Thung lũng tử thần (bài 23)



Vũ Ánh

LTG: Hồi đầu năm cháu nội tôi, Catherine Vũ 11 tuổi hỏi bố nó: “Tại sao ông nội bị tù, có phải ông nội phạm tội hình sự không?” Con trai tôi cũng chỉ trả lời đại khái là sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản, nhà cầm quyền mới đã bắt tất cả các cựu sĩ quan quân đội và cựu công chức từ cấp chỉ huy thấp nhất đến cao cấp nhất đẩy vào các trại cải tạo để trả thù. Năm nay con trai tôi đã ngoài 40, nhưng không thể nào giải thích chi tiết với con gái nó về những gì đã xảy ra cho ông nội và những người bạn tù khác của ông nội đằng sau những cánh cổng nhà tù ấy. Lúc tôi đi tù cải tạo, con trai tôi mới 6 tuổi và khi tôi trở về từ nhà tù thì nó đã là một thanh niên 19 tuổi và nằm trong danh sách những thanh niên không được đặt chân vào ngưỡng cửa của trường đại học vì cái lý lịch của tôi. Ðó là lý do tại sao tôi viết loạt bài này. Tôi hy vọng đây là một lời giải thích, một nhắc nhở với thế hệ thứ hai và thứ ba của không những người Việt Nam tị nạn ở hải ngoại mà còn ở trong nước để họ đối chiếu và so sánh khi cần.

Sức mạnh từ niềm tin hay phép lạ?

Trong bài 22, tôi có nhắc tới cách tiếp tế thuốc kiết lỵ cho Linh Mục Nguyễn Luân, một tu sĩ trẻ tuổi bị biệt giam kể từ khi bị bắt và phải đi qua nhiều nhà tù Cộng Sản khác nhau ở miền Nam Việt Nam. Ðiều khó khăn đầu tiên cho việc tiếp tế theo kiểu này là do sức khỏe của ngài đã rất mong manh. Tuy chỉ bị cùm chân phải ở bệ nằm bên phải của xà lim số 4, có nghĩa là nếu còn sức và đầu gối còn chắc ngài có thể lựa thế đứng bằng chân trái và chân phải bị cùm bị xoải ra tối đa và từ thế đứng như thế ngài có thể nhìn ra ngoài qua lỗ tò vò trên cửa biệt giam để ném ra một sợi dây có buộc một vật đủ nặng để kéo “hàng” lên cửa tò vò. Chờ đến đêm, tôi gõ tường để lên tiếng với Linh Mục Luân và đặt danh hiệu truyền tin cho ngài là Lima. Ngài cho biết không thể đứng lên lâu được, tối đa là 5 phút theo ước lượng và đồng thời vị tu sĩ cũng bảo đảm là có thể xe được một sợi dây dài vài thước từ một bao cát bằng nylon đang được sử dụng để nhồi tất cả tư trang vào làm gối sẽ được nối một đầu với một chiếc trong đôi dép Nhật bằng cao su ngài được mang vào biệt giam.

Như vậy nếu bạn tù Ð.B.P. ở xà lim số 9 chuyển cho xà lim số 7 và người từ xà lim 7 chuyển cho tôi, tôi chuyển cho số Lima ở xà lim số 4 là có thể an toàn hơn. Tôi liên lạc với số 9 dễ dàng, nhưng số 7 nhất định không lên tiếng. Nhưng do có lẽ nằm yên nghe câu chuyện liên lạc tương trợ giữa chúng tôi với nhau khá cảm động nên khoảng 5 giờ sáng thì người ở xà lim 7 lên tiếng cho biết có thể giúp đỡ chúng tôi. Anh tự chọn danh hiệu là Non Nước-Hồng Hà-Oanh Liệt cho biết anh là tù hình sự làm việc trong tổ chăn bò và trâu bị đưa vào biệt giam vì liên hệ linh tinh với dân khu kinh tế mới để gởi thư chui ra ngoài cho các bạn đồng tù. Giải quyết xong trạm chuyển tiếp này thì sáng hôm sau tôi cũng phải làm gấp một sợi dây bằng cách xe lại những sợi dây rút ra từ bộ quần áo may bằng bao cát của tôi và nối nó vào một chiếc dép trong đôi dép lốp do tôi tự làm và mang nó từ trại Hàm Tân Z-30C lên.

(Ghi chú: Dép lốp còn gọi là dép râu, một loại dép mà bộ đội Việt cộng hay mang. Năm đầu khi được trại cấp phát loại dép râu nội địa [có loại do Trung Cộng chế tạo], anh em nào cũng vất đi không ai chịu mang. Mà nếu có một bạn tù nào mang chúng thì lập tức sẽ bị chế diễu: Mày coi chừng ra ngoài bị bắn lầm đấy! Ý muốn nói rằng bên ngoài phe ta đang trường kỳ kháng chiến, anh nào đi dép râu ra ngoài họ tưởng mình là bộ đội Cộng Sản thì sẽ lãnh đủ, ráng chịu. Nhưng chỉ bước vào năm thứ ba của đời tù đầy, một số anh em tù cải tạo đã bỏ những tự ái này vì nó không thực tế. Làm lao động ở ngoài nương rẫy trong rừng sâu, không đôi giầy nhà binh nào kể cả giầy map của Mỹ là còn nguyên vẹn. Chúng rách nát cũng như thân thể bị lưu đầy của người tù cải tạo vậy. Nhiều gia đình cũng tiếp tế cho chồng con đủ thứ giầy vải, nhưng nếu chỉ từ 3 đến 6 tháng là cần một đôi khác thì không phải gia đình nào cũng chịu nổi. Cuối cùng dép râu trở nên phổ biến trong số những người tù khổ sai như chúng tôi. Nhà văn Ðỗ Tấn Xuân, một bạn vong niên trong ngành truyền thanh cho tôi hai miếng đế dép râu cũ khi còn ở Z-30C và tôi nhờ các anh em tù hình sự kiếm cho mấy quai dép bằng lốp xe máy cày hay xe tải cho bền. Nó thay thế cho đôi giầy vải bằng bố đen của tôi rách không còn cách nào vá lại.)

Khoảng 5 giờ sáng hôm sau, trước giờ điểm số biệt giam một giờ, tôi liên lạc với 9, 7 và 4 để xem mọi thứ đã sẵn sàng chưa. Nhưng Ð.B.P. không biết lấy gì để làm vật nặng (chúng tôi gọi đùa là warhead = đầu đạn hạt nhân). Tôi hỏi 9: “Phú Quốc-Hồng Hà có ca đựng nước không? Lấy ra làm tạm warhead vậy, nhưng nhẹ nhàng thôi, bể ca nước là Phú Quốc Hồng Hà nhịn uống luôn đấy”. Chúng tôi quyết định chuyển thuốc cho vị tu sĩ Công Giáo trẻ tuổi này vào sau giờ phát cơm trưa là an toàn, vì giờ trưa, sau khi phát cơm tù là từ trực trại cho đến vệ binh cũng phải kéo nhau lên nhà ăn. Chúng tôi có một giờ đồng hồ để “phóng đầu đạn”. Và như thế, Ð.B.P hay Phú Quốc-Hồng Hà phải uống phần nước ít ỏi của mình ngay sau giờ phát cơm trước khi dùng ca nhựa làm “đầu đạn” chuyển hàng. Phú Quốc-Hồng Hà cho biết không cần bàn cãi về chuyện ấy vì chuyện chuyển thuốc cho Lima không thể chậm trễ. Nói thì dễ, nhưng khi khởi sự thì mới thấy nó khó khăn chừng nào. Phải mất đến hơn 10 lần Phú Quốc-Hồng Hà mới quăng được chiếc ca nhựa có mang theo những viên bông tẩm streptomycine vào ngay trước cửa xà lim 7. Người tù hình sự Non Nước-Hồng Hà-Oanh Liệt tỏ ra rất thông thạo trong việc chuyển hàng trong xà lim nên việc anh lấy hàng lên để chuyển cho tôi không có gì khó khăn và chỉ mất không đầy 2 phút. Tôi nhận hàng từ xà lim 7 chỉ vài phút sau đó. Cái “đầu đạn” của Non Nước-Hồng Hà-Oanh Liệt là một chiếc muỗng đẽo bằng gỗ cẩm lai nên có sức nặng vừa đủ để có thể rơi chính xác trước cửa xà lim 5 của tôi, nhưng nó lại nằm ở quá sát cửa nên khó dùng sợi dây có buộc chiếc dép râu của tôi để trục hàng lên được. Tôi thử vài lần đều thất bại thì chợt nghĩ đến chiếc quai xách của thùng nước tiểu. Việc tháo chiếc quai ra khỏi miệng thùng không có gì khó khăn. Tôi uốn chiếc quai thùng thành cái móc để có thể đưa nó qua khe hở giữa cánh cửa và mặt sàn để kéo hàng vào được. Vấn đề là phải chùng người xuống, đầu gối trái quì xuống mặt sàn và như thế chiếc cùm ở chân phải xiết vào cổ chân có thể khiến tôi rất đau, có thể trầy da và nhiễm trùng. Tuy nhiên, tình thế đòi hỏi nên tôi cũng phải cố gắng hết sức mới có thể quì bằng đầu gối trái xuống mặt sàn còn chân phải cố chịu đựng cơn đau thấu xương ở mắt cá chân. Trong vòng 30 giây, tôi phải quơ chiếc quai thùng làm sao cho sợi dây gởi hàng của Non Nước-Hồng Hà-Oanh Liệt lọt vào phần uốn cong của chiếc quai và kéo vào ngay vì không thể chịu đau quá nửa phút. May mắn đã đến với tôi vì chỉ hai lần quơ chiếc quai thùng là tôi đã móc vào được sợi dây nối chiếc muỗng gỗ. Kéo vào thấy hơi nặng tôi biết mình đã thành công.

Tiếng chiếc muỗng gỗ chà xuống thềm xi măng nghe như lời reo vui chiến thắng. Nhìn thấy bọc nhựa nhỏ bằng đầu đũa, tôi kéo vào và lấy hàng ra khỏi sợi dây rồi cố hết sức mình đứng dậy nói qua cửa tò vò: “Nhận 5”. Nghỉ một lát, tôi gọi cho Lima để ngài chuẩn bị nhận hàng: “Lima phải cố gắng hết sức, phi vụ không thể kéo dài vì vệ binh có thể đi tuần trở lại”. Lima trả lời bằng cách gõ vào tường 3 tiếng. Lập tức tôi đưa chiếc dép râu có buộc hàng bằng một sợi dây vải bao bố ra ngoài cửa tò vò và ném nhẹ sang cửa xà lim 4. Lima gõ 3 tiếng có nghĩa là ngài đã nhìn thấy hàng. Một lát sau, nghe Lima gõ vào tường 3 tiếng thay cho tiếng “Nhận 5”, tôi kéo chiếc dép về và trên quai dép râu không còn bọc nylon nữa. Chưa bao giờ trong cuộc đời tôi kể từ tuổi mới lớn cho đến giai đoạn tù đầy vào lúc đó có một niềm vui nào lớn hơn là niềm vui tôi có buổi trưa hôm ấy. Buổi tối, khi bóng đêm đen bao trùm trong xà lim, khi các đàn muỗi bắt đầu tấn công chúng tôi, tiếng linh mục Vàng (trong xà lim chúng tôi đặt danh hiệu truyền tin cho ngài là Vẻ Vang-Anh Dũng-Non Nước-Gio Linh, muốn ngắn gọn hơn chúng tôi gọi ngài là Vẻ Vang-Anh Dũng) từ xà lim 10 vang lên: “Các bạn ơi, tôi đã khóc nhiều khi thấy các bạn chia sẻ và tương trợ nhau như vậy. Chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện, tùy theo tôn giáo của mình giúp Lima thêm sức vượt qua cơn bệnh hiểm nghèo”. Suốt đêm ấy chúng tôi cầu nguyện cho tới 4 giờ sáng. Tôi là Phật tử nhưng lại chỉ thuộc có mấy câu đầu của chú Lăng Nghiêm: “A Na Lệ, Tỳ Xá Ðề, Bệ ra, Bạt xa ra, Ðà rị” và niệm hồng danh Phật A Di Ðà, nhưng cứ như thế, tôi dọc hàng ngàn lần. Một giờ đồng hồ trước khi cửa các xà lim mở để điểm số, định nằm xuống nghỉ lưng thì tôi nghe tiếng Lima vang lên chậm rãi thông báo: “Tôi… tôi… tôi… đã… đã… đã… đánh…. đánh… đánh rắm… rắm… rắm… được… được… được… Còn… hai… hai… hai… viên… viên… viên… nữa… nữa… nữa…”

(Ghi chú: Tôi ghi nguyên văn cách loan báo tin mừng rất mộc mạc của vị tu sĩ trẻ tuổi nhưng đáng kính để cho thấy rõ sự vui mừng như thế nào trước dấu hiệu cho thấy vi trùng kiết kỵ đang bị đẩy lui).

Hai ngày sau đó, Lima đã loan báo không còn đi ra máu và đờm. Trong hoàn cảnh đó, chúng tôi chỉ còn có cách là tin vào một phép lạ đã cứu giúp chúng tôi. Khi được thả ra khỏi nhà tù vào năm 1988, tôi gặp lại một bạn tù vốn là một cựu thiếu tá quân y, anh L.N.A., một bác sĩ giải phẫu phục vụ tại Tổng Y Viện Cộng Hòa vào đầu thập niên 1990 và trong câu chuyện tôi có hỏi anh về mấy viên bông tẩm nước cặn của streptomycine. Anh cười và giải thích: “Trong đời, tôi chưa từng nghe thấy ai trị kiết lỵ kiểu này. Chỉ còn cách giải thích là lúc bí, bản năng sinh tồn giúp cho chúng ta bấu víu vào tất cả những gì mà mình tin nó là cái phao cứu mạng. Streptomycine chế từ một loại nấm và có thể là nó có một tác dụng nào đó với vi trùng kiết lỵ không chừng. Tôi không nghiên cứu nên không biết được. Vấn đề như các cậu nói, nó đã có tác dụng ít ra cũng đối với một người là vị linh mục trẻ ấy. Nhưng tôi khuyên các cậu là sống ngoài xã hội này rồi, thuốc cũng còn hiếm, nhưng cậu nào dính kiết lỵ thì đừng có tự chữa như thế. Không đủ tiền đi bác sĩ thì chịu khó đến tôi, chẳng tiền bạc gì đâu”.
Giữa năm 1982, tôi lại phải trải qua một thời gian nhục hình khác sau khi có một cuộc hoán chuyển (mà anh em chúng tôi thường gọi là xóa bài làm lại) nhân số trong khu biệt giam. Ðợt hoán chuyển này là đợt lớn nhất so với thời gian khi Linh Mục Nguyễn Luân bị chuyển từ xà lim 7 sang xà lim 4 lúc tôi bị đưa vào xà lim số 5. Tôi lại quay về xà lim 3 cùng với T.D.S. Sau đó, N.Ð.Q. và T.C.L. cũng từ 1 và 2 chuyển sang 3 và như thế xà lim 3 phải chứa tới 4 người. Tình trạng dồn phòng và nằm cá hộp như thế này dĩ nhiên tạo khó khăn cho việc đi tiêu, đi tiểu của những người bị cùm cùng bệ nằm nằm nhưng lại bị cùm vào nằm sát tường. Ð.B.P. bị chuyển từ xà lim 9 về xà lim 5 ở chung với bạn tù hình sự từ xà lim 7 chuyển sang. Như thế các xà lim 1, 2, 7, 8, 9 còn trống. Hai linh mục N.Q.M. và N.D.C. được chuyển vào bệnh xá trong Phân Trại B. Và đúng như suy nghĩ của tôi, một ngày sau đã có 3 tù cải tạo mới bị đưa vào biệt giam vì những vụ việc khác nhau: Cựu dân biểu vốn là bí thư tỉnh ủy Việt Nam Quốc Dân Ðảng tỉnh Quảng Nam là K.T.V. và một trong những thủ lãnh chính trị trong vụ nhà thờ Vinh Sơn là L.Q.M. Ðến nửa khuya, cựu hồi chánh viên Huỳnh Cự bị đưa vào xà lim 2. Cựu dân biểu K.T.V. nằm xà lim 7 và L.Q.M. vào “trấn” ở xà lim số 1 ngay đầu dãy.

(Còn tiếp)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT