Liên Đoàn Hướng Đạo Hùng Vương tổ chức trại huấn luyện trưởng tại El Dorado Regional Park – Cuối tuần 1-2 Tháng Sáu, 2019
Trong kỳ trại này các trưởng hướng đạo học hỏi/ôn lại những kỹ năng cần thiết của một trưởng hướng đạo, từ cách tổ chức, sắp xếp một kỳ trại cho đến cách bày trò chơi, ca hát, lửa trại. Ngoài ra các trưởng còn được học cả một số kỹ năng chuyên môn, như nấu ăn không cần nồi niêu, cách định phương hướng khi đi lạc giữa rừng, cách dựng một chiếc cầu chỉ với gậy và dây…
Đây là một trong những trại định kỳ nhằm giúp các trưởng vui chơi và thăng tiến.








Tâm tình Thầy Cô
Giữ gìn và phát huy tiếng Việt truyền thống
GS Trần C. Trí
(University of California, Irvine)
Qua mục này, GS Trần C. Trí (University of California, Irvine) tâm tình cùng độc giả, những người nặng lòng với ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, về những vấn đề đang ảnh hưởng đến sự phát triển tự nhiên và trong sáng của tiếng Việt, trong cũng như ngoài nước. Ngôn ngữ truyền thống không phải lúc nào cũng khư khư giữ cái cũ, đả phá cái mới, mà là ngôn ngữ giữ gìn vẻ đẹp từ bao đời ông cha truyền lại, đồng thời tiếp nhận những cái mới một cách có chọn lọc và chừng mực.
Chữ cũ, chữ mới
Từ ngàn năm nay, trong tiếng Việt truyền thống vẫn có sự hiện diện của một kho từ vựng khá lớn của những chữ gọi là “tiếng Hán-Việt,” nói rõ hơn là những từ ngữ gốc Hán đã được biến đổi cách phát âm, chính tả (từ văn tự Trung Hoa sang mẫu tự La-tinh), ngay cả những thay đổi về ý nghĩa. Dù gì đi nữa, những từ ngữ loại này cũng đã trở thành “tiếng Việt” và xứng đáng được gọi là “chữ Việt gốc Hán” (khi cần phân biệt với tiếng Việt thuần túy). Bằng không, chúng ta chỉ cần gọi chúng là “chữ Việt” là hay hơn cả. Để nói về việc một người hoàn tất một trình độ học vấn, chúng ta có thể dùng chữ “tốt nghiệp” hay “ra trường” mà không nhất thiết phải phân biệt chữ nào là từ gốc Hán hay gốc Việt mà ra, trừ khi đó là việc của những người nghiên cứu ngôn ngữ.
Tuy nhiên, do những yếu tố lịch sử, xã hội và chính trị của Việt Nam trong từ cận đại đến tận ngày nay, chúng ta thấy có sự xuất hiện của nhiều từ ngữ “mới” và “lạ” du nhập từ tiếng Tàu do sự giao lưu giữa người Việt và Trung Hoa lục địa (Trung Cộng). Đây là một trong những dấu hiệu đáng ngại của một cuộc xâm lăng mới từ phương Bắc, bên cạnh những cuộc xâm lăng khác về kinh tế, quân sự và chính trị của họ đang diễn ra hằng ngày trong nước. Những từ ngữ mới đó vừa khiến cho tiếng Việt trở nên lai căng, vừa có thể gây hiểu lầm khi sử dụng song song với những từ ngữ truyền thống.
Để lấy ví dụ, ngày nay rất nhiều người sinh sống ở hải ngoại đang dùng chữ “tham quan” rất phổ biến trong nước để nói, thay vì dùng những chữ giản dị từ bao đời nay là “ngoạn cảnh” hay “thăm viếng.” Động từ “tham quan” đã “đụng độ” một danh từ khác (cũng có gốc Hán) để chỉ về những vị quan tham ô. Chữ Việt là chữ “ghi âm,” có nghĩa là những chữ đồng âm khác nghĩa đều viết ra một kiểu, chứ không như trong tiếng Hán, mỗi từ ngữ đồng âm với từ ngữ khác có văn tự khác nhau tùy theo nghĩa. “Tham quan” với ý nghĩa “thăm viếng” được viết là 探観 (“thăm” và “xem”), còn “tham quan” với ý nghĩa là “vị quan tham ô” viết là 貪官. Vào đến tiếng Việt, hai chữ này chỉ còn một cách phát âm và một cách viết duy nhất. Cũng không thể nói rằng danh từ “tham quan” hiện nay không còn phổ biến nữa, vì không biết tự bao giờ, trong cái xã hội Cộng Sản lúc nào cũng tự hào là đã đánh đổ thực dân và phong kiến, nay thì đầy rẫy những “quan” này “quan” nọ trong guồng máy chính quyền. Đến nổi danh từ “quan chức” bây giờ đã nghiễm nhiên nằm trên cửa miệng của người dân hay nhan nhản trên báo chí.
Mặt khác, thay vì chỉ cần nói “Tôi muốn ghi tên hay ghi danh,” ta lại nghe nhiều người một mực đòi “đăng ký.” Trong một xã hội nhiễu nhương, loạn lạc, quả thật chữ nghĩa cũng khó mà kiểm soát nổi. “Đăng ký,” chữ Hán viết là 登 記, trong đó chữ “ký” (記) có nghĩa là “sổ sách.” Như vậy, nói “Tôi muốn đăng ký” có nghĩa là “Tôi muốn ‘ghi sổ’”! Ghi cái gì thì có trời mới biết. Vả lại, trong tiếng Việt truyền thống, chúng ta đã có chữ “đăng bạ” (登 簿) cũng có nghĩa là “ghi sổ,” thường dùng để ghi vào sổ sách công những tài sản cá nhân như xe cộ hay nhà đất.
Khi có ai đang buồn rầu, nản chí, người khác lại muốn “động viên” người đó, thay vì chỉ cần “an ủi” hay “khích lệ.” Ai dùng tiếng Việt truyền thống cũng biết động từ “động viên” (chữ Hán là動員) với ý nghĩa là khuyến khích ai hành động hay hô hào tham gia vào việc gì đó, đặc biệt là với ý nghĩa gia nhập quân đội. Nếu tôi đang rầu rĩ mà ai đó muốn “động viên” tôi, tôi sẽ thiểu não đáp lại: “Trời đất, tôi đang buồn muốn chết đây mà anh lại bắt tôi đi lính thì tội nghiệp cho tôi quá!”
Hay có người làm một việc gì mà nghe người khác chất vấn: “Động cơ nào đã khiến anh làm như vậy?,” nghe qua cũng đáng giật mình. Trong thân thể chúng ta có máy móc gì đâu mà có cả một cái động cơ thúc đẩy mình làm cái gì kia chứ. Thông thường, chúng ta chỉ dùng chữ “động lực” là đã đủ diễn tả một sức mạnh nào thôi thúc chúng ta hành động, chứ có cần đâu đến một cái động cơ chỉ dùng cho máy bay hay tàu thủy!
Một trong những chữ làm cho tôi sợ nhất là động từ “liên hệ.” Ví dụ như “Xin cô liên hệ với tôi sau để bàn thêm chi tiết về việc này.” Từ trước tới giờ, chúng ta, những người nói tiếng Việt cẩn thận, có suy nghĩ, chỉ dùng chữ “liên hệ” khi nói đến mối liên quan ruột thịt, chẳng hạn như “Cô ấy có liên hệ họ hàng với tôi.” Còn muốn nói về việc gọi điện thoại hay trao đổi thư tín, chúng ta dùng động từ “liên lạc” để diễn tả ý nghĩa này.
Nghĩa mới của nhiều từ ngữ dùng ở trong nước lắm khi làm méo mó ý nghĩa lâu đời của những chữ đó. Từ ngữ “đối tượng” chẳng hạn. Danh từ này vốn có một nghĩa bình thường là một cá nhân thích hợp với một hoàn cảnh nào đó. Ví dụ như “Chúng ta cần tìm những đối tượng phù hợp cho việc nghiên cứu này.” Hiện nay, ở trong nước, chữ “đối tượng” chỉ dành cho những người phạm pháp. Công an, cảnh sát chuyên đi bắt những “đối tượng” trộm cắp, giết người hay tham nhũng. Riết rồi ai cũng sợ trở thành “đối tượng” trong xã hội Việt Nam ngày nay.
Ngôn ngữ nào cũng thay đổi, cũng phát triển, nhưng thay đổi theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực mới là chuyện đáng nói. Làm phụ huynh hay thầy cô giáo tiếng Việt, chúng ta đã và đang nhận lãnh trọng trách trao truyền lại cho con em mình những tinh hoa của ngôn ngữ của nhiều ngàn năm văn hiến.
Em viết văn Việt
Nhằm tạo một diễn đàn cho các em tập viết tiếng Việt, Ban Biên Tập trang Tiếng Việt Dấu Yêu kêu gọi quý phụ huynh và quý Thầy Cô khuyến khích các em viết văn, diễn tả bằng tiếng Việt những cảm nghĩ và ước vọng trong đời sống của các em. Ước mong nơi đây một sân chơi được mở ra và khu vườn văn hóa Việt sẽ được quý phụ huynh và quý Thầy Cô góp tay vun trồng, khuyến khích.
Trong các bài nhận được và chọn để đăng, chúng tôi cố ý giữ nguyên văn những gì các em viết. Vì thế, khi đọc đến những ngôn từ, lỗi chính tả và sai văn phạm, chúng tôi mong được Phụ Huynh và Thầy Cô chia sẻ và sửa chữa cho các em tại nhà hay trong lớp học.
Tất cả các bài viết dưới dạng MSWord, font Unicode; và hình ảnh dạng .jpg, xin gởi về địa chỉ email: [email protected] (Xin đừng gởi dạng .pdf vì không tiện cho việc layout).
Trân trọng cảm ơn quý vị.
Nguyễn Việt Linh
Lễ Tạ Ơn
Kristine Nguyễn, Lớp 6, Trường Việt ngữ Tustin, niên khóa 2015-2016
(5-12-2015)
Cứ mỗi thứ Năm cuối cùng của tháng mười một, dân chúng Mỹ lại cử hành ngày lễ Tạ ơn rất là long trọng. Gia đình em cùng hòa hợp với người dân bản xứ đón mừng ngày lễ với tấm lòng tha thiết tri ân.
Một tuần trước ngày lễ, Mẹ em bận rộn đi chợ mua sắm thực thẩm để chuẩn bị nấu nướng cho bữa ăn. Nào là khoai tây, bí rợ, củ hành, phô mai, bơ, bột mì và quan trọng nhất là chú gà tây béo mập, món ăn chính cho bữa ăn.
Hầu hết các cửa tiệm lớn đều đóng cửa để chuẩn bị cho ngày hôm sau, ngày bán rẻ nhất trong năm. Đây cũng là dịp cho nhân viên ở nhà tụ tập quay quần ăn uống, tạ ơn những ơn lành của Thượng đế chúc phúc trong năm.
Vì đây là năm đầu tiên chị Hai đi học xa nhà, mọi người được dịp hỏi thăm về nơi ăn chỗ ở cũng như việc học của chị. Sự nhộn nhịp và rồn rã của ngày vui, khiến căn nhà trở nên ấm cúng và thân mật hơn trong bữa ăn trưa. Con gà tây nướng năm nay thật ngon, cùng với khoai nghiền, bắp hầm, và chiếc bánh khoai bí rợ thơm phức. Cả gia đình ăn một bữa no nê bù lại cho buổi sáng bận rộn phụ mẹ nấu nướng. Sau bữa ăn, gia đình quây quần trong phòng khách xem diễn hành lễ Tạ ơn trên TV ba quay vào buổi sáng.
Ngày hôm sau em cùng chị Hai theo mẹ đi mua sắm đồ. Vì là ngày đại hạ giá lớn nhất trong năm, mọi người đi chợ mua đồ đông lắm. Thật là vất vả, chen chúc với đám đông đi mua hàng, nhưng tất cả đều vui vẻ khi ra về.
Lại một lễ Tạ ơn nữa đi qua, em cảm ơn Chúa đã ban cho gia đình em nhiều an lành và dồi dào sức khỏe. Nguyện xin Chúa cho nước Việt Nam và những nước nghèo khó được hòa bình, cơm no áo ấm để mọi người biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau.
Góc hoạt họa thiếu nhi
Câu chuyện hí họa về chú gấu bông Dexter
Họa sĩ Nia Nguyễn
Hãy xem năm ngoái chú gấu Dexter đã làm gì tại links:
https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2018/11/Dex-Adventure-14A.jpg
https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2018/11/Dex-Adventure-14B.jpg
Tâm tình Phụ Huynh
Từ Ca Dao đến Hồn Nhiên Lục Bát
(Phụ huynh sưu tầm)
Phần 4
1. Ngôn ngữ Thơ Lục Bát
Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng… chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.
Chữ và Nghĩa
Ý tưởng
Hình ảnh
Âm điệu:
Âm điệu trong thơ có thể là vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu.
(a) Vần điệu
Vần điệu là yếu tố hàng đầu để nhận diện thơ lục bát và cũng tạo sắc thái riêng cho thể thơ này. Câu thơ có vần có điệu dễ quyến rũ người yêu thơ, quyến rũ những tâm hồn nhạy bén với thơ, không cứ gì là thi nhân. Tác giả “Bướm Trắng,” từng cho mình là “người thừa trong làng thơ,” vẫn có những khi tức cảnh sinh tình mượn câu lục bát để gửi gấm những nỗi niềm.
Mắt mờ lệ nhớ người xưa,
mười năm thương nhớ bây giờ chưa nguôi
Trông hoa lại nhớ đến người,
hoa xưa, xuân cũ biết đời nào quên
(Nhớ Hoàng Đạo, Nhất Linh)
Thơ hay đến từ cảm xúc chân thực. Chỉ cảm xúc thực mới truyền được cảm xúc đến người đọc. Cảm xúc giả tạo hoặc vay mượn dễ nhận biết, tựa bức tranh vô hồn.
Nhớ em là nhớ quê nhà,
bát canh rau đắng mẹ già còn không?
(Lúc nhớ, Hoàng Lộc)
Nhớ em dào dạt biển sông,
làm sao con sóng trong lòng bình yên?
(Điệp khúc 68, Xuân Chung)
Quê nhà, mẹ già, biển sông, con sóng, chỉ đơn sơ là vậy nhưng khơi dậy những nỗi niềm trăn trở và nhớ nhung da diết.
Thủ pháp gieo vần lưng (yêu vận) là nét đặc sắc trong thơ lục bát, làm biến đổi hẳn về tiết tấu, nhịp điệu câu thơ, nghe như một nốt trầm trong câu nhạc hay một “bước nhỏ ngập ngừng”.
Sao em không chọn mùa đông
mà đi lấy chồng lại đúng mùa thu?
(Thu xưa, Đynh Trầm Ca)
Tôi còn có một mùa đông
Em ở với chồng tận cuối cơn mưa
(Tận cuối cơn mưa, Đồng Đức Bốn)
Người phu quét lá bên đường,
quét cả nắng vàng, quét cả mùa thu
(Góp lá mùa xuân, Trịnh Công Sơn)
Câu thơ, cũng nhờ vậy, có thêm nhạc tính.
Bài này không nhằm đi sâu vào phân tích về âm luật, các thủ pháp gieo vần, ngắt nhịp trong thể thơ lục bát.
(b) Nhịp điệu:
Nhịp điệu là tiết tấu của câu thơ. Câu, chữ trong thơ lục bát thường được ngắt theo nhịp chẵn, đôi lúc nhịp lẻ tùy thuộc cách thể hiện tình ý trong thơ và cũng để tránh sự đơn điệu.
Đò qua sông/ chuyến đầu ngày,
người qua sông/ mặc áo dài buông eo
(Chuyến đò Cửu Long, Nguyễn Tất Nhiên)
Em giờ là/ của người ta
Của riêng tôi/ một chậu hoa cúc tần
(Bên giậu cúc tần, Nguyễn Đại Nghĩa)
Có khi là những tiểu đối nhịp nhàng tạo khoảng cách đều đặn và tiết tấu dìu dặt cho thơ.
Khi chén rượu/ khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở/ khi chờ trăng lên
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Rượu mời ta rót cho ta
Bạn gần không đến/ bạn xa chưa về
Rót nghiêng năm tháng vào ly
Mắt nheo bóng xế/ tay che tuổi buồn
(Ðêm cuối năm uống rượu một mình, Thanh Nam)
Về khuya tiếng nói âm thầm
em nghiêng mái tóc cho gần vai anh
Nhạc lên men rượu si tình
ngẩn ngơ khói thuốc/ bồng bềnh ý thơ
(Bài ca M.L., Hoàng Anh Tuấn)
Có khi là nhịp cầu nối liền chữ thứ sáu và chữ thứ bảy trong câu “bát”, tạo cảm giác đong đưa, mượt mà.
Miệng người tự bữa môi cong
Mắt người tự bữa ngước đong đưa nhìn
(Hiện thể, Bùi Giáng)
Ở đây mưa trắng không gian,
mưa vùi dập mộng, mưa tan tác đời
(Buộc áo giữa đường, Trần Mộng Tú)
Nhiều lắm, những nhịp cầu nối lênh đênh, dập dềnh.
Em đi phố cũng ngậm ngùi
rừng kêu, núi gọi, sóng vùi dập sông
(Rừng trú ngụ em, Trần Yên Hòa)
Tây Bắc chiều núi lặng thinh
Se-at-tle đó mây lênh đênh về
(Chào Tây Bắc, Nguyễn Nam An)
Lối đi vàng nhạt mùa thu
Nghe lau lách động niềm u uất buồn
(Trông theo, Hoài Khanh)
(c) Nhạc điệu:
“Thi trung hữu nhạc,” tôi ngờ rằng “thi” trong câu ấy nhiều phần là thơ lục bát. Các nhạc sĩ chuộng phổ thơ vẫn nói rằng phổ nhạc một bài lục bát không phải dụng công nhiều vì trong thơ đã sẵn có nhạc.
Thử đọc, đọc thành tiếng chứ không đọc thầm, một đôi câu lục bát, ta nghe được những nốt, những thanh âm trầm bổng, nhịp nhàng uyển chuyển đến từ vần điệu, nhịp điệu và ngữ điệu trong thơ. Những yếu tố này khiến câu lục bát giàu nhạc tính hơn bất cứ thể thơ nào.
Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng
Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh
(Thơ sầu rụng, Lưu Trọng Lư)
Nghe thơ, như nghe vẳng lên trong đầu lâng lâng tiếng nhạc.
Ngủ đi em, mộng bình thường
Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ
(Ngậm ngùi, Huy Cận)
Đèo cao cho suối ngập ngừng
Nắng thoai thoải nắng, chiều lưng lửng chiều
(Đường rừng chiều, Nguyễn Bính)
(Còn tiếp)
[jwplayer c5iBxEqa-YzmDPLlM]











































































