phần sinh viên gọi là tiêu biểu, tức là những người tốt nghiệp trung học năm 2010 và vào thẳng đại học mùa Thu kế đó.
Trong thành phần sinh viên này, có 60% hoàn tất đại học sau sáu năm, theo kết quả nghiên cứu của trung tâm National Student Clearinghouse Research Center. Thế còn những sinh viên khác thì như thế nào?
Cuộc nghiên cứu cho thấy có 26% bỏ học và 14% vẫn còn ghi danh theo học sau sáu năm ở trường.
Các con số thu thập được cũng cho thấy một số điều thú vị.
Nữ sinh viên thường có khả năng tốt nghiệp cao hơn nam sinh viên. Có tới 65% nữ sinh viên tốt nghiệp sau 6 năm học, so với 56% nam sinh viên.
Và nơi họ theo học cũng tạo sự khác biệt lớn. Trong số các sinh viên theo học các đại học tư năm 2010, có khoảng 74% tốt nghiệp trong vòng sáu năm, so với 62% những người vào các đại học công. Và một điều khác cũng rất đáng để ý, đó là hãy dành hoàn toàn thời gian cho việc học nếu có thể được. Những sinh viên đi học toàn thời gian có mức tốt nghiệp cao gấp hai lần so với các sinh viên không có hoàn cảnh để làm điều này.
Kết quả cuộc nghiên cứu thứ nhì, dự trù sẽ được công bố nay mai, dựa trên những dữ kiện thu thập từ khoảng 4 triệu sinh viên ở 68 trường đại học vốn là thân chủ của công ty Civitas Learning.
Công ty này, có trụ sở đặt tại Austin, tiểu bang Texas, ở trong số các công ty kỹ thuật giáo dục giúp các trường đại học thu thập dữ kiện từ sinh viên để có thể tiên đoán những sinh viên nào sẽ gặp khó khăn với lớp nào hoặc ngành học nào.
Các phương cách ước tính này cũng dựa trên thuật toán (algorithm) được dùng để đoán xem một cá nhân sẽ thích nghe nhạc nào trên Spotify hay phim nào trên Netflix, căn cứ theo những gì cá nhân từng mua trước đó. Những gì Civitas đưa ra đã bác bỏ nhiều sự suy đoán đã có từ lâu nay về ai sẽ thành công ở đại học và ai sẽ phải bỏ học nửa chừng. Thí dụ như: các sinh viên có điểm học bạ thấp nhất lại thường không phải là những người đầu tiên nghỉ học. Hầu như tất cả các trường đại học trong cuộc nghiên cứu của Civitas, vốn gồm gần 20 trường có sự chọn lựa gắt gao và 16 đại học nghiên cứu (research university) thấy rằng có nhiều sinh viên với điểm trung bình trên 2.0 bỏ học hơn là những người dưới mức điểm này. Đáng ngạc nhiên là có chừng 44% các sinh viên nghỉ học đã có điểm trung bình từ 3.0 đến 4.0.
Cuộc nghiên cứu thấy rằng phần lớn các đại học thường tập trung nỗ lực giữ chân các sinh viên năm đầu có điểm số trung bình thấp. Thế nhưng, trong số các sinh viên hoàn tất năm đầu đại học, có rất ít sinh viên với điểm trung bình thấp nghỉ học sau đó. Bản báo cáo cho rằng “Nói chung, các nỗ lực của chúng ta đã nhắm sai thành phần.”
Kết quả nghiên cứu của Civitas cũng cho thấy sự sai lầm của các bậc cha mẹ khi nghĩ rằng nếu con của họ vào những đại học có sự tuyển chọn khắt khe và học giỏi thì sẽ chắc chắn tốt nghiệp, cũng như sự tin tưởng của các giáo sư tư vấn trung học rằng điểm thi khảo sát đại học (như SAT) là cách tốt nhất để đo lường khả năng thành đạt ở bậc đại học.
Các dữ kiện có được cho thấy điểm số trung bình này không chỉ là dấu hiệu duy nhất về khả năng học sinh sẽ gặp khó khăn ở bậc đại học.
Trong số các trường có điều kiện thu nhận khắt khe, thành phần đông đảo rời trường nhất lại là những sinh viên có điểm trung bình hơn 3.0, chiếm khoảng 40% trong số những người bỏ học. Nói cách khác, điểm số mà các sinh viên thường có quyết định rời trường hay tiếp tục theo học là 2.5 cho sinh viên năm đầu và 2.7 cho sinh viên năm thứ nhì, cao hơn nhiều so với mức 2.0 mà các trường thường đặt ra từ trước tới nay.
Ngoài ra, đối với nhiều học sinh trung học và cha mẹ của học sinh cùng là các nhà tư vấn, việc được nhận vào đại học là kết quả của những cố gắng chi tiết, tỉ mỉ được hoạch định trước đó, và ngày được thông báo được nhận theo học là đánh dấu sự hoàn thành nỗ lực.
Nhưng đáng tiếc là ít người chịu nghĩ xa hơn nữa: những học sinh này cần phải làm gì một khi họ bước vào cổng trường đại học. Rất nhiều sinh viên có thái độ thụ động, ngồi chờ đợi giáo sư đến giảng bài trên bục mà không biết rằng họ phải có sự tham gia tích cực vào đời sống giảng đường, qua trao đổi với các sinh viên khác hay tạo mối quan hệ với giáo sư vốn có thể trở thành người hướng dẫn, đỡ đầu tốt.
Cuộc nghiên cứu nói rằng, nếu sinh viên coi học đại học cũng như ngồi xem một cuộc tranh tài thể thao nào đó mà không thật sự tham dự hết sức mình thì thường khi cuộc chơi sẽ sớm chấm dứt cho họ.

















































































