Khi đồng minh tháo chạy (6)


Chương 2


 


Kissinger, ông là ai?


 


New York là thành phố “không bao giờ ngủ.” Từng dẫy cao ốc chọc trời. Ðường phố rộng thênh thang, xe cộ chạy như mắc cửi. Mỗi khi phải đi băng qua phố ở những chỗ không đèn báo hiệu là cả một vấn đề khó khăn.


Nếu vì lý do gì lại phải đợi có ai đi qua để cùng theo thì lại càng mất thời giờ. Ấy thế mà cậu bé Heinz luôn luôn làm như vậy. Mới lớn lên mà đã rất cẩn thận. Mỗi khi phải qua phố, cậu luôn chờ xem có đám trẻ nào đi qua thì mới theo sau.


 


Cậu bé di cư từ làng Bavaria


 


Ðầu Thế Chiến Thứ Hai nhiều người gốc Do Thái từ nước Ðức sang tìm tự do tại Hoa Kỳ, trong đó có gia đình cậu Henry Kissinger. Tên thật của cậu là Heinz Alfred Kissinger. Heinz đổi ra Henry từ khi sang Mỹ. Sinh trưởng ở làng Bavaria, thuộc vùng Furth ngày 27 Tháng Năm, 1923. Lên bảy, làng cậu đã bị đám thanh niên theo Hitler quấy nhiễu. Heinz và các bạn trẻ Do Thái bị trẻ con trong làng đánh đập thường xuyên (1).


Cậu sợ đến nỗi là dù đã tới đất của Nữ Thần Tự Do rồi mà vẫn luôn luôn nhút nhát, lúc nào cũng giữ thế thủ. Gia đình cậu được di cư sang Mỹ vào Tháng Tám, 1933. Thoát chết, vì chỉ ba tháng sau đó, trong một đêm gọi là “Ðêm Pha Lê” (Crystal Night), đoàn “Thanh Niên Hitler” cùng quân đội đã ào ạt tấn công một cách man rợ vào cư dân Do Thái khắp nước Ðức. Trong số 3,000 dân Do Thái ở vùng Furth, chỉ còn đếm được có 70 người lúc chiến tranh kết thúc năm 1945 (2).


Tới Mỹ, gia đình cậu Henry cư ngụ tại New York, sinh hoạt bình thường như những gia đình di cư khác. Ngay từ lúc còn học trung học, Henry đã tỏ ra là một học sinh xuất sắc.


 


Tiến Sĩ Kissinger


 


Trưởng thành, Kissinger đi quân dịch và nhập trại huấn luyện ở tiểu bang North Carolina vào Tháng Hai, năm 1943. Tới Tháng Sáu cùng năm ông được nhập tịch, trở thành công dân Hoa Kỳ. Sau khi giải ngũ, Kissinger được nhận vào Ðại Học Harvard. Và đỗ tiến sĩ với điểm ưu hạng. Vừa học giỏi, Kissinger lại được một giáo sư nổi tiếng là William Elliott đỡ đầu. Ông Elliott cho Kissinger đảm nhiệm chương trình “Hội Thảo Chuyên Ðề Quốc Tế Harvard” (Harvard International Seminar). Chương trình này được tổ chức vào mỗi mùa Hè để các chính khách, học giả từ các nước tới trao đổi về các vấn đề quan trọng. Ðây là cơ hội quý giá cho Kissinger gặp nhiều yếu nhân từ khắp nơi. Và ông bắt đầu được biết đến từ lúc đó (3).


Năm 1957, ông cho xuất bản cuốn sách “Vũ Khí Nguyên Tử và Chính Sách Ngoại Giao” (Nuclear Weapons and Foreign Policy), một cuốn sách được liệt vào hàng bán chạy nhất năm đó. Cuốn này phản ảnh tư tưởng của ông về sự xung đột liên tục trên thế giới giữa phe bảo thủ và phe cách mạng. Nhưng làm sao tránh được một cuộc chiến tranh nguyên tử toàn diện giữa Hoa Kỳ và Nga Xô? Ông đề nghị một chính sách “Chiến tranh Nguyên tử Giới hạn” để theo đuổi một mục đích cũng giới hạn. Ðọc cuốn sách này, Nixon và đồ đệ của ông đã rất khâm phục (4).


 


Cơ hội tiến thân


 


Trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 1968, ai là người đã cho phía Nixon biết hết những bí mật về kế hoạch của Tổng Thống Johnson tại Hòa Ðàm Paris? Người đó chính là Kissinger (5).


Ông có nhiều mối liên lạc với những chuyên gia về ngoại giao trong chính phủ Johnson vì chính ông đã làm tư vấn bán thời gian cho họ về vấn đề Việt Nam. Biết vậy nên ông Richard Allen, trong ban tham mưu về ngoại giao của ứng cử viên Nixon, đã liên lạc với Kissinger để dò xét xem phía Dân Chủ đang mưu tính những chuyện gì về kế hoạch hòa bình.


Kissinger liền xác định với Allen là mình có nhiều bạn bè và đồng liêu hiện đang làm việc ngay tại Hòa Ðàm Paris (bắt đầu từ Tháng Năm, 1968). “Tôi có cách liên lạc với họ,” Kissinger quả quyết. Và ông đã làm như vậy.


Phía Nixon được ông khuyến nghị là phải đề phòng vì: “Johnson đang chuẩn bị ngưng giội bom, và sẽ tung con bài bất ngờ ra trước ngày bầu cử.” Trong tập hồi ký, chính Nixon cũng xác nhận việc này và tiết lộ một văn thư của phụ tá Haldeman thuật lại báo cáo của Kissinger gửi ông Mitchell (người điều hợp ban tham mưu của Nixon rồi Tổng trưởng Tư Pháp) nói trước mưu lược của Johnson: “Nguồn tin của chúng tôi cho việc chống đối ngưng ném bom là không thực tế, nhưng khuyên ta phải để tâm tới sự kiện là việc đó có thể xẩy ra – nghĩa là ta nên tiên liệu trước việc đó – và nhất định là ta phải chuẩn bị cho cái lúc mà việc đó xẩy ra. Nguồn tin của chúng tôi vô cùng quan ngại về những nước cờ sắp tới của Johnson, và tiên đoán rằng Johnson sẽ có một hành động nào đó trước ngày bầu cử” (6).


Bà Anna Chennault kể lại là vào thời điểm đó, bà đã không biết rõ “nguồn tin của chúng tôi” là ai. Mãi về sau này, ông Mitchell mới tiết lộ cho bà tông tích của “nguồn tin”: đó là Henry Kissinger. Khoảng 12 giờ trước khi Johnson ngưng ném bom, Kissinger đã gọi cho Allen để thông báo một tin sốt dẻo: tại Paris, hai ông Harriman và Vance, lãnh đạo phái đoàn Hoa Kỳ tại hòa đàm, đã mở rượu xâm banh ăn mừng rồi! Mọi vấn đề liên hệ đã điều đình xong, và việc ngưng ném bom sẽ được tuyên bố sớm (7).


Về hành động này của Kissinger, ký giả Seymour Hersh (người nổi tiếng về tiết lộ vụ Mỹ Lai) bình luận: “Khi đem những thông tin từ Paris cho phía Nixon, không những Kissinger đã lạm dụng tình đồng liêu nhưng còn phản bội những người mà ông đã từng cộng tác về những cố gắng đàm phán bí mật” (8).


Sau khi đăng quang, Tổng Thống Nixon đã lựa chọn ông vào chức Cố vấn An ninh Quốc gia. Nixon viết thẳng ra trong hồi ký của ông rằng, “Trong những ngày cuối cùng của cuộc bầu cử, khi Kissinger cung ứng cho chúng tôi những tin tức về việc ngưng ném bom, tôi đã thấy được rõ hơn nữa, về sự hiểu biết sâu rộng và ảnh hưởng của ông ta… tôi có một trực giác mạnh về Henry Kissinger” (9).


Trong cương vị cố vấn của tổng thống, Kissinger chẳng mấy lúc đã nắm được trọn quyền hành về ngoại giao, qua mặt cả Ngoại Trưởng William Rogers. Và sau cùng, ngày 22 Tháng Tám 1973, Tổng Thống Nixon còn chọn ông làm ngoại trưởng thay ông Rogers (từ chức ngày 16 Tháng Tám). Và Kissinger đã trở thành người di cư đầu tiên lên tới chức vị này. Quan trọng hơn nữa, ông cũng là ngoại trưởng đầu tiên kiêm cả chức cố vấn tổng thống về an ninh. Sau khi Nixon từ chức, ông Ford lên kế vị (ngày 9 Tháng Tám 1974), lại cũng tiếp tục bổ nhiệm Kissinger kiêm luôn hai chức như cũ. Tới Tháng Mười Một, 1975 (bảy tháng sau khi Miền Nam sụp đổ) ông Ford mới rút lại chức cố vấn. Như Kissinger đã tự thuật sau này là: ông đã kịch liệt phản đối việc ấy vì làm cho người ta nghi ngờ về địa vị của ông. “Và trong mấy tuần, tôi còn có ý định từ chức nữa” (10).


Trong tám năm trời và dưới hai thời tổng thống, ông Kissinger đã nắm toàn quyền về ngoại giao Hoa Kỳ. Chắc chắn lịch sử sẽ phải ghi nhận rằng trong một thời gian là sáu năm ba tháng (từ 20 Tháng Giêng 1969 tới 30 Tháng Tư 1975), tức là gần một phần ba thời gian tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa, Kissinger đã đóng vai trò then chốt trong cả việc Mỹ tháo gỡ và việc Mỹ bỏ chạy ra khỏi Miền Nam.


 


Chuyên gia Tư vấn: từ Dân chủ sang Cộng Hòa


 


-Tư vấn cho đảng Dân Chủ. Ðầu thập niên 1960, Kissinger theo đảng Dân Chủ và được làm tư vấn bán thời gian cho bộ Ngoại Giao về vấn đề Âu Châu thời Tổng Thống Kennedy. Tới thời Tổng Thống Johnson, ông còn tư vấn thêm cả về vấn đề Việt Nam, đặc biệt là trong một công tác được gán cho mật hiệu là “Pennsylvania.” Trong khi tham dự nhiều hội nghị quốc tế tại Paris, Kissinger có gặp một nhà vi trùng học người Pháp tên Herbert Marcovich. Marcovich cho biết ông có người bạn, một kỹ sư tên Raymond Aubrac, là chỗ quen biết với ông Hồ Chí Minh. Rất bén nhạy, Kissinger về Washington thuyết phục các cấp trên của ông dùng Aubrac làm đường dây với Hà Nội để điều đình. Chính phủ Johnson đồng ý và ngày 21 Tháng Bảy 1967, hai người Pháp cùng với Kissinger bay ra Hà Nội gặp Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng (11).


Và đó là “Pennsylvania,” nguồn gốc của hòa đàm. Tháng Năm 1968, Cyrus Vance, đại diện Hoa Kỳ và Hà Văn Lâu, đại diện Hà Nội đến họp tại Paris để thảo luận về chi tiết những cuộc hòa đàm về chiến tranh Việt Nam.


-Tư vấn cho Ðảng Cộng Hòa. Khoảng năm 1964, Kissinger đổi sang Ðảng Cộng Hòa.


*Trước hết là tư vấn cho Nelson Rockefeller, đối thủ của Richard Nixon. Nhà triệu phú Rockefeller, thống đốc tiểu bang New York, đã tuyển ông làm tư vấn về ngoại giao khi ra cạnh tranh với Nixon trong chức ứng cử viên tổng thống của Ðảng Cộng Hòa. Thời đó, Kissinger rất khinh miệt Nixon, cho ông này là người “nông cạn, tham quyền, chống cộng quá khích và có thể đưa Mỹ tới đụng độ nguyên tử với Nga Xô và Trung Cộng.” Ông còn nói với phe chống Nixon trước ngày họp đảng “Con người Nixon đó không thích hợp để làm tổng thống.” Ðể thuyết phục, ông thêm: “Trong ngần ấy những người ra tranh cử, Richard Nixon là con người nguy hiểm nhất nếu trở thành tổng thống.” Thế nhưng, tại Ðại hội đảng Cộng Hòa, ngày 8 Tháng Tám 1968, ông Nixon được Ðảng lựa chọn.


Khi thấy Rockefeller thất bại ngay lần bỏ phiếu đầu với số phiếu 277 so với 692 cho Nixon, Kissinger vô cùng buồn bã. Người ta kể lại rằng ông đã khóc. Ông còn nói: “Cái ông đó hả, ông ta không có quyền để cai trị” (12).


*Nhảy sang tư vấn cho Richard Nixon. Khinh miệt Nixon như vậy, mà khi ông này vừa được đảng Cộng Hòa tuyển chọn, Kissinger xoay chiều ngay. Dù biết rằng Kissinger coi thường cấp trên của mình, ban tham mưu của Nixon cũng nhận ra tài năng của ông ta. Chính ông Nixon cũng biết về thái độ thù nghịch của Kissinger, nhưng ông cho rằng đó chỉ là chuyện chính trị trước bầu cử (13). Phía Cộng Hòa liền đề nghị Kissinger cộng tác để làm việc cho đảng trong kỳ tuyển cử tới.


Kissinger vui vẻ quá sức. Người ta cho đây là “cơ hội chủ nghĩa” ở đỉnh cao nhất của nó (14). Lúc đó, Nixon đang cần có một nhà tư tưởng, nhà quân sư như McGeorge Bundy, Arthur Schlesinger của Kennedy hay Walter Rostow của Johnson. Là một luật sư, tuy có nhiều kinh nghiệm thực tế về chính sách vì đã làm phó tổng thống thời Eisenhower, nhưng ông Nixon thiếu cách diễn tả lưu loát về ngoại giao và những quan


niệm về cơ cấu quy mô của chính trị toàn cầu. Về điểm này, chúng tôi cũng có nhận thức được phần nào khi nghe ông Nixon tranh luận với ông Kennedy vào lúc bầu cử Tổng Thống hồi Tháng Mười Một, năm 1960. Ngồi trong gian phòng giải trí dành cho sinh viên tại Ðại Học Virginia, tôi được xem cuộc tranh luận đầu tiên giữa hai ứng cử viên tại nước Mỹ trên truyền hình, tuy là TV đen trắng và nhỏ xíu. Chắc là ông Kennedy có những cố vấn ở Ðại Học Harvard luyện cho trước cuộc tranh cãi, nên ăn nói lưu loát và bình luận về ngoại giao ở tầm lý thuyết cao. Còn ông Nixon thì mắt cứ chớp chớp, chỉ chống chế cho thành tích ngoại giao dưới thời Eisenhower. Sau cùng Nixon đã thất cử năm đó.


 


Tư vấn cho hai đảng một lúc


 


Trong kỳ bầu cử 1968, khi Henry Kissinger ngấm ngầm làm việc với phía Cộng Hòa qua Richard Allen, ông lại tiếp tục cộng tác với phía Dân Chủ qua Zbigniew Brzezinski, người điều hợp về ngoại giao cho Humphrey. Tác giả Seymour Hersh trong cuốn The Price of Power có dẫn chứng là Ted van Dyke, viên phụ tá thân cận của Humphrey có xác nhận chính ông đã là người tiếp nhận bức thư Kissinger viết cho Humphrey vừa chỉ trích Nixon vừa xin tình nguyện làm việc với chính phủ Humphrey. Trong một cuộc điện đàm với Brzezinski, Kissinger cho biết là ông có thể đưa cho xem cả hồ sơ riêng của Rockefeller về Nixon. Theo như lời Kissinger, đó là những “hồ sơ nhơ bẩn” (shit files) của Nixon (15).


Và ông cứ đi hàng hai như vậy cho tới giữa Tháng Chín khi những cuộc thăm dò dân ý cho biết Nixon đã bỏ xa Humphrey, lúc đó ông mới tỏ rõ thái độ, nghiêng hẳn về Nixon. Khi Brzezinski gọi điện thoại tới văn phòng Kissinger để hỏi xin hồ sơ này, cô thư ký trả lời: “Như ông đã biết, Tiến Sĩ Kissinger bây giờ đang làm việc cho ông Nixon rồi.” Và từ đó phía Humprey không nghe thấy gì về “shit files” của Nixon nữa (16).


Vào đầu thập niên 1990, khi tôi có dịp quen biết với Richard Allen (trước đó là cố vấn an ninh cho Tổng Thống Reagan), trong cương vị là thành viên của Hội Ðồng Quản Trị Trung Tâm Nghiên cứu Á Châu (Asian Studies Center tại Heritage Foundation) do Allen làm giám đốc, tôi tò mò hỏi xem ông nghĩ sao về việc đã giới thiệu Kissinger cho Nixon, Allen nhún vai, lắc đầu, như hối tiếc đã giúp cho tham vọng của ông này.


 


Lên chức cố vấn tổng thống


 


Ngày 27 Tháng Mười Một, 1968, sau khi Nixon thắng cử, ông John Mitchell mời Kissinger tới căn phòng của Nixon ở lầu 39 khách sạn Pierre, New York để gặp tổng thống tân cử. Nơi đây, Nixon mời Kissinger làm phụ tá an ninh quốc gia. Vui vẻ quá sức, nhưng ông vẫn tỏ vẻ ngần ngại, nói là cần có thời gian để suy nghĩ. “Ðược rồi, một tuần,” Nixon trả lời. Kissinger về hỏi ý kiến Rockefeller. Ông này đồng ý để tiến cử đệ tử mình. Ngày 20 tháng Giêng 1969, Nixon đăng quang, dọn vào Bạch Ốc, Kissinger dọn vào theo (17).


Tổng Thống Nixon là người muốn thành công ở lãnh vực ngoại giao nên muốn tập trung chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ vào tòa Bạch Ốc, chứ không giao cho ngoại trưởng như Tổng Thống Eisenhower đã giao cho ông John Foster Dulles. Và như vậy cũng rất khôn ngoan. Quyền lực và danh vọng của một tổng thống Mỹ thực ra chỉ được biểu lộ trong lãnh vực đối ngoại. Truman thả bom nguyên tử ở Hiroshima, Kennedy cho chiến hạm trực chỉ Cuba ép Krutschev gỡ hỏa tiễn về. Và ngày nay, ông Bush Cha thả bom Baghdad, bắt Iraq rút khỏi Kuwait; ông Bush Con, đánh đuổi Taliban và Al Qaeda khỏi Kabul. Rồi chiếm Iraq, lại bắt được Saddam Hussein trốn trong hầm. Ngay chính bản thân Nixon, khi làm Phó cho Tổng Thống Eisenhower cũng đã chỉ nổi tiếng về vụ “Kitchen Debate,” đốp chát với Krutschev ở trong một khu trưng bày đồ gia dụng nhà bếp tại hội chợ quốc tế ở Moscow.


Bây giờ lên đài, Nixon phải sáng chói. Cũng chỉ trong lãnh vực ngoại giao thôi. Vì trong thời hiện đại, có tổng thống Mỹ nào nổi tiếng về vấn đề nội trị đâu? Nền kinh tế Mỹ như cái máy tự động, khổng lồ, chỉ làm sao đừng bị lạm phát (dưới 4%), giữ thất nghiệp cho thấp (khoảng 5%) là tốt rồi, đâu có làm phép lạ được. Xã hội thì đã có nền nếp; luật pháp thì đã thành khuôn, chắc như đanh đóng cột. Khó mà làm được gì nổi bật trong địa hạt chính sách đối nội. Ngược lại chỉ thấy nhức đầu: tăng thuế cũng bị chửi, giảm thuế cũng bị la. Tổng Thống Johnson đã hái được nhiều thành quả trong nước, đặc biệt là đã để ý tới vấn đề xóa đói giảm nghèo, công bình xã hội, nhưng lại thất bại về mặt ngoại giao là chiến tranh Việt Nam, nên rồi cũng chẳng đi đến đâu. Hiện giờ (2005) TT George Bush vừa thắng nhiệm kỳ hai, ông đặt ưu tiên cho chính sách đối nội là sửa đổi lại hệ thống “an ninh xã hội” (social security system), nhưng rồi cũng sẽ gặp nhiều chống đối, và dù đa số ở Quốc Hội là Cộng Hòa, ông cũng sẽ phải đi đến thỏa hiệp nếu muốn thành công. Và sau cùng thì kết quả về chiến tranh Iraq cũng vẫn là yếu tố quan trọng xác định địa vị của ông trong lịch sử.


(Còn tiếp)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT