Vượt sông đi học

Bùi Bảo Trúc

Thời đi học, tôi rất sợ và rất ghét những tấm gương hiếu học của vài ba ông Tàu, những người làm cho tuổi thơ của tôi bị các ông nhồi thêm bao nhiêu phần khốn khổ. Một ông nhãi con (Uất Trì Cung thì phải) thì đi chăn heo, thập thò ngoài cửa lớp để học lóm vài ba chữ của ông thầy. Ông nhãi khác (Trác Dận) thì bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng để làm đèn học. Ông khác thì cột búi tóc lên xà nhà để không ngủ gục trong lúc học bài. Ông Châu Trí thì quét lá đa vun vào góc sân, đốt lên để học bài…

Nhưng tất cả những tấm gương hiếu học đó đều nhanh chóng bị dẹp ngay bằng lý luận đem phần thắng lợi (nhất định về cho mình) theo cách nhân vật A Q của Lỗ Tấn. Tại sao có đèn néon lại phải dùng đom đóm, hay đốt lá khô thay cho đèn học? Tại sao phải thập thò ngoài cửa lớp khi có thể vào lớp ngồi như… tôi chẳng hạn. Tôi không có búi tóc làm sao treo… đầu lên xà nhà để học?

Học trò và cô giáo sau khi vượt sông để đến trường. (Hình: Ngọc Quang/Tuổi Trẻ)

Cũng may vì cách đây hơn nửa thế kỷ chưa có những tấm gương hiếu học như đoạn video clip mà tôi coi được hồi tuần qua. Video clip này do một cô giáo dậy một trường tiểu học ở bản Sam Lang, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Ðiện Biên thu được. Gương hiếu học của những em học sinh nhỏ ở Nà Hỳ chắc chắn sẽ làm cho mấy anh Tàu đáng ghét (mà cụ giáo rất yêu và nể phục) xấu hổ đến chết được.

Các em học sinh ở Sam Lang hết sức vất vả trong việc đến trường kiếm vài ba chữ. Nhưng các em không than vãn gì hết. Cha mẹ của các em cũng là những tấm gương can đảm hy sinh vô cùng lớn. Can đảm và hy sinh cho việc học của các em. Sáng nào cha mẹ các em cũng đẩy các em ra khỏi nhà để tới trường đi học. Ðể tới được trường, chuyến đi của các em không có mẹ âu yếm nắm tay dẫn đi trên con đường làng như cảnh đến trường mà Thanh Tịnh tả hết sức thơ mộng, hay như cảnh cậu bé An Di trong Tâm Hồn Cao Thượng trở lại trường sau mấy tháng Hè. Cũng không tung tăng qua vườn Lục Xâm Bảo như một đoạn văn của Anatole France.

Ðể đến được lớp học, các em phải qua một khúc sông nước chảy siết tuy mực nước có thể không sâu lắm. Trong đoạn video, nước sông chỉ ngập tới cổ của người lớn. Các em không đi đến trường bằng cầu treo, cầu ván đóng đinh như trong mấy câu ca dao Nam Bộ:

… Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi
Khó đi mẹ dẫn con đi
Con đi trường học, mẹ đi trường đời…

Ở bản Sam Lang thì các em không đến trường bằng cầu. Dẫu sao thì cầu ván hay cầu tre thì cũng vẫn là cầu. Các em vượt sông bằng cách hiện đại hơn. Hiện đại vì cách đây vài chục năm thì đã làm gì có những cái túi ni lông. Những cái túi ni lông lớn khoảng cái túi rác 30 gallon chúng ta dùng ở nhà. Các em đến bờ sông thì có người cầm cái túi ni lông cho các em chui vào, ngồi xuống. Một người lớn túm lấy cái miệng bao ni lông, rồi kéo xuống sông. Người thanh niên nắm lấy cái bao ni lông trong đó có em, và lôi cái bao đó sang bên kia dòng nước chảy siết đó. Ðoạn video cho thấy người thanh niên dùng hết sức mình và phải mất mấy phút vất vả mới lôi được cái bao sang bên kia sông. Ðến được bên kia sông, em nhỏ mới chui ra, leo lên bờ rồi đi bộ tiếp để đến trường.

Bao nhiêu chuyện có thể xẩy ra trong chuyến vượt sông đó.

Có thể nước chảy siết, cái bao tuột ra khỏi tay người thanh niên. Có thể người thanh niên sau mấy chuyến, tay chân thấm mệt, cái bao rời khỏi tay. Cái bao ni lông bị nước cuốn đi. Em bé nằm trong làm sao thoát ra khỏi cái túi mà miệng túi đã bị túm lại. Em bé có thể ngạt thở vì phải ngồi trong cái bao quá lâu. Cái bao ni lông có thể rách, nước sông tràn vào. Cái bao có thể đụng phải những cành cây khô trôi trên sông kéo cái bao khỏi tay người thanh niên đang cố đưa em sang sông. Sau hai ba chục chuyến như thế, dẫu cho là có hai ba người thay phiên nhau nhưng chẳng lẽ sức người không mỏi mệt sao?

Chiếc bao có thể băng băng trôi theo dòng nước lũ. Ðứa bé ngồi trong không vùng thoát ra được thì chuyện gì xảy ra ai cũng có thể đoán được.

Học sinh trong túi ni lông được kéo qua sông, đến trường. (Hình: Tuổi Trẻ)

Mà không chỉ các em bé phải dùng phương tiện qua sông đó. Luôn cả các cô giáo cũng phải chui vào những chiếc bao ni lông đó. Thử lôi một cái bao bên trong có người nặng khoảng 40 kilô xem. Mỗi ngày hai lần phải phó mặc đời sống cho cái bao ni lông và bàn tay của những người thanh niên trong bản.

Nếu cô giáo Tòng Thị Minh không quay được đoạn video bằng smart phone thì thế giới còn lâu mới biết được những chuyến đi tử thần đó. Gọi là chuyến đi tử thần vì những chuyến đi của các em mỗi ngày còn kinh khiếp hơn những chuyến thực tập tại quân trường Thủ Ðức, Ðồng Ðế biết là bao nhiêu. Trường huấn luyện sình lầy ở Malaysia chưa chắc đã kinh hoàng đến thế.

Trong một bức ảnh khác, cô giáo Minh đứng sau lũ học trò nhỏ của cô. Những em bé mặt sáng như gương tuy quần áo nhếch nhác, vá đùm vá đụp, chân giày chân đất, số còn lại không có được đôi dép để đến trường. Cám ơn cô giáo Minh. Cô học sư phạm xong, được bổ về ngôi trường với những cảnh đời khốn khổ thế cô vẫn vui vẻ đến nhiệm sở với bầy em bé tội nghiệp đó. Những đứa bé đó được ở trong bàn tay nhân ái đó của cô bao lâu? Những đứa bé gái đó liệu có thoát được tay bọn khốn nạn lừa bán chúng sang bên kia biên giới để làm điếm không?

Cô hy sinh nhiều lắm chắc chẳng bao giờ đủ tiền hay đủ thì giờ về Hà Nội nghe giọng ca sến ca hát rồi kể chuyện tình với 4, 5 người đàn bà vẫn yêu nó đắm đuối, hay dẫn các em học sinh của cô đến tiệm McDonald’s ăn thử cái hamburger của rể thằng Ba Ếch, hay đi một chuyến shopping với một thằng đại gia nào đó ở Singpore hay Hồng Kông… Tội nghiệp cô. Tội nghiệp các em học sinh của cô!

Này các em bé vượt sông ơi. Các em đừng nản chí. Ðừng bỏ học rồi khai bừa là có cử nhân luật trong rừng nhé, đừng quăng ra vài ba triệu mua lấy những cái bằng giả bán đầy đường, đừng học tập gương đạo đức của cái thằng chó mà khốn khổ đời nhé các em.

Xem đoạn video mà chỉ muốn chửi vài ba câu tục tĩu cho đỡ bực cái… mình.


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Ăn

Tục ngữ nước ta có câu: “Có thực mới vực được đạo,” ngụ ý Ăn là phần cốt lõi của sự sống, không chỉ áp dụng cho loài người mà chung cho muôn loài sinh vật...

‘Trước sau như… một!’

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Hiểu và Thương

Giữa rất nhiều điều nghe được và giữ được từ các bài giảng pháp của Thiền Sư Nhất Hạnh, tôi chỉ tâm đắc một điều: phải HIỂU để mà THƯƠNG. Nghĩ thêm ra, đã thương thì sẽ hiểu để chấp nhận.

Bước khởi đầu trên đất mới

Miền Nam bị Cộng Sản cai trị đã 43 năm. Người cựu tù nhân chính trị được cứu vớt theo diện nhân đạo của chính phủ Hoa Kỳ đến Mỹ, người đến sớm nhất tính cũng đã hai mươi tám năm.

Mẹ đi lấy chồng

Nếu con cái không bao giờ là đủ cho một bà mẹ thì đấy chính là nỗi khốn cùng đáng thương nhất của cả hai phía, là thất bại chua chát nhất của Thượng Ðế...

Nghề nghiệp buổi giao thời

Chỉ vài ngày sau khi Việt Cộng vào Sài Gòn, đầu xóm nhà tôi trong cư xá Quân Đội, thiên hạ đã nghe tiếng trống lục bục của ông Tàu thợ nhuộm.

Nhận diện

Hai chữ “Chống Cộng” gợi ra những hình ảnh và gây tác động ở nhiều mức độ khác nhau trong lòng người Việt Nam sinh trưởng ở nhiều địa danh trên đất nước và vào nhiều thời điểm lịch sử khác nhau.

‘Thống Nhất’ và nỗi đau ly tán của dân tộc

Cảnh sum họp của những người con có cha tập kết ra Bắc trở về Nam sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, tưởng chừng vui tươi cảm động đầy nước mắt trong một màn tái ngộ, đã trở thành một cảnh ngỡ ngàng xót xa.

Tưởng niệm 30 Tháng Tư 1975

Hằng năm, đến Tháng Tư, cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản định cư ở khắp nơi trên thế giới đều cảm thấy đau buồn.

30 Tháng Tư ‘cho ta sáng mắt, sáng lòng’

Từ sau ngày Hiệp Định Geneve năm 1954, cả hai phe Quốc-Cộng đều tranh thủ nhân tâm đồng bào, lấy thông tin tuyên truyền làm vũ khí để tố cáo tội ác và nêu lên sự đau khổ lầm than của đồng bào bên kia giới tuyến.