Ngân Hàng Trung Ũơng Hoa Kỳ

 


Hùng Tâm/Người Việt


Vì sao biện pháp QE không gây lạm phát? Cũng chẳng kích thích kinh tế?

Trong năm năm qua, kinh tế Hoa Kỳ gặp rất nhiều trở ngại gọi là “ngược gió” theo thuật ngữ đầy ví von của kinh tế học. Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ phải đối phó bằng hàng loạt biện pháp tiền tệ, trong đó có một loại biện pháp bất thường đã gây thắc mắc và tranh luận, gọi là “quantitative easing.” Hồ Sơ Người Việt cố gắng tìm hiểu về biện pháp rất chuyên môn này và trình bày thật đơn giản để mọi người có thể phần nào hiểu ra nội dung.


Những biện pháp ứng phó

Khi kinh tế bị suy trầm và thất nghiệp tăng, hai cơ chế Hoa Kỳ có thể tung ra những biện pháp kích thích kinh tế. Ðó là chính quyền Liên Bang và Hệ Thống Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang, gọi là Federal Board of Reserve hay thường được viết tắt là Fed (khác với Feds là chữ viết tắt về cơ quan FBI). Chúng ta lần lượt nói về đại cương của hai cách ứng phó này.

Chính quyền Hoa Kỳ có thể gia tăng công chi, bơm thêm tiền và tạo ra nhu cầu để từ đó thúc đẩy sản xuất. Biện pháp thuộc lãnh vực ngân sách này chưa đủ công hiệu mà còn gây thêm bội chi ngân sách (chi nhiều hơn thu) khiến chính quyền Liên Bang phải vay thêm tiền. Vay tiền là phát hành trái phiếu (giấy nợ, của công quyền thì gọi là công khố phiếu). Vì thế khối công trái (nợ của khu vực công) đã lên tới mức kỷ lục, tính đến ngày 23 vừa qua là 16 ngàn 787 tỷ Mỹ kim, so với Tổng Sản Lượng Nội Ðịa (GDP) của nước Mỹ tính đến cuối năm 2012 là khoảng 15 ngàn 700 tỷ.

Cùng biện pháp ngân sách của chính quyền (thường được gọi là fiscal), Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ cũng có khả năng ứng phó riêng.

Là một định chế độc lập, Hội Ðồng Dự Trữ Liên Bang giữ vai trò của một Ngân Hàng Trung Ương (hay ngân hàng quốc gia). Vì mỗi nơi phiên dịch tên gọi một cách (như Hội Ðồng, Cục, Quỹ hay Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang), chúng ta có thể dùng cái tên dễ hiểu xuất phát từ chức năng mà gọi là “Ngân Hàng Trung Ương” hay Fed. Biện pháp của Fed thuộc lãnh vực tiền tệ (khác với biện pháp ngân sách của chính quyền Liên Bang) và là thẩm quyền của một định chế độc lập, không bị chính quyền chi phối (vì những mục tiêu chính trị).

Biện pháp thông thường nhất là hạ lãi suất ngắn hạn.

Lãi suất dài hạn không thuộc thẩm quyền tác động của Fed mà là kết quả của quy luật cung cầu, cho vay và đi vay dài hạn bằng cách mua hay bán trái phiếu để kiếm lời. Một chi tiết nhỏ: người ta không gọi tỷ lệ tiền lời trả cho tờ giấy nợ (trái phiếu) là “lãi suất” (interest rate) mà gọi là “phân lời” (yield).

Hoa Kỳ có hai loại lãi suất ngắn hạn. Phổ thông nhất là loại lãi suất căn bản mà các ngân hàng thiếu thanh khoản (tiền mặt, hiện kim) phải tạm vay nhau, đó là “Fed Funds Rate,” thuộc thẩm quyền tác động của ngân hàng Fed.

Ðấy là lãi suất nền tảng vì chi phối mức lãi suất mà các ngân hàng hay tổ chức tín dụng tính cho các loại khách hàng khác nhau tùy theo mức đáng tin cậy của khách hàng và rủi ro của việc cho vay. Lãi suất ngắn hạn thứ hai là “Lãi suất thế chấp” hay Discount Rate mà các ngân hàng phải trả cho Fed nếu cần vay tiền ngắn hạn.

Khi nâng hai loại lãi suất này, Fed làm cho tiền đi vay trở thành đắt hơn và qua đó mà tiết giảm khối lượng tín dụng trong nền kinh tế, thường là để kềm hãm lạm phát. Ngược lại, khi hạ lãi suất, Fed gia tăng khả năng vay mượn trong nền kinh tế để kích thích việc sản xuất và tiêu thụ.

Trong trận khủng hoảng rồi suy trầm kinh tế vừa qua, Fed đã hạ lãi suất tới sàn, mấp mé 0% so với lạm phát, và còn thông báo là có thể giữ mức này cho đến năm 2015, mà chưa thấy công hiệu. Vì vậy mới có biện pháp gọi tắt là QE.


“Quantitative Easing”

Khi hạ lãi suất, ngân hàng Fed muốn làm đồng tiền trở thành rẻ hơn để kích thích sản xuất và tiêu thụ, tức là làm “tài hóa dễ lưu thông,” tiền tài và hàng hóa đều lưu hoạt hơn.

Nhưng khối tiền tệ lưu hành không tất nhiên tăng giảm theo cùng một nhịp độ với lãi suất, thành một số tiền có thể đếm được. Vì vậy, biện pháp lãi suất có tính cách định phẩm hơn định lượng, qualitative hơn là quantitative. Nhân đây, xin nói thêm là báo chí Việt Nam trong nước cứ viết hay dịch sai chữ “quality” hay “qualitative” thành “chất lượng”: “phẩm chất” là từ chính xác hơn vì nhấn mạnh đến sự khác biệt với “số lượng”!

Vì vậy, Fed mới phải áp dụng thêm một loại biện pháp bất thường theo kiểu Nhật Bản là nới lỏng mức lưu hoạt tiền tệ qua một số lượng tiền tệ nhất định, gọi là “quantitative easing.” Mỗi nơi mỗi nước lại có một lối dịch riêng, nhưng phổ biến nhất vẫn là cách giữ nguyên văn, hoặc viết tắt là QE. “Hồ Sơ Người Việt” tạm dùng cách gọi đó vì mục tiêu là để trình bày biện pháp quá chuyên môn phức tạp này.

Từ năm 2008, ngân hàng Fed có ba đợt gia tăng mức lưu hoạt tiền tệ như vậy (Tháng Chín năm 2008, Tháng Mười Một năm 2010 và Tháng Mười Một năm 2012). Ðấy là biện pháp “định lượng” (quantitative) vì mỗi lần cơ chế này lại định sẵn số tiền được mình bơm thêm vào kinh tế.

Khi báo chí nói đến chuyện “bơm” thêm tiền, mọi người đều có thể hiểu không sai lắm rằng Fed in bạc và bơm tiền để cứu nguy kinh tế. Không sai lắm mà thật ra chưa đúng hẳn vì đấy không là quyết định cho Nha Phát Hành bấm nút in ra vài trăm hay vài ngàn tỷ đô la. Hình ảnh in bạc trên truyền hình có thể gây ra hoặc củng cố ấn tượng sai lạc này.

Sự thật nó lại rắc rối hơn vậy vì nếu cứ cho rằng nha phát hành có in thêm tiền thì làm sao đưa cả tấn giấy bạc đó vào kinh tế, qua tay những ai và đến những ai?

Chúng ta phải vòng qua hai ngả khác thì mới hiểu được những khúc mắc bên trong.

Thứ nhất, khi “bơm” thêm tiền vào kinh tế (xin tạm hiểu như vậy), cơ quan Fed chỉ nhắm vào việc gia tăng khối tiền tệ lưu hành trong công chúng. Khối tiền tệ lưu hành này thường được gọi tắt là M2, gồm có bạc mặt, tiền ký thác vào ngân hàng, khối dự trữ của cả hệ thống ngân hàng được giữ bên trong hoặc ký thác vào trương mục của Ngân Hàng Trung Ương, v.v… Ðể khỏi làm độc giả thêm nhức đầu, xin tạm nói rằng khối tiền tệ M2 này co hay giãn thì chi phối mức lưu hành của đồng bạc trong kinh tế nên tác động vào sinh hoạt kinh tế. Vì vậy, biện pháp QE có ảnh hưởng đến khối M2 này.

Thứ hai, làm sao Fed tác động vào khối M2 đó?

Ta có thể mường tượng rằng định chế này giữ vai trò thủ quỹ của hệ thống ngân hàng gồm các ngân hàng thương mại lẫn các tổ chức tài trợ tín dụng vì tập trung sổ sách của cả hệ thống trong bảng cân đối kế toán hay kết toán tài sản của mình. Xin cáo lỗi độc giả về chi tiết nhức đầu nhưng cần thiết này để nói tới “bảng kết toán tài sản” của ngân hàng Fed. Họ có trong tay tổng số tích sản (nguồn gốc của tài sản) và tiêu sản (cách sử dụng tài sản này) của cả hệ thống, vì vậy ta mới tạm liên tưởng đến vai trò của thủ quỹ hay nhà cái.

Khi tung ra biện pháp QE, Fed “mua vào” một lượng trái phiếu nhất định từ cả hệ thống ngân hàng và bán ra (thanh toán) bằng cách ghi vào bảng kết toán một số tiền nhất định cho từng ngân hàng. Với số tiền được ghi thêm như dự trữ trong kết toán tài sản, các ngân hàng có quyền cho thân chủ vay thêm và nhờ đó mà nâng mức lưu hoạt tiền tệ và kích thích kinh tế.

Cho nên, thay vì in bạc bơm tiền như công chúng có thể hiểu, Fed áp dụng một biện pháp phức tạp hơn, nhưng cũng biết chắc là mỗi lần “bơm” thêm bao nhiêu tiền vào nền kinh tế qua hệ thống ngân hàng. Quyết định QE3 xác định là mỗi tháng sẽ bơm thêm 85 tỷ đô la cho đến khi đạt mức công hiệu là làm tỷ lệ thất nghiệp giảm tới số 6%. Tức là không hẹn trước ngày chấm dứt. Vì thế biện pháp QE mới bị chế diễu là QEternity. Miên viễn!
Nhưng, sau khi được bơm thêm tiền qua một nghiệp vụ bút ghi kế toán, các ngân hàng cho cho thân chủ vay hay không và các thân chủ có vay hay không là chuyện khác. Thực tế là không.
Chúng ta bước qua phần tìm hiểu về sự công hiệu.


Hiệu quả của QE

Sau ba đợt QE, Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ bị đả kích là in bạc bơm ra mấy ngàn tỷ đô la để kích thích kinh tế, với rủi ro là gây ra lạm phát, vậy mà vẫn chẳng kích thích được gì. Tại sao lại như vậy?

Năm 2008, khi suy trầm kinh tế rồi khủng hoảng tài chánh bùng nổ, khối tiền tệ căn bản của Hoa Kỳ gồm có mọi loại tiền giấy và xu, hào, cắc, được ước lượng vào khoảng 840 tỷ. Xin tạm hiểu rằng đấy là cái nền M0 để trên đó người ta vay thêm, ký thêm chi phiếu, v.v… và nâng khối tiền tệ M2 là con số then chốt, thước đo của sự co giãn kinh tế.

Ba đợt QE đã nâng khối tiền tệ căn bản từ 840 tỷ lên tới hai ngàn 930 tỷ tính đến Tháng Ba vừa qua. Nghĩa là khối M0 đã tăng đến 249%. Cùng giai đoạn ấy, khối tiền tệ M2 đã từ khoảng bảy ngàn 400 tỷ lên tới 10 ngàn 400 tỷ đô la, tăng chừng 40%. Ðây là chuyện lạ vì cái đòn bảy QE mà Fed áp dụng không tạo ra sức bật tương xứng: tăng mức M0 lên 249% mà M2 chỉ tăng có 40%.

Tiền tệ không lưu thông nhiều hơn nên lạm phát không tăng, như nhiều người đã lo sợ.

Nhưng cũng vì tiền tệ chẳng lưu thông nhiều hơn, sinh hoạt kinh tế vẫn èo uột. Tại sao như vậy, ta lại phải vòng qua hai chuyện khác, là “phát hành đồng bạc” và vận tốc luân lưu của đồng tiền.

Ngân Hàng Trung Ương không trực tiếp in tiền và phát hành đồng bạc như ta có thể hiểu một cách thông thường.

Chính là hệ thống ngân hàng mới phát hành thêm tiền khi cho vay ra ngoài. Mức cho vay cao hay thấp là tùy khối dự trữ của từng ngân hàng, vào lãi suất và nhất là tùy theo số thân chủ muốn đi vay. Trong năm năm qua, các ngân hàng không phát hành tiền tệ nhiều như mọi người trông đợi hay lo sợ.

Phát hành nhiều hay ít thì mình có thể đo lường ở vận tốc luân lưu của đồng tiền, gọi là velocity, viết tắng bằng ký hiệu V.

Kinh tế càng sung mãn thì đồng bạc quay càng nhanh và người ta có thể đo lường sự sung mãn ấy bằng Tổng Sản Lượng Nội Ðịa GDP hay bằng mức luân lưu (V) của khối tiền tệ M. Ðấy là cơ sở của phương trình GDP = MV. Muốn nâng đà tăng trưởng của kinh tế, người ta có thể bơm thêm tiền (M) hoặc gia tăng sức “quay” của đồng bạc (V).

Thí dụ là… tiệm phở: thêm bàn cho khách ngồi M và mỗi bàn hàng ngày có thêm nhiều đợt khách V. Mỗi đợt luân lưu là lại tạo thêm lợi tức. Dù cò bày thêm bàn nếu khách ngồi ỳ hàng giờ với một tô phở là coi như nhà hàng bị lỗ! Ðó là hoàn cảnh hiện nay của nhà hàng Hoa Kỳ.

Nói cách khác, Fed có bơm thêm tiền mà đồng tiền không quay, bộ máy kinh tế cứ ì ra đấy. Nguy hơn thế là sự đình đọng của mức luân lưu V. Tốc độ luân lưu của đồng bạc tại Hoa Kỳ vào cuối năm 2007 – trước khi bị gió chướng – được ước tính vào khoảng chín lần, mỗi lẫn lại sinh thêm lợi tức cho kinh tế. Ðến năm 2009, tốc độ V sụt dưới số năm và hiện nay đang ở con số 3,6, thấp chưa từng thấy kể từ 60 năm qua.

Chuyện đáng nói ở đây là Fed chỉ có thể phần nào tác động vào khối tiền tệ khi “bơm” thêm tiền và nâng số M0.

Nhưng khối tiền tệ lưu hành tăng nhiều hay ít là… quyền dân, là do thị trường quyết định, ở số M2. Và đồng tiềm quay nhanh hay chậm cùng là nằm bên ngoài ảnh hưởng của Ngân Hàng Trung Ương.

Sau cùng, khi khối dự trữ được nâng cao, tức là có quyền cho vay nhiều hơn, mà lại ít người xin vay, hệ thống ngân hàng không thể ngồi yên trên đống bạc vô dụng. Họ trích ra chừng 18% để đầu tư vào thị trường chứng khoán làm cổ phiếu tại Hoa Kỳ tăng vọt. Và Fed bị trách cứ là bơm tiền cho tài phiệt Wall Street chơi stock.


Kết luận ở đây là gì?

Ngân Hàng Trung Ương Mỹ bị oan về nhiều chuyện.

Kinh tế Mỹ chưa thể khá vì nhiều lý do, quan trọng nhất là tâm lý của người dân, của thị trường. Lạm phát chưa là mối nguy nhưng có khi giảm phát mới là vấn đề khi kinh tế vẫn còn bải hoải. Nếu nạn giảm phát (deflation) xảy ra, chúng ta còn chứng kiến nhiều sự lạ khác.

Nhưng hồ sơ quá rắc rối thế này là tạm đủ. Xin hẹn một kỳ sau!

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT