Tranh luận về tự do thương mại


Ba tầng nhận thức khác biệt: kinh tế, thực tế và chính trị





Hùng Tâm


Nước Mỹ đang đàm phán hai hiệp ước tự do thương mại quan trọng nhất với các quốc gia ở hai đại dương lớn nhất địa cầu. Với các nước trong khu vực Thái Bình Dương là Hiệp Ước TPP (Ðối tác Xuyên Thái Bình Dương). Với các nước thuộc khu vực Ðại Tây Dương là Hiệp Ước T-TIP (Transatlantic Trade and Investment Partnership). Sản lượng của các đối tác trong TPP là 37% của toàn cầu, và của các đối tác trong T-TIP là 40%.


Việc đàm phán khởi sự từ lâu (20 vòng hội nghị cho TPP và ba vòng thảo luận cho T-TIP) và gần hoàn tất thì bỗng thành đề tài tranh luận trên chính trường và trong Quốc Hội. Lý do là cơ quan phụ trách – Ðại sứ Thương Mại Hoa Kỳ (US Trade Representative, hay USTR) thuộc Phủ Tổng Thống – cần đạo luật Trade Promotion Authority (TPA) cho phép thương thuyết theo thủ tục nhanh (fast track) để khi hoàn tất thì trình lên Quốc Hội phê chuẩn toàn bộ các điều kiện cam kết với các nước đối tác. Ðạo luật TPA bị Quốc Hội gạt qua một bên từ năm 2012 dù Tổng thống Barack Obama đã nhiều lần yêu cầu tái tục.


Sau hơn một tháng tranh luận và cài đặt nhiều điều kiện tiên quyết, dự luật TPA vừa được Thượng Viện thông qua hôm Thứ Sáu tuần trước. Nhưng trận đánh sắp tới tại Hạ Viện lại còn nhiều khó khăn hơn. Ðược tập trung vào hồ sơ TPP, người ta tranh luận về sự lợi hại cho nước Mỹ của nguyên tắc tự do thương mại.


Tìm hiểu chuyện đó và sau nhiều bài trình bày liên tục trên cột mục này, “Hồ Sơ Người Việt” thấy ra một chuỗi nghịch lý sau đây:


Ða số các kinh tế gia thuộc cả hai khuynh hướng tả hữu, bao cấp hay tự do, đều ủng hộ tự do thương mại, các chính trị gia thì nghi ngờ còn quần chúng Mỹ thì ngả nghiêng, khi thì hoài nghi, khi thì ủng hộ. Và ngày nay, đa số đang ủng hộ. Tại sao lại có sự khác biệt lập trường như vậy?
 
Quan điểm của các kinh tế gia


Giới chuyên gia kinh tế thường có dị biệt quan điểm về nhiều đề tài chuyên môn. Thật ra, may là họ không hoàn toàn thống nhất ý kiến vì phải thử nghiệm sâu xa kỹ lưỡng hơn để tránh sai lầm. Chỉ có trong hệ thống Cộng Sản thì người ta mới có sự nhất trí dẫn tới khủng hoảng và sụp đổ.


Nhưng dù là có chủ trương khác biệt trong nhiều vấn đề chuyên môn, các kinh tế gia đều đồng ý với nhau về lợi ích của nguyên tắc tự do thương mại. Các cuộc khảo sát ý kiến của “dân trong nghề” tại Hoa Kỳ từ những năm 1970, 1990 và gần đây hơn đều cho thấy rằng 90% các chuyên gia kinh tế cùng chia sẻ một quan điểm này. Ðây là ta nói về việc khảo sát ý kiến của các chuyên gia kinh tế đang giảng dạy hay hành nghề chuyên môn của mình, và được coi là thuộc dòng chính lưu – mainstream.


Có một thiểu số thì giữ lập trường cực đoan và viết ra những nhận định nằm ở vùng biên tế, ngoài dòng chính lưu, khi họ là bình luận gia chính trị. Trường hợp “activist” như vậy thật ra không nhiều và chỉ đáng chú ý khi họ là người nổi tiếng vì đã đoạt giải Nobel về kinh tế, như hai giáo sư Joseph Stiglitz và Paul Krugman. Ông Stiglitz thì cảnh báo rằng Hiệp Ước TPP có rủi ro nghiêm trọng vì phục vụ quyền lợi của nhà giàu. Riêng Krugman, xưa kia là chuyên gia về mậu dịch quốc tế, vào năm 1997 còn công nhận rằng sự đồng thuận về lợi ích của tự do thương mại là “gần như toàn cầu,” “almost universal.”


Dĩ nhiên là trong thế giới “hàn lâm” này nếu có người phản bác thì cũng có người ủng hộ. Gần đây nhất là quan điểm của Hội Ðồng Cố Vấn Kinh Tế (Council of Economic Advisors) cho Tổng Thống Barack Obama.


Ðây là một cơ quan trong Phủ Tổng Thống gồm các giáo sư hay chuyên gia kinh tế xuất sắc được tổng thống mời làm cố vấn và vị chủ tịch ngồi trong Nội các phải được Thượng Viện phê chuẩn. Các chủ tịch nổi tiếng của Hội Ðồng CEA này gồm nhiều tên tuổi như Alan Greenspan, Ben Bernanke hay Janet Yellen (đều sẽ là thống đốc Ngân Hàng Trung Ương) hay Joseph Stiglitz, hoặc Christina Romer, Austan Goolsbee, và Laura d’Andrea Tyson. Bà này triệt để ủng hộ tự do thương mại và là chủ tịch thời Tổng Thống Bill Clinton khi ông ký Hiệp Ước Tự Do Thương Mại Bắc Mỹ NAFTA.


Ðầu Tháng Năm, Hội Ðồng CEA công bố một phúc trình chứng minh lợi ích của tự do thương mại cho nước Mỹ (The Economic Benefits of U.S. Trade – May 2015). “Hồ Sơ Người Việt” đã nhắc tới phúc trình này, quý bạn đọc có thể tham khảo trên mạng lưới whitehouse.gov.


Kết luận tạm ở đây là đa số các chuyên gia kinh tế đều chia sẻ một quan điểm là tự do thương mại có lợi cho nước Mỹ, kể cả lợi ích về công ăn việc làm.
 
Nhận thức của quần chúng
 
Giới kinh tế thường nêu một câu hỏi về sự lợi hại của một chánh sách hay biện pháp kinh tế, rằng lợi cho ai và hại cho ai? Vấn đề chìm sâu bên dưới là người ta thường chỉ thấy cái lợi trước mắt, cho thành phần này, mà khó nhìn ra cái hại cho thành phần khác, trong một tương lai xa xăm hơn.


Y như trong phúc trình của Hội Ðồng Cố Vấn Kinh Tế CEA vừa qua, khi các kinh tế gia nêu quan điểm về lợi ích của tự do thương mại, họ phải nghiên cứu và khảo sát sâu rộng về không gian (cho nhiều thành phần dân chúng) lẫn thời gian (trong ngắn hạn và dài hạn). Nhưng điều quan trọng nhất là “người dân nghĩ sao về sự lợi hại đó?” Trong một chế độ độc tài, người dân không có quyền có ý kiến trái ngược với quan điểm chính thức của đảng hay nhà nước. Trong một nền dân chủ như tại Hoa Kỳ, cảm quan hay nhận thức của quần chúng lại là một thực tế chính trị.


Thế thì người dân Mỹ nghĩ sao về tự do thương mại? – Câu trả lời là “người dân Mỹ hay đổi ý.”


Vào cuối thế kỷ trước, trong những năm 1998-1999, chỉ có 32% dân chúng nghĩ rằng việc giao dịch không có hàng rào quan thuế là có lợi, 49% cho là nên có hàng rào (đánh thuế nhập nội) để bảo vệ việc làm của người dân. Còn 19% thì không có ý kiến. Chúng ta không nên quên là vào giai đoạn ấy, kinh tế đang tăng trưởng ngoạn mục và trái bóng chứng khoán của các doanh nghiệp tín học chưa bể trong vụ dot.com.


Ít năm sau, ta lại thấy một quan điểm trái ngược.


Người dân thấy ra lợi và hại của thương mại quốc tế, đa số ủng hộ vì 1) mua hàng rẻ hơn, 2) có nhiều mặt hàng để chọn lựa, 3) và các doanh nghiệp phải sáng tạo để cạnh tranh. Nhưng cũng gần phân nửa tin rằng tự do thương mại gây ra thất nghiệp và lương thấp cho một số người trên thị trường lao động. Tỷ lệ thời đó là 51% ủng hộ, 44% nghi ngờ, và 5% không biết.


Ngày nay, là sau khi Hoa Kỳ bị khủng hoảng tài chánh (2008) và kinh tế đang hồi phục nhưng còn chậm, thì dân Mỹ nghĩ sao?
 
Khảo sát mới nhất
 
Hai cuộc khảo sát ý kiến mới nhất của Viện Gallup và Viện AEI (American Enterprise Institute) cho thấy điều bất ngờ là đa số tới 58% ủng hộ tự do thương mại vì là cơ hội tăng trưởng kinh tế nhờ xuất cảng. Và 33% cho rằng ngoại thương là một đe dọa kinh tế vì hàng nhập cảng.


Ly kỳ hơn vậy, cuộc khảo sát của Gallup còn phân giải câu trả lời của dân Mỹ theo đảng tính. Có 61% những người cho biết rằng mình bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ, hoặc xưng danh Ðộc Lập, thì ủng hộ ngoại thương. Ðây là một sự tăng vọt đáng kể so với mấy năm trước khi chỉ có hơn 30% là nghĩ như vậy. Ngược lại, thành phần bỏ phiếu Cộng Hòa vẫn có quan điểm ôn hòa bền bỉ từ nhiều năm qua là chỉ có một đa số nhỏ, quãng 51%, là ủng hộ tự do thương mại.


Nói rộng ra thì đến 65% cho là toàn cầu hóa có lợi, một đà gia tăng đáng kể so với suy tư thời 1998-2000 là 54%. Trong khi đó, chừng 34% vẫn cho rằng đấy là mối hại, dù sao là một sự gia tăng còn đáng kể hơn so với thời trước, khi chỉ có 20% nghĩ như vậy.


Cũng trong cuộc khảo sát của Viện Gallup, ta còn thấy một điều đáng ngạc nhiên hơn. Khi phân giải theo đảng tịch thì ta được biết rằng 75% dân bỏ phiếu bên Dân Chủ thì tin rằng nói chung toàn cầu hóa có lợi cho nước Mỹ. Bên Cộng Hòa chỉ có 62% nghĩ như vậy, và tỷ lệ ủng hộ của phe Ðộc Lập là 59%, đều là đa số, mà thấp hơn.


Xin ghi lại để nhấn mạnh sự kiện này: 75% đảng viên Dân Chủ ủng hộ toàn cầu hóa so với 62% hay 59% của hai thành phần kia.


Vì giới hạn của cột báo, Hồ Sơ Người Việt không đi sâu hơn vào các vấn đề khác. Thí dụ như tổ chức Chicago Council on Global Affairs có hỏi ý dân chúng thì được biết tỷ lệ ủng hộ và chống toàn cầu hóa hiện nay là 65-34%, so với kết quả khảo sát của họ thời 1998-1999 là 54-24%.


Dù chỉ khái quát như vậy, các cuộc thăm dò cho thấy là bên dưới những nhận định của các chuyên gia kinh tế, nhận thức của quần chúng Mỹ đang chuyển: Ða số tin rằng toàn cầu hóa và việc giao dịch tự do với các nước là điều có lợi cho Hoa Kỳ. Họ nghĩ vậy vì thấy rằng có lợi cho bản thân.


Nói cách khác, họ có đồng quan điểm với Tổng Thống Obama và Hội Ðồng Cố Vấn Kinh Tế của ông.


Thế thì tại sao trên chính trường Dân Chủ tại Thượng Viện và Hạ Viện vẫn có nhiều tiếng nói chống dự luật TPA, Hiệp Ước TPP và tranh luận với một tổng thống Dân Chủ? Ðấy là thiểu số activist, nhân danh thành phần này hay thành phần khác đứng lên rào cản để chứng minh rằng họ quan tâm đến quyền lợi của toàn thể dân Mỹ. Thí dụ điển hình nhất là Nghị Sĩ Elizabeth Warren của tiểu bang Massachusetts, nguyên giáo sư Harvard. Từ góc cực tả, bà phản bác và trực tiếp tranh luận với Obama về hai hiệp ước TPP và T-TIP.


Và đây là câu trả lời của tổng thống Hoa Kỳ: “Lý luận của Elizabeth không vượt qua những trắc nghiệm của thực tế, hoàn toàn sai lầm. Bà chỉ là một chính trị gia như mọi người khác.”
 
Kết luận ở đây là gì?
 
Chính trường Mỹ có dấu hiệu lỗi thời khi đi ngược với quan điểm của quần chúng ở dưới.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT