Phương Quỳnh
Do tuổi tác và hoàn cảnh sống nơi này, anh em thỉnh thoảng mới có dịp trò chuyện riêng. Hôm nọ, anh Hai ghé nhà chơi và tình cờ nhắc đến đứa con lớn của ảnh. Anh Hai vẫn gọi con trai mình là ‘bé,’ dù nó là sinh viên đại học năm 2.
Lần nào nghe anh mình gọi thằng cháu cao hơn tôi cả cái đầu, tôi hỏi thầm không biết cảm giác phải sống xa con buồn đau dường nào. Vậy mà con cái hay tỏ ra vẻ khó chịu (trong số đó thỉnh thoảng có tôi) khi cha mẹ hỏi ‘sao hôm nay con về trễ vậy’.
“Cha mẹ thương con biển hồ lai láng, con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày.” Quả thật vậy, con bịnh đau thì cha mẹ thức đêm thức hôm, trìu chuộng đủ điều để con mình chịu mở miệng ăn dù chỉ một muỗng cháo. Ðến khi cha mẹ lớn tuổi, sức yếu thì vì mưu sinh nhất là ở thời đại và xã hội này mà con cháu không thể ở cạnh chăm sóc. Có người vì hoàn cảnh, người vì lý do tự kỷ, mướn người chăm sóc hoặc đưa vào viện dưỡng lão, năm 12 tháng đến thăm chẳng mấy lần.
Gọi thăm hỏi thường xuyên, không cần bản thân đến thăm khi bận rộn không thể sắp xếp.
Lâu lâu gặp lần thì hãy gắng tỏ vẻ niềm nở đến thăm, xin đừng 5, 10 phút dòm đồng hồ dường như 24 giờ trong ngày đó có chỗ nào đáng đặt chân đến hơn là về bên cạnh cha mẹ mình.
Gọi cha mẹ ‘ông bà’, ‘ông bà già’, ‘ổng bả’, tôi nghe sao chua chát, nghèn nghẹn. Có lẽ tôi quá cổ hủ, đi sau thời đại văn minh mà quan trọng quá những điều nhỏ nhặt, so đo chi li?
Thật ra cũng không thể trách hết ở thế hệ sau.
Cha mẹ không nói, trong khi đó lớp trẻ thích nghe lời như ‘I love you’ luôn miệng. Còn hành động, cha mẹ Việt Nam quan tâm, lo lắng cho con qua hành động, ai tỉ mỉ, nghĩ thấu thì nhận thức được đó là tình thương của bậc trên. Bằng không, người đó cho rằng cha mẹ nuôi lớn, cho ăn học là hiển nhiên trách nhiệm, là bổn phận người sinh ra mình phải làm vì vậy mà có tệ nạn con cái cho những tiếng la rầy là ghét bỏ. Ðương nhiên cũng bậc cha mẹ vì lý do nào đó, thật khó hiểu, thường la mắng con dù con mình lo học, làm theo ý họ muốn. Phải chăng tư tưởng ‘khen’, như khi trẻ con mới chào đời, không được khen mà chỉ chê? Hay là đứa con đó lúc nhỏ lì lợm và rầy la quen miệng đến khi nó trưởng thành, đủ hiểu biết và sửa sai thành tốt mà bản thân cha mẹ không nhận ra? Cũng có thể cha mẹ biết con mình ra vẻ ngoan chỉ chờ cơ hội, khi nào đủ lông đủ cánh thì cao bay xa chạy?
Dường như khoảng cách giữa hai thế hệ càng xa, người Việt hải ngoại hay trong nước đều thay đổi. Ðối xử với con cái như bạn bè thì chúng tỉ tê kể lể chuyện riêng, bằng không “Ba Mẹ thế hệ khác, tụi con khác, đời nay thay đổi rồi” là câu trả lời thông dụng khi ‘bị tra vấn’ đang làm gì, đi đâu đó, đi với ai, khi nào về.
“Ðời nay thay đổi?” Không lẽ đời nay con còng lưng, mỏi mắt làm ra đồng tiền nuôi cha mẹ, phụng dưỡng ông bà? Hoặc là khi cha mẹ ra ngoài gặp bạn nhưng lỡ quên giờ, về trễ thì con cái lo lắng, trông đứng trông ngồi? Hoặc cha mẹ bịnh, mất vị giác lười ăn biếng uống mà con cái năn nỉ, tìm đủ trò và đút cha mẹ từng muỗng cháo một? Khi cha mẹ buồn, hờn dỗi bỏ bữa cơm, con cái có mấy ai gõ cửa phòng, vừa năn nỉ gọi ra ăn kẻo đói? Và đứng rồi ngồi, ngồi lại đứng với đôi mắt dán vào cửa phòng cha mẹ như khi con cái nhịn đói vì cha mẹ ‘có lỗi’ chăng?
Hay là ‘đời nay thay đổi’ khi chúng bí lối, không còn lý do nào để viện?






















































































