Từ Bình Ngô Ðại Cáo đến ‘Việt Nam Tôi Ðâu’

Ðỗ Quyên


 


Lời nói đầu


Trong một vài bài trước chúng tôi đã có dịp bàn về tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của tiền nhân ta, để từ đó có một cái nhìn đối chiếu với hoàn cảnh chính trị hiện nay tại Việt Nam. Chúng tôi cũng đề cập đến ảnh hưởng của tinh thần yêu nước chống ngoại xâm ấy qua văn thơ Việt Nam, cụ thể là Văn học chữ Hán… Việc làm này không ngoài mục đích chia sẻ cái nhìn, phản ảnh mối quan tâm cá nhân cũng như với những ai vẫn thao thức với tương lai của dân tộc, ở Việt Nam cũng như nơi hải ngoại… Gọi là:


-để tỏ lòng biết ơn tiền nhân đã dày công gây nên sự nghiệp xây dựng đất nước, mở mang bờ cõi.


-một chút ý kiến đóng góp vào công cuộc chung: Chống TC xâm lăng và VC bạo tàn đối với dân, lơ là đối với đất nước và chỉ lo thủ lợi, từ trên xuống dưới.


-để thấy rằng tình trạng đất nước VN hiện nay làm chúng ta liên tưởng đến tình trạng ngoại thuộc dưới ách hộ của Trung Hoa xưa; nhưng là một hình thức đô hộ kiểu mới, dưới hình thức mới.


-để thấy cảnh “tang thương ngẫu lục” bày ra trước mắt ở VN ngày nay quả là một “Lò cừ nung nấu sự đời, bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương.”


Thiết nghĩ trong hoàn cảnh hiện nay, nếu có dịp tìm về một chút hoàn cảnh xã hội xưa qua thơ văn cũ hẳn cũng không phải là việc làm phi lý. Tuy nhiên, trong khi trân trọng những giá trị của người xưa, mở lại trang sử cũ, người viết không có ý định đi sâu vào phân tích từng câu, từng chữ như việc làm trong một lớp học, vì như thế không phù hợp với mục đích và “khung cảnh” của bài này. Vả lại, việc phân tích hay bình luận văn chương trong khuôn khổ bài viết này có thể làm cho độc giả cảm thấy…. nặng nề (?).Vả lại, ở một lúc nào đó, khi cần tìm hiểu thêm chi tiết, cũng đã có sách giáo khoa đáp ứng. Do đó, người viết chỉ xin nêu lên một vài khía cạnh tiêu biểu qua bài BNÐC.


 


Bình Ngô Ðại Cáo, bản tuyên cáo về tội ác giặc Minh


 


Như lịch sử đã chứng tỏ, ngày xưa dân ta từng nhiều năm sống dưới ách đô hộ của Trung Hoa, đã nhiều lần vùng lên chứng tỏ tinh thần quật khởi, thì văn chương chữ Hán cũng đã góp phần không nhỏ trong công cuộc tranh đấu chống ngoại xâm ấy. BNDC là một ví dụ cụ thể.


Là một áng văn hùng tráng – đã để lại tiếng vang trong lịch sử đấu tranh của dân tộc, Bình Ngô Ðại Cáo ra đời trong hoàn cảnh nước ta bị Tàu đô hộ, dưới sự khiếp nhược của triều đại nhà Hồ, khoảng thế kỷ 15. BNÐC đã vẽ ra cảnh tượng nhân dân lầm than khốn khổ để đánh dấu thời kỳ độc ác của quân nhà Minh; đồng thời, biểu dương ý chí chiến đấu và tinh thần nhẫn nại của Bình Ðịnh Vương Lê Lợi trong khi tìm phương kế cứu nước khỏi ách đô hộ. Sau mười năm gian khổ, Lê Lợi đã bình định xong giặc Minh và lên ngôi hoàng đế. Bình Ngô Ðại Cáo do đó, mang giá trị lịch sử còn được lưu truyền cho đến đời sau. Và, Nguyễn Trãi, một bậc khai quốc công thần, từng là linh hồn của cuộc kháng chiến chống quân Minh, chính là tác giả của áng văn chương bất hủ này.


Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, người viết cũng như bao nhiêu bạn bè cùng thời, cùng trang lứa, đã vô cùng cảm kích. Ðem ứng dụng với hoàn cảnh đất nước ngày nay thật không còn gì chính xác cho bằng! Từ cảnh dân oan bị tước đoạt nhà đất, chùa chiền nhà thờ bị tịch thu, người dân uất ức biểu tình thì bị đánh đập chẳng khác nào thời kỳ đô hộ quân Minh xưa. Thật chẳng khác nào đem:


“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,


Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”


Nếu ngày xưa trong hoàn cảnh điêu đứng của đất nước, trước sự tham bạo của người Tàu, vẫn có kẻ hèn hạ, khiếp nhược mong được hưởng phú quý, vinh hoa như đã được vạch rõ trong “Bình Ngô Ðại Cáo” (BNÐC): “Quân cuồng Minh đã thừa cơ tứ ngược, bọn gian tà còn bán nước cầu vinh.” Thì ngày nay nhìn cảnh “người lầm than đói khổ nghèo nàn, kẻ quyền uy giàu sang dối gian” mô tả trong bài hát “Việt Nam Tôi Ðâu,” cũng tương tự cảnh lầm than thuở trước, thì ai mà không khỏi chạnh lòng? Và không khỏi hình dung ngay cái ách đô hộ của Tàu ngày xưa. Còn hy vọng nỗi gì về tương lai của đất nước? Ai có lòng đối với đất nước mà không thắc mắc “Việt Nam còn hay đã mất?” như một Việt Khang?


Có thể trả lời ngay rằng: Nước “Việt Nam còn (mà) như đã mất.” Người Việt Nam “sống” mà như đã “chết” (Chết cả tâm hồn). Trong khi đó thì “giặc Tàu lan tràn trên quê hương ta.” Rõ ràng là cả một tiếng kêu ai oán cho tình cảnh quê hương, đất nước, dân tộc. Có khác gì thủa xưa? Ai làm ra nông nỗi này, và hỏi ai mà không xót xa, căm phẫn? Hơn thế nữa, những hành vi “bại nhân nghĩa nát cả càn khôn” thì đầy dẫy. Hiện nay chẳng cần nêu lên, chính người dân đã là nhân chứng rõ rệt nhất của hoàn cảnh này.


Nếu Bình Ngô Ðại Cáo lên án “bọn gian tà còn bán nước cầu vinh” thì khi nhìn vào thực trạng đất nước hiện nay, sao mà giống thế? Thân phận người dân cũng lầm than không kém.


Ðiều khác biệt là ngày xưa từ vua đến dân đều cũng một lòng diệt giặc. Ngày nay, người dân xem ra không có quyền yêu nước. Hễ yêu nước nói lên tiếng nói thẳng thắn thì bị bỏ tù, mà bỏ tù bởi chính người cùng dòng máu. Còn “đau” hơn thủa trước!


Ðiều khác biệt là ngày xưa, người dân chỉ lo một kẻ thù chung là giặc Tàu xâm lăng. Ngày nay thì dân một mình phải chịu đựng, chống trả, dưới hai tầng áp bức.


Và điều khác biệt, đáng mỉa mai hơn cả, là ngày xưa nhân dân ta sống dưới chế độ quân chủ, nhưng lại được vua quan xử sự công bằng, dân được coi trọng và hỏi han ý kiến. Trong khi đó, ngày nay, người dân Việt “được” sống dưới chế độ “dân chủ” – lại còn gọi là “Dân Chủ Cộng Hòa” nữa – mà người dân lại không có quyền làm chủ, không được quyền nói năng, dù là ý kiến xây dựng!


Ðiều đáng mỉa mai nữa là ngày xưa cha ông ta mở mang bờ cõi, một tấc đất là một tấc vàng, còn thời buổi “dân chủ” ngày nay ở nước ta thì đất nước bị cắt, xén, nhượng bộ cho lân bang, coi kẻ ngoại xâm như ruột thịt, còn người cùng nước phản kháng thì bị bắt ngồi tù.


Ðiều quái lạ nhất là, nếu ngày xưa cha ông ta oanh liệt chống ngoại xâm, thì ngày nay, khi bọn Trung Cộng xâm lấn Biển Ðông, sách nhiễu ngư dân, thì không thấy chống trả… Bọn Trung Cộng làm những điều “bại nhân nghĩa, nát cả càn khôn,” ngư dân Việt Nam bị đánh đập thì không ai bênh vực. Người dân nghèo khổ, hiền lành, thấp cổ bé miệng chỉ biết van lạy, xin tha. Nhìn cảnh tượng ấy, liên tưởng đến thời kỳ đô hộ xưa lòng người không khỏi cảm thấy bất nhẫn.


Còn đâu là niềm tự hào dân tộc? Còn đâu thái độ bất khuất trước ngoại bang? Còn đâu những tấm gương xây dựng đất nước vẻ vang do tiền nhân để lại có còn chút nào không?


Nếu ngày trước người dân Việt cảm thấy hãnh diện bao nhiêu, thì ngày nay đi đến đâu ta không khỏi cảm thấy nhục nhã khi nghe hỏi tới Việt Nam. Còn gì là tự hào khi những tệ đoan xã hội, nạn buôn người, bán cô dâu, nô lệ trẻ em, “xuất khẩu” lao động vẫn nhan nhản xảy ra, chưa kể nạn tham nhũng đang hoành hành khủng khiếp?


Tự hào thế nào được khi mà, trên hết cả, và nổi bật nhất, khi phương thức đối phó với ngoại bang là thái độ khiếp nhược trước kẻ xâm lăng, là hành vi bán đất cho láng giềng hòng mưu cầu danh lợi ? Những việc làm tồi tệ ấy “trúc rừng không ghi hết tội.”


Còn gì mà không buồn?


– Một điểm rất đáng lưu ý là nếu xã hội quân chủ ngày xưa là lấy nhân nghĩa làm nền tảng. Cha ông ta, từng căm hờn khi đất nước bị đô hộ, nhưng một khi đất nước đã giành được độc lập thì lại đối đãi với kẻ bị thất trận bằng cả tấm lòng Nhân. Khi còn dưới ách thống trị thì “quên ăn vì giận.” Nhưng đến khi chiến thắng, thì lại tỏ lượng khoan hồng:


“Ðem đại nghĩa để thắng hung tàn; lấy chí nhân mà thay cường bạo…”


Chứ có đâu đem người dân – cùng màu da, cùng dòng máu – nhốt vào những nhà tù lớn, nhỏ ngay từ khi nước nhà đã được “độc lập”? (độc lập theo kiểu XHCN?)


Càng uất nghẹn hơn khi giới trẻ yêu nước nói lên tiếng nói thương nòi, đau lòng trước cảnh quốc phá gia vong, thì bị bắt cầm tù. Nếu BNÐC nói lên nỗi uất ức của tiền nhân thì ngày nay “Việt Nam Tôi Ðâu” người dân cũng “đau từng cơn” khi nhìn dân tình “lầm than đói khổ nghèo nàn.”


Không lẽ cả một đất nước như vậy để những nhà tranh đấu như: Tạ Phong Tần, Blogger Ðiếu Cày, anh Ba Sài Gòn, hay như người nhạc sĩ trẻ tuổi kia phải chịu “riêng oan một mình”?


 


Một cái nhìn khai phóng


 


Trên đây người viết đã trình bày một cái nhìn sơ lược về nền văn học chữ Hán, một bộ phận trong Văn Học Yêu Nước chống ngoại xâm của dân tộc. Văn học ấy của ông cha ta ngay trước, được sử dụng trong hoàn cảnh đặc biệt, khi nước nhà chưa được độc lâp, nhất là khi ta chưa có chữ viết riêng. Nhắc đến chỉ để chứng tỏ một điều:


– Chúng ta không phủ nhận giá trị tư tưởng xưa của tiền nhân.


– Chúng ta trân trọng và gìn giữ văn học này, cần cho việc nghiên cứu những tài liệu xưa. Vì tất cả nhũng tư tưởng tình cảm của người xưa được gói ghém trong nền văn học này.


– Tuy nhiên kể từ khi có chữ quốc ngữ, nhân dân ta không phải mượn thứ chữ Hán của người Tàu nữa. Thật là đáng mừng khi ta đã thoát ly khỏi ảnh hưởng của họ về phương diện này.


– Quốc ngữ là chữ nước ta, là tiếng nước ta. Bao lâu nay ta không phải lệ thuộc người Trung Hoa nữa. Do đó ta cũng không có nhu cầu cần phải tiếp tục học thứ chữ này, trừ trường hợp người muốn học để khảo cổ. Nhất là ta không thể dửng dưng trước hoàn cảnh đất nước đang cơn dầu sôi lửa bỏng như hiện nay tại quê hương ta. Chuyện “áp đặt” có thể xảy ra, nhưng dân ta có quyền cự tuyệt, bởi lẽ ngày nay ta đã có chữ Quốc ngữ. Sẽ rất vô lý, nếu ta bị ép buộc học tiếng Tàu. Người cầm quyền Việt Nam nếu khôn ngoan thì không bắt dân phải làm việc này để vừa lòng bọn quan thầy phương Bắc như đã từng làm lắm điều nghịch lý trong quá khứ. Nếu không thì sẽ “tức nước, vỡ bờ.”


Chữ Hán, có thể coi như là một “tử ngữ” đối với người Việt Nam, vì nhiều lý do: Giá trị phổ biến không được bao nhiêu. Người học chỉ học chữ nào biết chữ đó. Vì thế các nhà Nho xưa phải văn hay chữ tốt lắm, học vấn uyên thâm “thiên kinh vạn quyển,” mới dám tự tin để trổ tài văn chương, chữ nghĩa. Dù học đến cả mười (10) ngàn chữ cũng mới chỉ có thể gọi là đọc được, viết được thứ chữ cầu kỳ này. Trong khi đó thì đại chúng bình dân, những người nghèo không được đi học. Chữ viết thì phức tạp, nhiều nét tương tự mà người mới học, chưa nắm vững thì sẽ dễ bị lầm lẫn.


Như vậy, học chữ Hán có lắm cái bất tiện. Phải thích thú thì mới học được. Ðối với thời buổi văn minh hiện nay, làm gì cũng nhanh như điện, người ta đâu cần phải khổ công như thế


Nếu đem so sánh với chữ Quốc ngữ thì thấy giản dị hơn nhiều. Chỉ cần 24 chữ cái, dùng mẫu tự La tinh, là ta có thể diễn đạt hàng triệu, triệu từ, nên phổ biến dễ dàng, dễ đọc và dễ nhớ.


Là người Việt, chúng ta dùng tiếng Việt chính là một hình thức “ta về ta tắm ao ta.” Và, một điều đáng mừng là tiếng Việt (chữ Quốc ngữ, tiếng nói) ngày nay ở hải ngoại cũng vẫn được phát triển ngày càng sâu rộng.


Chắc chắn rằng, song song với việc học tiếng Anh là chính, con em chúng ta cũng được cha mẹ cho đi học thêm tiếng Việt ngoài giờ ở trường. Ðây là một điều rất quý, vừa là đề gìn giữ tiếng mẹ đẻ, vừa giữ gìn văn hóa dân tộc nữa.


Trong khi đó để vun xới lòng yêu nước, các em vẫn được phụ huynh hướng dẫn cho biết những gì đang xảy ra trong nước, để khi lớn lên các em có sẵn một vốn kiến thức về quê hương và hoàn cảnh đất nước mình. Sau này khi lớn lên, các em sẽ có dịp sử dụng tiếng Anh để diễn tả và phổ biến cho người nước ngoài biết. Ðó cũng là một hình thức “truyền thông đại chúng” ở trong lứa tuổi và “thế giới học sinh” của các em.


Vì thế, thay vì cổ võ học tiếng Hán, chúng ta cổ võ học tiếng Việt, và tiếng Anh cho thật giỏi vì đó là điều cần thiết trong vấn đề giao tế thường nhật, trong công ăn việc làm; trong việc học hỏi cầu tiến và nhất là trong lãnh vực vận động ngoại giao (ngoại trừ nhũng em người Việt gốc Hoa).


Tương lai của tuổi trẻ đầy hứa hẹn, mà việc bồi đắp cho các em về văn hóa bắt đầu từ bây giờ là điều cần thiết. Tiếng Anh, tiếng Pháp từ lâu vốn là ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới hiện nay. Nhất là tiếng Anh. Và thế hệ trẻ đang đi trên con đường ấy. Nhiệm vụ của chúng ta chỉ là khuyến khích và yểm trợ. Riêng tiếng Việt thì hy vọng là các em sẽ được nhắc nhở. Những bài ca như “Anh Là Ai?” và “Việt Nam Tôi Ðâu” mà các em “ngân nga,” là những bài học nhắc nhở cho các em, cả về chữ viết, tiếng nói cũng như tinh thần chống ngoại xâm.


(Dĩ nhiên, người viết không phủ nhận giá trị của chữ Hán về mặt ý nghĩa. Nếu biết được chữ Hán thì cũng dễ “mê” chữ này, vì mỗi chữ đều có ý nghĩa, ghép lại rất hay và rất thi vị. Nhưng đó không phải là một nhu cầu bắt buộc đối với dân ta).


Tóm lại,


Trân trọng giá trị chữ Hán, tôn quý văn học chữ Hán, kho tài sản quý của dân tộc, ghi nhận tinh thần yêu nước của người xưa qua thơ văn, để có thể hiểu và tự hào về giá trị tinh thần của dân tộc, là điều chính đáng. Nhưng không có nghĩa là ta cứ phải “khư khư” bám lấy những gì không còn nữa. Chúng ta luôn luôn cầu tiến để không giậm chân tại chỗ. Chúng ta không hoài niệm quá khứ hay nuối tiếc những gì đã qua, mà ngậm ngùi than tiếc. Trái lại, ta luôn luôn hướng về tương lai với ý nghĩ lạc quan và niềm tin tưởng vào một ngày mai tươi sáng của dân tộc. Ngày ấy chắc chắn phải tới. Và chắc chắn ra không thể quên rằng:


“Người Việt còn thì tiếng Việt còn. Tiếng Việt còn, thì Tình Yêu Nước còn.”


Hơn nữa, còn ngoại bang xâm lấn, thì Tinh Thần Chống Ngoại Bang sẽ còn tiếp tục, và chương trình “Chống Trung Cộng, Diệt Việt Cộng” sẽ phải còn mãi mãi…


Vancouver, một ngày đầu Thu

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT