Tiếng Việt Dấu Yêu (Kỳ 277)

Các trưởng được bằng khen.
Các trưởng được bằng khen.
Các em măng non trình diễn.
Các em măng non trình diễn.
Các em trình diễn điệu nhảy cần sự nhịp nhàng.
Các em trình diễn điệu nhảy cần sự nhịp nhàng.
Nữ hướng đạo sinh múa rất nhà nghề.
Nữ hướng đạo sinh múa rất nhà nghề.
Các em thiếu trong màn múa quạt.
Các em thiếu trong màn múa quạt.
Hai em hát quan họ Bắc Ninh.
Hai em hát quan họ Bắc Ninh.
Biểu diễn cú đá công phá.
Biểu diễn cú đá công phá.

 


Em viết văn Việt

Những bài viết của học sinh các trường Việt ngữ

  1. Nhằm tạo một diễn đàn cho các em tập viết tiếng Việt, Ban Biên Tập trang Tiếng Việt Dấu Yêu kêu gọi quý phụ huynh và quý Thầy Cô khuyến khích các em viết văn, diễn tả bằng tiếng Việt những cảm nghĩ và ước vọng trong đời sống của các em. Ước mong nơi đây một sân chơi được mở ra và khu vườn văn hóa Việt sẽ được quý phụ huynh và quý Thầy Cô góp tay vun trồng, khuyến khích.
  2. Trong các bài nhận được và chọn để đăng, chúng tôi cố ý giữ nguyên văn những gì các em viết. Vì thế, khi đọc đến những ngôn từ, lỗi chính tả và sai văn phạm, chúng tôi mong được Phụ Huynh và Thầy Cô chia sẻ và sửa chữa cho các em tại nhà hay trong lớp học.
  3. Tất cả các bài viết dưới dạng MSWord, font Unicode; và hình ảnh dạng .jpg, xin gởi về địa chỉ email: [email protected] (Xin đừng gởi dạng .pdf vì không tiện cho việc layout).

Trân trọng cảm ơn quý vị.

Nguyễn Việt Linh

 

Đặt câu có ba mệnh đề với chủ đề: Gia đình em

Nu Nguyễn, Lớp Mười

1- Gia đình em có ông bà cha mẹ, nhưng em sống vơi ba mẹ em và em gái em vì ông bà em ở với cô, chú em.

2- Ba em làm gần nhà, nhưng má em làm xa, vì thế ba chở hai chị em em đi học.

3- Em em thua em 2 tuổi nên nó học thua em 2 lớp, vì thế em phải dạy nó làm bài.

4- Hai cô và chú em ở với ông bà nội vì các cô và chú chưa có lấy vợ và lấy chồng, còn bác em thì ở xa.

5- Ông bà ngoại em ở Việt Nam, Mùa Hè má dẫn em về thăm ông bà ngoại và các dì, cậu, nên em rất thích.

6- Bà ngoại em không còn răng, bà ăn khó lắm, em rất thương bà.

7- Hai cậu em dù đã có vợ vẫn ở với ông bà nên nhà rất đông.

8- Dì em không ở Sai gòn, khi nào em về thì dì dẫn con vào chơi.

9- Em thương các cậu và các dì, em có nhiều em họ và em rất thích chơi vơi mấy đưa đó.

10- Ba má có bảo lãnh ông bà ngoại và dì Út qua Mỹ, nhưng chưa được và em rất mong ông bay, dì mau qua đây.

 

Em bé

Quỳnh Như, Lớp Một

Em mới có em bé, đó là một em con gái. Em bé nhỏ síu, mẹ bồn em trong tay vẫn nhỏ dù có khăn lông bự. Bé nhỏ, nhưn mà khóc lại to. Mẹ nói bé đói nên khóc to cho mọi người biết, giống như em khi đói thì la cả làn đều nghe.

Em thích và muốn bồn em, nhưng mẹ khôn cho vì sợ em làm té em bé. Mẹ cho em ngồi bên em bé nhưn khôn đượt đụn vào em.

Em muốn cho bé ăn kẹo và bánh ngọt, mẹ nói khôn đượt, phải chờ em lớn. Bây giờ em chỉ bú sữa mẹ mà thôi.

Em quên mất, mẹ gọi tên em bé là Quỳnh Vi.

 


Tâm tình thầy cô

Mở rộng việc bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa Việt

Trần C. Trí
University of California, Irvine

Từ nhiều thập niên nay, người Việt ở hải ngoại vẫn không ngừng hô hào, nhắc nhở nhau giữ gìn và phát huy việc dạy và học tiếng Việt, song song với việc bảo tồn văn hóa nước nhà. Chúng ta coi ngôn ngữ và văn hóa Việt là một vốn quý cần được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, như một sợi dây vô hình, thiêng liêng nối kết chúng ta với nhau. Tuy vậy, dường như từ lâu nay chúng ta vẫn làm việc này với tính cách “nội bộ.” Chúng ta kêu gọi từng cá nhân người Việt, lớn cũng như bé, nói tiếng Việt với nhau hay dạy nhau tiếng Việt. Chúng ta nhắc nhở nhau giữ tiếng Việt trong mỗi gia đình Việt. Chúng ta hô hào cùng nhau gìn giữ ngôn ngữ và văn hóa Việt trong các cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới. Những nỗ lực không ngừng nghỉ trong sứ mạng này đã và đang đem lại nhiều kết quả hết sức tốt đẹp mà ai trong chúng ta cũng có thể ghi nhận được: đó là một thế hệ mới các em gốc Việt lớn lên ở hải ngoại phần lớn vẫn nói được tiếng Việt, vẫn mỗi cuối tuần cắp sách đi học ngôn ngữ và văn hóa Việt ở những trung tâm Việt ngữ. Cũng có không ít em đã học xong chương trình tiếng Việt tại những trung tâm đó, giờ đây đã trở thành phụ giáo và đang tập tễnh học làm thầy cô dạy lại tiếng Việt cho lớp đàn em. Đặc biệt, còn có những em có tài năng thể hiện ngôn ngữ và văn hóa Việt ở một tầm cao hơn qua việc trình diễn những màn ca múa, hoạt cảnh, kịch ngắn trên những sân khấu học đường, hay viết văn, làm thơ trong mục dành cho thiếu nhi trên những nhật báo, tạp chí địa phương.

Bên cạnh những dấu hiệu đáng mừng nêu trên, tuy vậy, không phải là không có những hiện trạng làm cho chúng ta cảm thấy lo âu. Xin lấy một ví dụ ở trường đại học nơi chúng tôi đang giảng dạy tiếng Việt từ năm 2000 đến nay. Trong chương trình tiếng Việt ở đây, chúng tôi thường phỏng vấn sinh viên để xác định trình độ tiếng Việt của các em (ngoài việc các em phải thi một kỳ thi xếp lớp). Một trong những câu hỏi trong cuộc phỏng vấn là “Tại sao em muốn học tiếng Việt?” Trong những năm đầu tiên, ngoài những câu trả lời có tính cách “thực tiễn” như “Em lấy lớp tiếng Việt để đủ số tín chỉ cần thiết,” hay “ Em học tiếng Việt để đáp ứng điều kiện phải học một hay hai năm ngoại ngữ,” có một số sinh viên cho biết: “Em học tiếng Việt để có thể nói chuyện với ba mẹ ở nhà.” Bẵng đi nhiều năm qua, bây giờ, mỗi khi chúng tôi đặt câu hỏi này, rất nhiều em đáp: “Em học tiếng Việt để có thể nói chuyện với ông bà!”

Câu trả lời trên đã khiến chúng tôi không khỏi giật mình. Điều đó có nghĩa là cha mẹ các em bây giờ thuộc thành phần trẻ, nói tiếng Việt ít hơn là nói tiếng Anh, nên các em chỉ cần tiếng Việt để tiếp xúc với ông bà mà thôi. Chúng tôi đã nhiều lần mang vấn đề này ra thảo luận với các em trong lớp. Chúng tôi nói với các em như sau: “Các em nghĩ xem, khi các em bảo tiếng Việt là để dùng khi nói chuyện với ông bà, vô tình các em đã sử dụng một ngôn ngữ chỉ để kết nối với quá khứ, thay vì cũng sử dụng ngôn ngữ này để kết nối với cả hiện tại và tương lai. Cho dù chúng ta có yêu ông bà đến đâu nữa, chúng ta cũng không thể không nhìn nhận rằng thế hệ của ông bà là đại diện cho quá khứ. Quá khứ cũng quan trọng như hiện tại và tương lai, nhưng chỉ nhấn mạnh vào quá khứ không thôi thì bức tranh cuộc sống chưa được toàn bích. Để tiếng Việt là một sinh ngữ thật sự, chúng ta phải dùng nó để kết nối đồng thời với cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Chừng nào mà các em vẫn chưa dùng tiếng Việt để nói chuyện với anh chị em trong gia đình, với bạn bè trong lớp hay với đồng nghiệp ở chỗ làm trong hiện tại, hay còn chưa dùng tiếng Việt vào những công việc, những dự án có tính chất chuẩn bị cho tương lai, thì chừng ấy vai trò sinh ngữ của tiếng Việt vẫn chưa được phát huy đúng mức. Điều đó cũng đồng nghĩa với sự đi xuống của tiếng Việt trong thời gian sắp tới.”

Chúng tôi thật lòng mong rằng con số các em trẻ tuổi học tiếng Việt để có thể nói chuyện với ông bà không phải là một con số đáng kể. Vì nếu đó là một con số lớn, chúng ta sẽ phải tự hỏi, một mai khi ông bà của các em đó không còn nữa, liệu các em có tiếp tục học tiếng Việt hay không? Bên cạnh hiện trạng này, có thể còn nhiều hiện trạng đáng lo khác nữa. Như vậy thì chúng ta, những người từ trước đến nay vẫn cố gắng không ngừng, bằng cách này hay cách khác, để giữ gìn và phát huy tiếng Việt và văn hóa Việt, sẽ phải làm gì hơn thế nữa để ngôn ngữ và văn hóa của chúng ta ở hải ngoại không bị mai một dần theo năm tháng?

Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đã từng nghĩ đến một số cách thức để thực hiện điều này. Riêng chúng tôi xin đề nghị một phương thức sau đây, bắt đầu bằng một câu hỏi. Tại sao chúng ta chỉ cùng nhau cố gắng gìn giữ và truyền bá tiếng Việt, văn hóa Việt trong cộng đồng người Việt của chúng ta không thôi, mà lại không truyền bá ngôn ngữ và văn hóa Việt ra những cộng đồng bạn quanh đây và “nhờ” họ cùng chung tay góp sức làm việc ấy? Ý kiến của chúng tôi, thật ra, ở một chừng mực nào đó, từ lâu đã và đang được thực hiện ở một số trung tâm Việt ngữ hay những trường trung học, cao đẳng và đại học ở Mỹ. Trong các lớp tiếng Việt của chúng ta, đây đó vẫn có những học viên gốc La-tinh, những người Mỹ bản xứ hay một số ít những người thuộc các chủng tộc khác. Dù sao đi nữa, mục đích chính của những lớp tiếng Việt đó vẫn là để “bảo tồn và phát huy ngôn ngữ và văn hóa Việt,” rất “nội bộ” và rất “khiêm nhường.” Tại sao chúng ta không bắt đầu hướng tới một mục tiêu lớn hơn, đó là truyền bá ngôn ngữ và văn hóa Việt ra đến những cộng đồng ngôn ngữ khác, để họ tiếp nhận và, biết đâu, về lâu về dài sẽ ra tay giúp chúng ta truyền ngọn lửa đó càng ngày càng sâu rộng thêm qua nhiều cộng đồng khác nữa?

Nếu chúng ta đồng ý với nhau về mục tiêu lớn này, chúng ta cần phải làm gì? Tùy vào lãnh vực hoạt động của mỗi người, chúng ta có thể nghĩ đến những việc thích hợp có thể làm ngay trước mắt. Hiện nay, chỉ ở vùng Nam California thôi dễ cũng có đến trên dưới 20 đài truyền hình tiếng Việt phát qua làn sóng ăng-ten hay hệ thống dây cáp. Khán giả không phải người Việt nếu có tình cờ mở lên một trong những đài đó chắc cũng khó mà dừng lại để xem. Tuy nhiên, nếu hai hay ba đài truyền hình Việt ngữ này có chương trình dạy tiếng Việt cho người ngoại quốc (giải thích bằng tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Hàn, v.v.), biết đâu sẽ tình cờ thu hút dần dần một số “học viên” muốn tìm hiểu tiếng Việt? Các trường Việt ngữ cuối tuần có thể tìm nhiều cách khác nhau để giới thiệu những lớp học đặc biệt dành riêng cho người ngoại quốc sinh sống ở trong vùng (thú thật, chữ “ngoại quốc” dùng ở đây thật khiên cưỡng, vì chúng ta hiện đâu có “quốc” để cho những người đó là “ngoại!”). Còn ở các trường trung học, cao đẳng và đại học có chương trình Việt ngữ, các giáo sư cũng có thể tìm ra những cách “quảng cáo” mới trong khuôn viên học đường để thu hút thêm học sinh, sinh viên ngoại quốc, vì trên thực tế trong các lớp tiếng Việt hiện nay chiếm đa số vẫn là các em gốc Việt học tiếng Việt (mà trong tiếng Anh gọi là “heritage students”). Một số nhà giáo dục người Việt trong cộng đồng cũng có thể liên lạc với những tờ báo bằng Anh ngữ ở địa phương, đề nghị cộng tác với họ qua mục dạy tiếng Việt cho độc giả của những tờ báo đó.

Trên đây chỉ là một số ví dụ có tính cách gợi ý; tất cả những ai quan tâm đến vấn đề này có thể ngồi lại với nhau để tìm ra thêm nhiều phương cách khác, chi tiết hơn, hay hơn, hữu hiệu hơn. Với mục tiêu lớn này, sẽ còn một chặng đường dài trước mắt chúng ta với biết bao nhiêu thách thức, trở ngại. Muốn đạt được những thành tựu mới, người Mỹ thường nói “Think outside the box.” Trong trường hợp của chúng ta, muốn sứ mạng bảo tồn và phát huy ngôn ngữ và văn hóa Việt thành công hơn nữa, mượn ý trên của người Mỹ, chúng ta có thể nói “act outside the community.” Một khi sinh hoạt ngôn ngữ và văn hóa của chúng ta vượt ra khỏi tầm hạn hẹp của cộng đồng Việt, vươn tới những cộng đồng khác, chúng ta sẽ không còn thấy đơn độc trong sứ mạng văn hóa này nữa.


Thông báo

Tết Trung Thu 2016 do 19 hội đoàn trẻ đồng tổ chức

Sinh hoạt gồm văn nghệ, trò chơi, biểu diễn võ thuật và thủ công.

Các cuộc thi có thưởng, gồm thi vẽ, múa lân, làm lồng đèn, kể chuyện.

Ngày/giờ: Thứ Bảy, 10 Tháng Chín, 3PM- 9PM

Địa điểm: Công viên Siegler, 7200 Plaza St., Westminster, CA 92683 (Gần nhà thờ Westminster và đối diện Thánh Thất Cao Đài)

Vào cửa miễn phí và các em thiếu nhi được phát lồng đèn.

Liên lạc và bảo trợ: (714) 487-9764 hay (714) 725-8389.

 

Đêm Nhạc Trẻ Một Thời do Câu Lạc Bộ Văn Nghệ Viện Việt Học thực hiện

Thứ Bảy, 13 Tháng Tám, 7:30 PM-10:30 PM

Địa điểm: 15355 Brookhurst St., Suite 222, Westminster, CA 92683

Ban Nhạc Sao Biển: Nguyễn Đình Thư, Dương Thụy, Nguyễn Huy, Nguyễn Hòa, Trọng Nguyên, Đặng Thành, Hoàng Khôi, và các giọng hát: Trần Quốc Lăng, Tứ Ca Mây Ngàn, Lệ Uyên, Thạch Thảo, Kim Phượng, Hoàng Khôi, Nguyễn Hạnh.

MC: Bùi Đường.

Giữ chỗ trước xin gọi: (714) 775-2050. Email: [email protected]

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT