Ẩn số nào trong thơ Nguyễn Ðức Liêm?

 


Du Tử Lê


 


Bằng vào ghi nhận riêng, tôi thấy bên cạnh với những nhà thơ chọn con đường phổ biến thơ của mình qua những phương tiện chính như báo chí, Internet… thì cũng có những nhà thơ từ chối các phương tiện phổ biến ấy. Những người này lại chia thành hai thành phần.



Thành phần thứ nhất, chỉ đưa sáng tác của mình cho một vài thân hữu đọc. Những người mà họ tin là sẵn sàng chia sẻ mọi tâm tư của họ.


Thành phần thứ hai, cũng khước từ đăng tải thơ trên báo hoặc các trang mạng… Nhưng lâu lâu lại tung vào đám đông, như ném “phi tiêu” bất ngờ vào văn giới. Trong số nọ, cũng có người đi đó đây, nhờ bằng hữu tổ chức những buổi ra mắt sách khi có tác phẩm mới.


Ở thành phần thứ hai vừa kể, tôi thấy có nhà thơ Nguyễn Ðức Liêm.


Họ Nguyễn làm thơ rất nhiều. Từ Việt Nam. Bên cạnh một nghề nghiệp để mưu sinh, Nguyễn Ðức Liêm làm thơ gần như “full-time.”


Trong tình cảnh này, những người không biết nhiều về ông, sẽ dễ dàng đi đến kết luận: Họ Nguyễn quá dư thì giờ, không biết làm gì cho hết, nên quay qua “hành hung” thơ. “Cho đỡ buồn.”


(Dù đã bước qua tuổi bảy mươi họ Nguyễn vẫn theo đuổi chủ nghĩa độc thân. Ông chưa một lần lập gia đình).


Trong những bữa nhậu mịt mờ khói sóng, từ ngày này tiếp ngày khác, Nguyễn Ðức Liêm thường cao hứng nói chuyện về thơ. Thậm chí, ông còn đọc thơ của mình cho một vài bằng hữu chọn lọc nghe.


Những giây phút ấy, không ai có thể phân biệt đâu là thơ? Ðâu là rượu? Tôi nghĩ, ngay chính ông, nếu được hỏi, ông cũng sẽ không thể biết đâu là rượu? Ðâu là thơ? Nhưng tuyệt nhiên, không bao giờ ông hé răng tiết lộ về e ngại xung đột hay, tranh chấp gần xa nào, giữa quyết tâm ăn ở với thi ca và, ký thác một đời riêng cho gia đình!


Tôn trọng bạn, một số người thân thiết nhất với ông như Trần Lam Giang, Ðỗ Hùng, Nguyễn Tường Tâm, hoặc ông LS coi trời… “nhỏ như con thỏ” Triệu Bá Thiệp… cũng không bao giờ nêu “vấn nạn” này với thi sĩ.


Chỉ biết, thời còn ở Saigon, nghề nghiệp chính của ông là chuyên viên thu hình của đài truyền hình số 9, đường Hồng Thập Tự. Qua Mỹ tháng 4, 1975, ông theo học và hành nghề điện toán tới ngày về hưu.


Như một “tự bạch,” (hay một thứ tuyên ngôn về thi ca?) nơi trang đầu mở vào “Tuyển Tập 2, Nguyễn Ðức Liêm,” (1) viết:


“Trước khi làm người tôi đã là thơ là rượu / Thơ với rượu là một / Nó giao hưởng tôi / Nó đã thêm thắt sức sống cho tôi / Nó sẽ vỗ về tôi khi tôi chết / Nó cổ như Ðạo Ðức Kinh / Nó mới lạ như lối diễn xuất của James Dean trên màn bạc Hoa Lệ Ước / Nó bảo / Ðời người là hí cuộc biết bao cửa vào mà chưa chắc đã có một cửa ra / Nó dỗ tôi cô đơn / Nó dạy tôi những bí mật của tâm linh / Nó gạch nối tôi với ba nghìn thế giới / Nó bảo / Phật nói ‘duy ngã độc tôn’ nghĩa là mỗi chúng sinh chúng ta đều có cái tôi ở ngoài vòng sinh lão bệnh tử’ / Vì sao / Vì ‘nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính’ ‘cái tôi ở ngoài vòng sinh lão bệnh tử là phật tính’ / Nếu không có phật tính thì rượu và thơ cũng chẳng ra hồn.”


Dù phát biểu kể trên của họ Nguyễn là một “tự bạch” hay một thứ “tuyên ngôn” về thơ thì, với nhiều người trong số độc giả của ông, có một cảm giác chung là choáng váng, xựt xừ (như người bị say sóng hay say rượu) bởi những câu thơ bất ngờ ý tưởng, hành hung chữ nghĩa, ngật ngưỡng (hay xiêu tán) hình ảnh.


Ngay tự những bài thơ đầu đời, Nguyễn Ðức Liêm đã hạ bút:


“Giai nhân


không có nhà


lấy thi nhân làm vương quốc


Thi nhân


Không có nước


Lấy đỉnh đáy đu đưa


Làm tình tính tang mình”


(NÐL, “Của Những Vuông Tròn,” 1969)


Hoặc bài thơ “Cửu Chương Hồng,” (do bằng hữu sưu tập được), họ Nguyễn viết năm 1957, lúc 16 tuổi:


“Ðỏ hơn con bé quàng khăn


Em nhân với nắng thành trăng trắng ngà


Chia em vào cõi tiên sa


Vi lên em vút nũng ra nịu đời


Ðể anh ba bị chín quai


Mười hai con mắt theo hoài gót son


Rồi thành thằng bé tí hon


Ði hia bảy dặm vẫn còn xa em.”


Hoặc nữa:


“Năm món điểm tâm


Cháo lòng con hươu sao cổ cao chín ngấn


Bánh cuốn nhân phục linh


Xôi gạo nếp nàng Hương


Xoa mỡ gà lôi lai phụng


Mứt ngó sen ngào mật


Vặn nõn mình thon thắt đáy lưng ong


Chè kho lam bát giác…”


(NÐL, trích “Trùng Trùng Cúc,” 1969)


Với thời gian, cũng với những người trong số những độc giả kiên trì đọc thơ Nguyễn Ðức Liêm, cảm thấy dường như mức độ choáng váng (như người bị say sóng hay say rượu) bởi những câu thơ bất ngờ ý tưởng, hành hung chữ nghĩa, ngật ngưỡng (hay xiêu tán) hình ảnh trong thơ họ Nguyễn… ngày một gia tăng – Tựa mũi tên thi ca mang tên ông, chỉ có một đường bay duy nhất là thẳng tới! (Mặc dù thẳng tới đâu? Có dễ chỉ tác giả biết?!):


“Tiếng hạc bay


nam thanh nữ thoát


Tiếng suối reo


thế gian qui về một mối


tứ hải giai huynh đệ


Tiếng… Cô ‘thăng’


Con đồng hiện nguyên hình nộm


Beethoven đờ đẫn


thứ người máy iRobot


Cô-mình-sao-y-chính-bản


tiến lên bục xoay Beethoven


quay lại cúi rạp xuống cảm tạ


hàng hàng lớp lớp


vỗ tay câm…


Này?


Bạch Cư Dị


người thế kỷ thứ tám thứ chín


Beethoven


người thế kỷ mười tám mười chín


Thế còn


thế kỷ hai mươi mốt


phản lực cơ vượt bức tường âm thanh


chơi những nốt ‘atonic’


‘vô chính diệu’


Trên không


Thế còn


những sát na câm


chơi chết lặng giữa hai nốt nhạc…”


(NÐL, “Sao Y Chính Bản Bích Tô Vân,” 2010)


Ðến nay, qua những buổi ra mắt sách ở nhiều nơi khác nhau, đã có nhiều tác giả, thân hữu ghi nhận, phát biểu về về thơ Nguyễn Ðức Liêm…


Tựu trung, đa số gặp nhau ở điểm chung chung: Thơ họ Nguyễn rất mới lạ.


Tiếc chưa tác giả nào phân tích rốt ráo để chỉ ra cho người đọc rõ cái mới lạ kia, của tiếng thơ… mới lạ này!


Phải chăng thơ Nguyễn Ðức Liêm vốn có quá nhiều ẩn số?


(Còn tiếp 1 kỳ)


 


Chú thích:


(1) “Tuyển Tập 2, Nguyễn Ðức Liêm,” ấn hành năm 2012, bởi nhà XB Của Những Vuông Tròn, dày gần 500 trang. Khổ lớn. Bìa bọc. Gồm những bài thơ họ Nguyễn sáng tác từ năm 1960, tới những bài thơ mới nhất, viết năm 2011 ở Hoa Kỳ.

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Tuyển Tập 100 Năm Thơ Việt

Bài Thề Non Nước in trong truyện ngắn cùng nhan đề vào năm 1922, tới nay vẫn là một bài thơ giữ nguyên ý nghĩa và giá trị, và tác giả của nó vẫn là một thi bá trong làng thơ

Nguyễn Sỹ Tế, thơ, phao cứu sinh của người tù cải tạo?

Đa số thành viên nòng cốt nhóm Sáng Tạo, căn bản vốn là nhà văn, họa sĩ hay lý luận văn học như Mai Thảo, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp,... không phải là nhà thơ...

Những người xa khuất dịp Xuân sang

Những người vĩnh biệt dương gian vào Tháng Hai Dương Lịch là những người ra đi vào dịp nhân gian đang bận rộn mừng Xuân đón Tết.

Hà Nội, những mùa Xuân phai

Tôi chưa hề nghe ai nói “yêu muốn khóc” bao giờ, chỉ độc nhất có một người làm thơ là Hoàng Anh Tuấn. Yêu đến như thế là... yêu quá là yêu.

Những cánh hoa cuối năm

Vào những ngày cuối tháng của năm, tôi có dịp lên thành phố Saigon, không khí sinh hoạt trông nhộn nhịp hẳn lên, bao hình ảnh xem như đã chuẩn bị trước từ nhiều tháng qua, những sắc màu,những...

Em có hay xuân về! – Thơ Mặc Phương Tử

Em có hay!/ Những chiếc lá thức tàn canh/ Cây chuyển mạch,/ Dòng đời thay sắc áo/ Hoa đương nụ dưới ngàn sương huyền ảo/ Cánh chim về chở trĩu ước mơ xanh.

Sương chiều ngồi nhớ bằng hữu – Thơ Trần Tuấn Kiệt

Sương lạnh chiều vây phủ/ Ngồi rồi nhớ cố nhân/ Độc ấm trà ra khói/ Thời gian quyện lững lờ.

Sắc màu tình yêu – Thơ Lê Minh Hiền

mùa đông lá đỏ/ mùa hạ lá vàng/ xuân hồng thấp thoáng/ thu nay mắt huyền

Dấu vết dòng sông – Thơ Phan Nam

Những con sông rời xa bến đợi/ Nặng trĩu nỗi niềm cỏ hoa/ Mùa chạp bay trong nhang khói/ Tháng giêng lặng lẽ đưa thoi.

Mùa Xuân đến – Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh

Ban mai đến/ Ngày đưa tôi đến/ Lời hôm qua mối đùn/ Lời hôm qua xanh cỏ/ Mớ ý nghĩ nháo nhào tiếng sấm