Nỗi nhớ quê nhà


Tác giả: (35-103)

Buổi chiều vào Ðông gió lành lạnh, bà uể oải nằm thiêm thiếp trong chăn ấm, đưa tay vén chiếc màn trắng nơi cửa sổ cạnh giường, ánh sáng vàng vọt chiếu vào phòng yếu ớt, nhìn chiếc đồng hồ treo tường thấy đã 4 giờ 30, bà thở dài buồn ngao ngán.

Chậm rãi bước ra phòng khách, bà lặng lẽ ngồi trên chiếc sofa cũ kỹ, nhìn ngoài kia mặt trời đã khuất dần sau rặng cây thông, trong không gian tĩnh mịch của những con đường quen thuộc, có tiếng ríu rít, líu lo của những đàn chim bay về tổ ấm. Bà tự nhủ một mình:

“Ông lại đi ra khu Sài Gòn nhỏ vui với bạn bè, bỏ bà một mình trong gian nhà vắng lạnh này nữa rồi”.

Bất chợt bà quay về với dĩ vãng nhớ lại những ngày Xuân xưa cũ. Hình như đã lâu lắm rồi khi còn thơ dại đã theo chân bố từ Sài Gòn lên Ðà Lạt lập nghiệp, cuộc đời bà gắn liền với mảnh đất thân yêu hiền hòa này, bầu bạn với luống hoa, với vườn cải… Rồi cho đến một ngày gặp ông, người con trai xứ Quảng, bỏ làng quê vào đây kiếm kế mưu sinh, đến hỏi bà về làm vợ lúc bà chỉ 17 tuổi.

Bà không thể nào quên được hình ảnh những buổi chiều trên sông Thu Bồn, khi lần đầu ông đưa bà về thăm quê chồng tại làng Kim Bồng sau này đổi tên “Cẩm Kim”, ngôi làng nhỏ có những mái nhà tranh lụp xụp, vách đất, nằm bên kia bờ sông là phố cổ Hội An. Bà cũng nhớ hai người hay ngồi dừng chân trong chiếc quán nước, nhìn những chiếc đò đưa khách qua lại ven sông tấp nập, đến khi trời tối mới quay bước về.

Từ ngày thằng Dũng nó đi vượt biên, hai ông bà luôn thương yêu trông ngóng, mong cho sớm có ngày qua Mỹ để gặp gia đình tụi nó và thăm mấy đứa cháu nội, chờ mãi hơn 12 năm mới được ra đi.

Ngày nhận giấy xuất cảnh, nhưng sao bà thấy buồn trong lòng khi biết ra đi có quay về được chăng? Khi đi rồi cũng sẽ nhớ đến Ðà Lạt, những bạn già trong xóm, hàng ngày ra ngồi nơi cái quán nhỏ bán thuốc lá bánh kẹo của bà, ăn trầu, chuyện trò không bao giờ dứt. Bà cũng đã từng làm chủ một khách sạn ở cuối phố trước năm 75. Giờ chỉ còn lại ngôi nhà để gia đình con cái sinh sống, của cải do hai ông bà gầy dựng lên, bị bọn họ chiếm giữ và đoạt hết sạch. Không bao giờ bà quên được 30 tháng 4 đen, gia đình tan nát, ông đi tù vì tội “Tư bản”, ba thằng con trai cấp bậc sĩ quan nên bị bắt đi “Tù cải tạo” mỗi đứa nhốt một nơi, thằng Nhân con lớn của bà hơn 6 năm mới thả về, bao nhiêu buồn khổ chồng chất bà khóc đến cạn dòng lệ và mờ đôi mắt.

Ông vẫn chưa về, bụng đói cồn cào, trông ngóng mãi bà tự đến tủ lạnh rót ly sữa uống và chờ ông ăn bữa cơm chiều.

Bà chạnh nhớ đến cái Tết vào năm 1976, bà cùng vợ thằng Nhân, tay xách tay mang đồ đạc và dẫn ba đứa cháu nội đi Tà Dôn thăm nuôi, trải qua biết bao gian khổ, lội qua đèo núi, cùng những bãi cát vàng nắng cháy da, bụi bám đầy lên người lên tóc, mồ hôi nhễ nhại lê lết mãi mới đến trại giam. Khi nhìn thấy con bà già nua áo quần rách vá, nước da cháy nắng đen đúa, gầy còm, đôi chân nứt nẻ khô cằn, bà khóc khi ôm chầm lấy nó.

Ngồi nghĩ mông lung bà nhớ lại Mùa Xuân đầu tiên ông bà cùng thằng Hậu và con Hòa bước xuống phi trường ở Mỹ, gia đình Dũng đón về, ai nấy vui cũng mừng ngày hội ngộ đến rơi nước mắt.

Bà cứ ngỡ rằng nó đưa ông bà về ở sẽ có cuộc sống tốt đẹp qua bao nhiêu năm sóng gió cách trở, nhưng ai có ngờ đâu sự đời thay đổi. Bà nghĩ con dâu bây giờ ảnh hưởng hội nhập theo nền văn hóa của Mỹ, nên không còn nhỏ nhẹ, điềm đạm, dễ thương, như ngày ở bên nhà. Mấy đứa cháu nội ngày đi Thằng Ðẹt, cu Sún, chỉ hai ba tuổi, cả ngày bọn nhỏ đi học, về đến nhà chuyện trò với nhau bằng tiếng Mỹ, tiếng Việt nói không rành rẽ, cho nên ít kề cận bên ông bà.
Bà nhớ có dạo ở nhà tụi nó, ông Hai thèm ăn mắm nêm, hôm đi chợ Phát Tài mua chai mắm để dành trong tủ, bữa cơm chiều có dĩa thịt heo luộc và tô canh rau, ông kêu con Hòa dọn ra.

Con dâu bà ngồi trong bàn ăn vẻ mặt cau lại, khó chịu lên tiếng: “Ba má đừng ăn món này trong nhà hôi lắm”, tụi con chẳng bao giờ đụng đến từ khi qua đây.
Ðêm nằm ngủ ông buồn và than với bà: “Sống ở đây sao nó tù túng và mất tự do, tui làm cái gì cũng không được, ăn cũng không ngon, biết vậy mình chẳng bán căn nhà qua đây làm gì”. Cả ngày ông đi ra đi vào quanh quẩn trong nhà, thật buồn chán, không như bên nhà rảnh rỗi ông đến nhà bạn bè, hoặc dạo chơi phố phường, ngắm cây cảnh làm thú vui.

Căn nhà của tụi nó cách xa khu Phước Lộc Thọ khoảng chừng 50 cây số, lâu lắm ba hay bốn tuần thằng Dũng mới đưa ông bà đi xuống dưới chợ Việt Nam mua thức ăn, ông vui khi gặp được người Việt để chào hỏi trò chuyện dăm ba câu. Chợ chỉ có vài cái nhưng không thiếu thứ gì cả, nước mắm, dưa cải, rau húng, cà pháo, cá khô, cá hấp bên này thứ gì cũng có.

Tình cảm giữa cha mẹ chồng và cô dâu ngày càng xa cách, không muốn gia đình nó xáo trộn và mất hạnh phúc vì có ông bà sống chung, nên hai tháng sau ông bà dọn đi xuống ở với thằng con trai lớn. Gia đình Nhân được định cư ở Mỹ theo diện H.O., qua đây chân ướt chân ráo nên cực khổ trăm bề. Bà nhìn cảnh tụi nó lam lũ thấy thương cho con vô cùng. Vợ chồng nó thuê căn nhà hai phòng chật chội, còn nhận hàng về may thêm để kiếm sống. Năm đầu tiên hai vợ chồng phải đi phụ nhà hàng, rửa chén, tối về mệt nhừ lăn ra ngủ chẳng còn thiết ăn uống gì thêm. Cố gắng làm việc cho các con có cơ hội đi học trở lại, để có tương lai về sau.

Những buổi sáng Mùa Ðông lạnh cóng con bà 4 giờ sáng đã phải thức dậy, ngồi ở garage, lốc hàng may cho kịp, bà nhìn nó làm lụng mà rơi nước mắt. “Bên này sao nó khổ vậy con, biết thế sự như vầy ba mẹ chẳng qua đây”.

Sáu tháng sau, hai ông bà dọn xuống khu Bolsa ở cùng với con gái, thuê một căn phòng nhỏ. Ông cảm thấy vui hơn vì ngày nào cũng ra khu Phước Lộc Thọ, ngồi xem mấy ông bạn già, uống cà phê, chơi cờ tướng, kể chuyện thời sự…

Một hôm ông cầm về nhà tờ báo Người Việt và nói với Hòa: Trong này có mục rao vặt con nên kiếm việc làm thêm, nhà ba sẽ lo cho mẹ con.

Tuần lễ sau, Hòa đã kiếm được việc làm trông nom cho người già, ngày Chủ Nhật mới về. Từ đó bà sống âm thầm buồn tênh, cứ mong cho đến cuối tuần con cháu ghé thăm, và con gái nó về nhà nấu nướng cho bà, thật tội cho con nhỏ.

Hai cái Tết xa xứ, quạnh hiu, buồn tẻ, thân thể bà đau yếu dần, bà bắt đầu quên những việc vừa mới xảy ra, già rồi. Ông chồng thì hời hợt, chẳng màng đến việc chăm nom gì đến bà.

Chiều 30 Tết rồi mà sao Hòa vẫn chưa về, bà thương nó quá một thân một mình lặn lội để tìm mưu sinh ở nơi xứ lạ quê người, tháng nào cũng đem tiền về cho ba nó tiêu dùng thêm. Màn đêm buông dần xuống, bà nghe tiếng bấm chuông cứ ngờ rằng con gái đã về, lòng mừng vui bà cuốn quyít ra mở cửa, vấp phải chiếc bàn bà té ngã, đầu gối và bàn chân sưng vù đau buốt, bà khóc tủi thân khi chợt thấy ông chủ nhà nâng bà dậy và ân cần hỏi han.

Bà có đau không? Tôi sẽ đi đón ông Hai về ngay nhé bà.

Bà trả lời: Xin cảm ơn ông, tôi bị nhẹ không sao.

Rồi bà lại lẩm bẩm: “Sao con Hòa giờ này vẫn chưa về ông ạ?”

Con gái về nhà ăn Tết 3 ngày, bà mừng vì có người kề cận và tâm sự, chuyện của bà không còn mạch lạc, bà đã quên dần, nhớ đến quá khứ xa xưa bà kể: Thằng Trí nó đi hành quân tận Qui Nhơn sao nó chưa về? Me nhớ có đan cho nó một cái áo len màu cà phê sữa nó còn mặc không?

Anh Trí đã chết từ năm 73 rồi, mẹ cứ nhắc hoài.

Thằng Nhân sao chưa đưa mấy cháu về chơi? Me để dành kẹo cho lũ nhỏ, con nhớ đưa cho tụi nó ăn. Chao ơi tụi nhỏ giờ đã có vợ rồi mà me dành kẹo cho, thật là thương cho bà quá.

Trước khi đi làm Hòa lo nấu mâm cơm cúng đưa ông bà, sau đó dọn ra cho cả nhà cùng ăn, bà hờ hững nhìn cá, cơm canh bày sẵn ra bàn mà chán nản, nuốt không trôi. Bà lau vội những giọt nước mắt vì biết con gái nó phải bỏ bà một mình đi làm cho người ta. Hòa chạy lại ôm chầm lấy bà, không muốn cất bước: “Me ở nhà nhớ giữ gìn sức khỏe, cố ăn cơm và uống sữa tươi con mua để dành trong tủ nhiều lắm.” Bà đứng tựa cửa nhìn bóng con khuất dần, nước mắt lại chảy dài.

Dần dà cơ thể bà bắt đầu suy yếu, đau vùng bụng… lưng, và tứ chi nhức buốt cử động khó khăn, bà đau nhói thở không nổi, sau cùng bà phải vào bệnh viện. Khi tỉnh bà gọi ông chồng và mấy đứa con trai lại nói lên nguyện ước của bà lần cuối: “Ông ơi cho tôi về lại làng Cẩm Kim, tôi muốn về thăm và được nằm xuống trên mảnh đất có dòng sông, với lũy tre ôm vòng quanh xóm và đàn cò trắng bay lượn trên những cánh đồng lúa xanh ngút tận chân trời”.

Ông hỏi:

Sao bà không trở về lại Ðà Lạt, nơi đó bà cũng gắn bó một thời thanh xuân cho đến khi rời xa xứ?

Thương ông nên chỉ muốn được gởi thân xác mình ở cái làng quê bên chồng mà tôi quyến luyến, ông đi đâu thì tui theo đó.

Ngày mai sẽ cùng ông đáp chuyến bay trở về lại Việt Nam, bà thao thức không sao chợp mắt để ngủ, chỉ hai hôm nữa bà sẽ về lại làng quê bên chồng tận Quảng Nam, bà nhớ món mì Cao Lầu bên phố cổ Hội An không đâu ngon bằng, sẽ về thăm khu chợ nhỏ ven sông với tiếng chào mời đầy thân thiện của người bán hàng nhớ những con đò chở khách, ồn ào náo nhiệt… và được hít thở không khí trong lành của miền quê thương mến…

Rồi đến đầu Mùa Xuân 2000 bà đã âm thầm từ giã ông ra đi vĩnh viễn trong căn nhà nằm ven bờ sông mà bà từng lưu luyến, nhớ thương.

Linh Phương
Long Beach Nov.30.2013

Tái bút: Vào dịp lễ Tạ Ơn, xin mượn nơi đây gởi lời cám ơn đến nhà tôi, người đã hy sinh và lo lắng cho gia đình khi qua đến Mỹ, cám ơn đất nước này đã mở rộng vòng tay giúp cho những người Việt qua đây tỵ nạn có được cuộc sống mới, tự do, và hạnh phúc.

Tôi vẫn không quên cám ơn tòa soạn báo Người Việt đã trao tặng cho tôi Tuyển Tập 30 năm Tỵ Nạn và Chuyện Ðời Tôi, vào ngày 15 Tháng Tư 2006.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT