Bùi Bích Hà
Hai cô cháu đang líu tíu sổ sách, giấy tờ ở quầy tiếp khách thì thấy một ông Mỹ cao lớn, cồng kềnh, quắc thước như Từ Hải, đến trước khung kiếng cửa sổ, nói xì xà xì xồ tràng giang đại hải một chuỗi tiếng Anh, loáng thoáng nghe được mấy chữ, ráp lại thì hiểu đại ý là ông ta lỡ độ đường. Xe hết xăng, vào cây xăng ở đầu đường xin đổ chịu, hứa sẽ trả nhưng họ không cho mà lại bảo ông ta đi vào phố, tìm người giúp.
Câu chuyện này tôi đã có dịp nghe nhiều lần quanh khu Bolsa nhưng kẻ khó chỉ xin chứ không hỏi vay. Họ là đồng hương của tôi hay người cùng quốc tịch với tôi, ở nhiều độ tuổi khác nhau, khổ hơn tôi vì đang cần lúc thì $5, lúc thì $7 để có đủ “tiền đổ xăng” cho một cuốc xe về nhà. Tôi cũng đoán biết họ nói dối nhưng hai chữ “về nhà” họ thốt ra làm tôi mủi lòng và muốn tin là họ nói thật. Ðành xùy tiền ra. Quả đáng tội, cũng không nhiều nhặn gì.
Ông Mỹ chiều nay không giống những người tôi gặp trước. Ngoài hình dung trông no đủ ra mặt, dáng vẻ ông ta “phởn phơ” rõ, tương phản hoàn toàn với cái bằng lái xe ông chìa ra để làm chứng là ông lương thiện và có một cái địa chỉ làm tin cho câu chuyện ông kể. Cái bằng lái cũ xì, sờn mòn, không nằm trong một cái ví mà nhét ở túi quần sau, tôi đoán để ông ta tiện lôi ra lôi vào vì cùng một nguyên nhân như thế này nhiều lần rồi!
Căn cứ vào các chỉ dấu ấy, cô cháu tôi dư biết là ông bịa chuyện. Ðáng lẽ chỉ cần lắc đầu, trả lời: “Chúng tôi rất tiếc không giúp được ông vì không có tiền mặt ở đây,” nhưng cô cháu tôi lại nhìn nhau, ngại ngần. Ừ, thì 99.9% là không thật nhưng ngộ nhỡ cái 0.01% kia là thật thì sao? Trong ví của hai cô cháu lại đang có hơn $10, có thể giúp ông ta được.
Tôi chưa kịp nói gì, cô cháu đã xòe ngay 2 tờ giấy $5. Ông ta còn hỏi xin danh thiếp để gửi tiền trả sau này. Tôi cười thầm: “Lại còn mất thêm tấm business card!”
Nhưng thôi, cho ông ta được hưởng cái mà người Mỹ gọi là “benefit of the doubt.” Khi chưa chắc hẳn thì chớ vội quyết đoán để có thể bị lầm lẫn. Cầm $10, tôi bảo cô: “Cháu ơi, cô không có hy vọng là ông ta sẽ trả như lời ông nói đâu.” Và tôi nhớ lại thời mấy mẹ con đi định cư, phải ghé qua trại chuyển tiếp Swan Plu, Thái Lan, ở lại mươi ngày để làm thủ tục vào Mỹ. Cơm trong trại rất tệ nên mọi người phải mua thêm ở ngoài mì gói, nho hay táo. Mẹ con tôi không có đồng Mỹ kim nào mang theo nên các cháu phải nhịn thèm, đến bữa sắp hàng chờ lãnh khẩu phần trong cái khay sắt lèo tèo vài miếng thịt bạc nhạc kho và tô canh gừng nhạt thếch. Một chị đi cùng chuyến với chúng tôi chắc đã kín đáo nhận xét thấy vậy nên chị dúi vào tay tôi 20 Mỹ kim, bảo cho mượn để mua thức ăn cho các cháu. Thấy tôi ngần ngại, chị cụp bàn tay tôi lại, dặn dò, “Qua tới bển, chị gởi trả cho tôi, không sao đâu. Trẻ con thiếu ăn, tội lắm!” Chị làm sao biết chắc tôi sẽ gởi trả? Cách nay trên ba mươi năm, $20 to bằng $200 bây giờ, với một người đàn bà mình trần thân trụi, nheo nhóc con thơ, mẹ già nơi xứ người, khả năng quỵt món nợ này cao hơn khả năng hoàn trả nhưng vì lòng trắc ẩn, chấp nhận thua thiệt, chị đã cho tôi được hưởng cái benefit of the doubt.
Giờ đây, chị đã đi thật xa rồi. Tôi không còn cơ hội nhắc lại với chị lời cám ơn sâu xa nhất của tôi về lòng thương người vô điều kiện của chị ngày ấy, khiến chị không nhìn sự việc theo con mắt người đời mà theo tiếng nói từ trái tim chị vượt lên trên những ngăn trở thế gian.
Bài học chị để lại khắc sâu trong trí nhớ tôi không bao giờ phai mờ nên mỗi khi đứng trước cảnh ngộ tương tự mình ngày nào, tôi muốn sống lại kinh nghiệm với chị và không ngần ngại mang nó ra ứng dụng. Tôi nghiệm ra dù kết quả sau cùng của cái “benefit of the doubt” thế nào, nó ít làm tôi bận tâm bằng nếu tôi bỏ qua một trường hợp mình không biết chắc mà không xử sự phải lẽ, như chị đã làm.
Nói về “benefit of the doubt,” người Việt miền Nam chúng ta có câu châm ngôn dung dị mà rất hay: “Thấy dzậy mà hổng phải dzậy.” Nhiều người trong chúng ta cũng đã đọc câu chuyện Nồi Cơm Khổng Tử, khiến không khỏi giật mình mỗi khi phải xét người hay việc.
“Một lần, Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ Lỗ sang Tề, trong đám môn sinh đi theo, có Nhan Hồi và Tử Lộ là 2 học trò yêu của Khổng Tử.
Thời Ðông Chu, chiến tranh liên miên, các nước chư hầu loạn lạc, dân chúng phiêu bạt điêu linh, lầm than, đói khổ. Thầy trò Khổng Tử cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi và nhiều ngày phải chịu đói khát. Tuy vậy, không một ai kêu than hay thối chí mà tất cả đều quyết tâm theo thầy đến cùng.
Ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn có một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử nên đem biếu thầy trò một ít gạo. Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi đảm nhận việc thổi cơm. Trong hoàn cảnh đói kém, Khổng Tử chọn giao phần việc nấu cơm cho Nhan Hồi vốn là đệ tử đạo cao đức trọng mà Khổng Tử kỳ vọng nhất, không phải là không hữu ý.
Tử Lộ vâng lời, dẫn các đồng môn vào rừng kiếm rau, Nhan Hồi lo thổi cơm ở nhà bếp. Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên, cách bếp một cái sân nhỏ. Chợt nghe tiếng động như vật gì rơi từ nhà bếp vọng lên, Khổng Tử liếc mắt nhìn xuống, thấy Nhan Hồi lấy đũa xới cơm trong nồi cho vào tay, nắm lại từng nắm nhỏ. Xong, Nhan Hồi đậy vung nồi cơm, ngần ngừ giây lát rồi đưa cơm lên miệng. Chứng kiến hành động của Nhan Hồi, Khổng Tử thở dài, ngửa mặt lên trời mà than thầm: “Chao ôi! Học trò tin cẩn nhất của ta mà lại ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt đến thế ư? Thôi! Bao nhiêu kỳ vọng của ta đành là hư huyễn cả!”
Khi Tử Lộ cùng các đồng môn mang rau về, Nhan Hồi luộc rau. Khổng Tử vẫn nằm im, trong lòng đau khổ. Một lát sau rau chín, bữa cơm được dọn ra và các môn sinh chắp tay mời Thầy. Khổng Tử ngồi dậy và nói rằng: “Này các con, chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dặm, thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dầu dãi nắng mưa, đói khổ trăm bề mà các con vẫn giữ được tấm lòng đoan chính, vẫn yêu thương đùm bọc nhau, vẫn một dạ theo thầy không chút quản ngại. Hôm nay, đến đất Tề, may mắn làm sao thầy trò ta có được bữa cơm rau, khiến thầy chạnh lòng nhớ quê hương nước Lỗ, nhớ cha nhớ mẹ, thầy muốn xới bát cơm để cúng các bậc sinh thành, các con nghĩ có nên chăng?”
Trừ Nhan Hồi đứng im, các môn sinh khác đều chắp tay thưa: “Nên lắm ạ!” Khổng Tử bèn hỏi: “Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?”
Ðám học trò ngơ ngác nhìn nhau, không rõ Khổng Tử ngụ ý gì? Lúc bấy giờ, Nhan Hồi mới chắp tay thưa: “Dạ, nồi cơm này không được sạch vì khi cơm chín, con mở vung ra để ghế, chẳng may gió tràn vào, làm bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống đầy nồi, con vội vàng đậy vung lại nhưng không kịp, đành phải xới lớp cơm bẩn ra và toan bỏ đi nhưng con chợt nghĩ cơm thì ít, anh em lại đông, bỏ chỗ cơm bẩn này là bớt một phần ăn. Vì thế, con đã mạn phép thầy và tất cả anh em, ăn phần cơm bẩn ấy để không ai phải nhường nhịn, phần cơm sạch xin dâng thầy và tất cả anh em. Nồi cơm đã bị ăn rồi, không nên cúng nữa ạ!”
Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử lại ngửa mặt lên trời, than rằng: “Chao ôi! Hóa ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu đúng sự thật! Suýt tí nữa thì Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ!”
Kết luận là: làm sao hiểu biết tường tận một chuyện gì nếu không phải là người trong cuộc?
Tuy vậy, dù có nói và làm như người Mỹ, “Hãy đứng trong chiếc giầy của người khác” thì chiếc giầy vẫn không thực sự là giầy của mình.
Người đàn bà có chồng ngoại tình, vào đơn ly dị. Bạn bè thấy bà son phấn nhởn nhơ, ăn mặc đẹp hơn thường, nói cười như không có chuyện gì xảy ra làm bà đau khổ nhưng khi người chồng dọn ra theo thỉnh nguyện của bà trước tòa, bà đóng cửa phòng lặng lẽ khóc một mình. Nhiều ngày. Nhiều đêm. Nhiều tháng năm. Không có ai đi vừa chiếc giầy của bà vì chính bà cũng có miếng lót riêng theo thời tiết nắng/mưa hay nóng/lạnh. Khi một lúc nào đó, trong số bạn gái hiếm hoi của bà, một người yên lặng cầm tay bà, bóp nhẹ, bà nghĩ người đó, ít nhiều, đã đọc được tâm can mình và đôi bạn trở nên thân thiết hơn. Ngày qua tháng lại, họ đi la cà mua sắm, đi ăn nhà hàng, đi nghe nhạc, xem phim, du lịch bên nhau, thân thiết tới mức người ngoài trông vào, suy đoán thế này thế kia. Có người xa gần bình phẩm, bà chỉ cười. Chỉ có bà biết ngay cả người bạn quý ấy cũng chỉ chia với bà những giây phút vui tươi nhẹ nhàng trong cuộc đời không nên làm cho bi thảm, không chia những hạt lệ bà đã tự hứa sẽ cất giấu trong kín đáo tận cùng của trái tim với lời nguyền sống để dạ, chết mang theo. Cái ngày người bạn ấy tái hôn, bà tiễn bạn sang sông với lời chúc tốt đẹp và yêu thương nhất nhưng vẫn không ngăn được suy diễn của bạn bè, đã không hiểu, vẫn không hiểu và sẽ không bao giờ hiểu rõ bà. Cũng không sao. Cũng chẳng để làm gì. Như người chồng bà từng nghĩ trao xương gởi nạc, khi ra đi chỉ mang theo những thứ mua hôm nay, cũ ngày mai, đâu biết đã bỏ lại cuộc tình mãi mãi thanh xuân trong tâm hồn bà.
Người đàn ông có bề ngoài làm nhiều người dị nghị. Ông đeo hoa, đeo nhẫn ở hai tai, ở ngón tay, ngón chân. Ông xâm hình ở nhiều nơi trên thân mình vạm vỡ. Ông lễ độ, niềm nở, tươi tắn chào hỏi mọi người thân/sơ. Ông nói cười hỉ hả, tiêu pha rộng rãi trong mọi trường hợp. Dư luận sầm xì ông là… bóng. Tôi không biết “bóng” là gì nhưng biết ông kinh doanh giỏi, làm ăn tín nhiệm, ngược xuôi nuôi một đàn con, một đàn cháu nội ngoại mấy chục người lớn nhỏ trong ngôi nhà và khu vườn rộng, có cả hồ bơi và sân chơi đủ trò cho người lớn/trẻ con. Vợ ông bỏ ông, đi với người khác. Ông vẫn cười và nói: “Món ăn còn phải vừa khẩu vị, cuộc sống cũng vậy thôi. Không vui nơi này mà vui nơi khác là được!” Cao hứng, ông còn dẫn giải thêm: “Cũng là cơn gió, khi thì thầm, khi gào thét. Cũng là con sóng, khi ảo não, khi vỗ về, khi nào cũng có nét đẹp cho mình thưởng thức nếu mình trải lòng ra… Huống chi đâu phải tại gió, tại sóng đổi thay mà còn tại tâm tình người nghe khi này khi khác nữa.” Lời ông nói làm tôi chợt nghĩ: “Bà vợ ông ra đi mang theo mấy vali quần áo thời trang, bỏ lại người họa sĩ cất giấu tác phẩm của ông ta như người chồng trong câu chuyện trên, ra đi tìm sự phai tàn, bỏ lại tình yêu thanh xuân trong đuôi mắt rạn chân chim của vợ.”
Có phải bây giờ người ta sống vội vã, chỉ đủ thời gian thấy nhau thay vì nhìn nhau nên bỏ qua cái gì có thật để đuổi theo bóng của cái thật vuột khỏi tầm tay và khổ đau lòng vòng ở chốn nhân gian “có những điều không thể hiểu” như lời thở than bi phẫn của nhà thơ Du Tử Lê? Thân phận con người là một, đâu phải như dầu và nước mà tung tóe, không thể tan vào nhau?
Chấp nhận một thoáng ngờ vực, có khi là con đường đưa tới hạnh phúc chăng?

















































































