‘Ðồng chí’

 


Hỏi Ai


 


Chào tất cả những ai đang đọc những dòng chữ này.


Tôi ở vào tuổi 60, học vấn không cao vì vậy lịch sử Việt Nam không rành lắm, nhưng có một điều chắc chắn tôi nhớ rất rõ là trước năm 1975 danh từ “đồng chí” “bộ đội” “công an” tôi chưa từng nghe qua.


Ngày hôm nay Tháng Tư ngày 12, 2012 vô tình tôi thấy mục Phân Ưu của đài Global TV 57.8. Họ dùng danh từ “đồng chí” để chia buồn. Mà “đồng chí” này là thành viên của đảng Dân Tộc VN, Tổng Ðoàn Thanh Niên VN. (Người quá cố chỉ là cha của thành viên trong đảng.)


Tôi có gọi đến đài để hỏi, nhưng họ đem cả một lịch sử Việt Nam để giải thích, chẳng khác nào nước đổ đầu vịt.


Câu hỏi của tôi là có nên dùng danh từ “đồng chí” trong cộng đồng Việt Nam chống Cộng triệt để của chúng ta hay không?

Tìm Trung Úy Nguyễn Văn Lích


Em là Nguyễn Thị Tím, đang sống ở Sài Gòn. Tìm anh là Nguyễn Văn Lích, số quân: 59-108207, Trung Ðoàn 43, Sư Ðoàn 18 Bộ Binh.


Ði tù cải tạo tại Ðồng Ban, Tây Ninh. Hòm thư 7590. L2-T2-Ðội 7. Trốn trại vào tháng 6 năm 1977 và mất tích. Ai có tin gì về Trung Úy Nguyễn Văn Lích, xin báo cho bạn của Tím là Ngọc Ðóa: 714-667-7822.

Nhiễu âm và trống trận

 


 


Viễn ảnh kinh tế Hoa Kỳ trong tranh cử


 


Nguyễn-Xuân Nghĩa


 


Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ bước qua giai đoạn hai khi ông Mitt Romney coi như sẽ đại diện bên Cộng Hòa ra tranh cử với Tổng Thống Barack Obama bên Dân Chủ. Vì hai đề mục đang được dân Mỹ quan tâm nhất hiện vẫn là kinh tế và việc làm, nên đề nghị của hai ứng viên nhằm giải quyết hai ưu tiên này sẽ quyết định về kết quả bầu cử vào mùng 6 tháng 11 tới đây.


Nhưng vì vấn đề kinh tế xuất phát từ các nguyên nhân sâu xa về cơ cấu, lại bị giáng một đòn là nạn bể bóng thị trường gia cư và khủng hoảng tín dụng loại thứ cấp – là cái “duyên” chứ không là cái “nhân” của sự suy sụp từ bốn năm qua – việc tìm ra giải pháp khả dĩ huy động được hậu thuẫn của dân chúng không là điều dễ.


Lý do thứ hai là dù quá dài, cuộc tranh cử mới chỉ qua khỏi vòng sơ bộ bên đối lập, với nhiều tranh cãi vớ vẩn về ưu tiên – như kinh tế hay xã hội, đạo đức – nên mọi sự còn chờ đại hội hai đảng, cuối tháng 8 bên Cộng Hòa, đầu tháng 9 bên Dân Chủ, và bốn cuộc tranh luận của hai liên danh. Trong khi chờ đợi, ta thấy xuất hiện nhiều nhiễu âm hơn là thực chất của hai chương trình hành động.


Nhiễu âm là loại âm thanh ồn ào với mục tiêu tạo ra ấn tượng về chính trị trong khi lại gây rủi ro là làm cử tri không thấy đâu là giải pháp. Hai thí dụ nóng về loại nhiễu âm này là vai trò của phụ nữ và giải pháp đánh thuế nhà giàu.


Hoa Kỳ là xứ dân chủ và cởi mở nên giữa vụ tổng suy trầm nghiêm trọng nhất từ 70 năm nay, người ta vẫn có thể tranh luận việc mà người khác cho là phù du, như có nên tài trợ nhu cầu mua thuốc ngừa thai cho phụ nữ không. Một nữ sinh viên kỳ cựu, đã 31 tuổi, vẫn có 15 giây nổi tiếng trong đời khi đòi chính quyền liên bang phải yêu cầu các hội thiện yểm trợ việc đó, nếu không là can tội kỳ thị phụ nữ. Lập tức phe bảo thủ về đạo đức bên Cộng Hòa nhập cuộc và vụ cãi vã lây lan qua việc phu nhân của ông Mitt Romney không đi làm khiến Ðệ nhất Phu nhân Michelle Obama phải nhảy vào bênh vực bà Ann Romney.


Loại nhiễu âm thứ hai là biện pháp đánh thuế nhà giàu. Ðó là đề nghị gọi là “Buffett Rule” của ông Obama nhằm tăng thuế trên lợi tức đầu tư của 1% những người giàu nhất như tỷ phú Warren Buffett, một người tham gia vào ban tranh cử của ông. Vì mục đích tái lập công bằng xã hội, đề nghị ấy ảnh hưởng đến chừng 22 ngàn người giàu nhất và nếu lạc quan thì thu về cho công quỹ chừng 47 tỷ Mỹ kim trong 10 năm tới, khi bội chi ngân sách một năm đã vượt 1,500 tỷ. Nếu có chia cho khoảng 46 triệu dân Mỹ nghèo thì khoản bội thu, giả dụ 4.67 tỷ một năm, chỉ cho mỗi người trăm bạc. Mặt trái là biện pháp này sẽ làm sụt mức đầu tư của “bọn nhà giàu” đến cỡ nào và giảm thất nghiệp bao nhiêu thì chưa ai rõ.


Ðề nghị ấy có mục đích gây ấn tượng chính trị hơn là giải quyết vấn đề kinh tế, nhưng cũng làm cử tri sôi nổi tranh luận, xem đảng nào lo cho dân nghèo và đảng nào lo cho kinh tế, v.v…


Chúng ta cố len qua đám nhiễu âm nhiễu xạ ấy để nhìn vào thực tế kinh tế, ngõ hầu có cơ sở thẩm xét đề nghị giải quyết của hai đảng và nhất là ước đoán ra là kinh tế Mỹ sẽ đi về đâu.


***


Sau đây là vài sự thật về kinh tế mà người viết xin lỗi trước là phải tóm lược cho gọn.


Từ mấy chục năm nay, Hoa Kỳ vay mượn quá nhiều và tiêu xài phóng túng với hệ thống tài chánh ngân hàng quá sáng tạo so với luật lệ kiểm soát nên đến hồi trả nợ bằng nâng tiết kiệm và giảm tiêu thụ. Khi kinh tế suy trầm từ cuối năm 2007, các biện pháp kích thích kinh tế đều nhắm vào tăng chi để bù vào khoản giảm chi của công chúng và doanh nghiệp nên mới gây bội chi ngân sách quốc gia và nâng mức công trái của nhà nước – mà không hiệu quả như dự trù.


Việc Ngân Hàng Trung Ương hạ lãi suất tới số không và bơm tiền cho doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư lại dẫn tới hậu quả bất lường: doanh nghiệp lấy tiền chỗ rẻ đầu tư vào chỗ có lời: thị trường chứng phiếu. Họ an toàn kiếm lời, chịu thuế ít, mà vẫn không tạo thêm việc làm và chẳng phải băn khoan gì với yêu sách của nghiệp đoàn hay phải góp phần trả thuế an sinh xã hội, trợ cấp y tế hoặc chung tiền bảo hiểm sức khỏe cho nhân viên mà họ không tuyển!


Kinh tế Mỹ ra khỏi suy trầm từ tháng 7 năm 2009 mà chưa phục hồi và thất nghiệp còn cao. Thất nghiệp cao là lợi tức giảm, nguồn thuế khóa giảm theo và bội chi vẫn còn cao nếu phải kể thêm gánh nặng trợ cấp thất nghiệp. Ðấy là cái vòng luẩn quẩn khó gỡ.


Huống hồ thất nghiệp không chỉ là một vấn đề chu kỳ nhất thời mà còn có cả nguyên nhân sâu xa trong sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất qua hình thái hậu công nghiệp. Hiện tượng ấy xuất hiện từ cả chục năm mà vẫn chưa thấy giải pháp thỏa đáng. Chúng ta sẽ còn cơ hội tìm hiểu về vụ này.


Trong khi ấy, ngay trước mắt, kinh tế Hoa Kỳ lại có nguy cơ trôi vào một nạn suy trầm nữa!


Khi các chính khách còn tranh luận về trách nhiệm và giải pháp, sự thật éo le ở đây là nền kinh tế chỉ khởi sắc nếu tiêu thụ gia tăng. Mỗi đợt thống kê về tiêu thụ hay bán lẻ lại là một lần nhức tim và vòng xoáy lại thắt chặt khi thất nghiệp chưa giảm mạnh: chưa có việc làm mà nhà cửa vẫn mất giá hoặc mất luôn thì ai dám phóng tay tiêu xài?


Việc tiêu xài tùy thuộc vào tâm lý lạc quan hay không về tương lai. Với giới thiêu thụ, tâm lý đó chưa thay đổi. Chuyện xăng dầu nhất thời lên giá thì dù chẳng nhiều và có thể sẽ hạ vẫn chưa giúp nhà tiêu thụ an tâm. Những tranh luận triền miên và chuyện đổ lỗi liên hồi trên chính trường càng làm dân Mỹ e ngại, nghe ngóng và chờ đợi những ách tắc chính trị như đã thấy năm ngoái.


Mà không chỉ có giới tiêu thụ mới hoang mang! Nơi tạo ra việc làm là doanh nghiệp loại nhỏ, mới được thành lập trong vòng dăm ba năm, chứ không phải là các đại tổ hợp. Trong mấy năm qua, các doanh nghiệp này đã “tăng năng suất” – sa thải nhân viên và tiết giảm phí tổn – để cầm hơi. Nếu họ không đuổi bớt người thì đã mừng, đó là việc số người lần đầu khai báo thất nghiệp có giảm. Nhưng con số lạc quan này chưa hẳn là doanh nghiệp đã tuyển thêm người mới.


Các doanh nghiệp chưa yên tâm với chiều hướng chính trị hiện nay, khi họ vẫn bị xem là bọn nhà giàu có tội và đáng bị đánh thuế thêm một đợt nữa để góp phần tái lập công bằng…


Nhìn ra bên ngoài, vì Hoa Kỳ giao thương với cả thế giới, tình hình cũng chưa có gì khả quan.


Kinh tế Trung Quốc có thể giảm đà tăng trưởng và nếu Bắc Kinh có mở biên độ giao dịch đồng Nguyên thì việc xuất cảng vào thị trường này chưa thể là giải pháp cứu nguy kinh tế Mỹ. Ðã thế, Âu Châu có khi lại lãnh họa và gây hậu quả bất lợi cho Hoa Kỳ.


Sau Hy Lạp rồi Ý đến Tây Ban Nha cũng đã thay đổi lãnh đạo và áp dụng chánh sách khắc khổ, mà Liên Hiệp Âu Châu và khối Euro chưa đẩy lui khủng hoảng. Từ nay đến tháng 6, Pháp lại có bầu cử – vòng sơ bộ vào tuần tới và vòng loại vào tháng 5 – rồi bầu Quốc Hội vào tháng 6.


Nếu đảng Xã Hội và cánh tả thắng cử, như người ta dự đoán ngay trước ngày bầu cử, Chính quyền mới của Pháp sẽ tăng thuế, nâng mức trợ cấp xã hội, tăng chi để tuyển thêm công chức và phủ nhận thỏa thuận về chánh sách kiệm ước của 25 nước Liên Âu hôm mùng 2 tháng 3, trong đó có nước Pháp. Khi ấy, tương lai cả Âu Châu và khối Euro sẽ treo trên cổ nước Ðức, và chấn động từ đó sẽ dội về Hoa Kỳ.


Kinh tế Mỹ có thể lại bị suy trầm vào mùa Thu, trước khi dân Mỹ đi bầu.


Từ trong ra ngoài, mấy hồi trống trận ấy mới thực sự nguy nàn, hơn hẳn những nhiễu âm hiện nay của cuộc tranh cử.

Quân y hiện dịch QLVNCH hội ngộ lần đầu tiên

 


 


Ðỗ Dzũng/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV)Gần 150 bác sĩ, nha sĩ và dược sĩ từng phục vụ trong QLVNCH vừa có cuộc hội ngộ lần đầu tiên tại The Villa Banquet Room, Westminster, hôm Chủ Nhật.







Cựu sinh viên quân y QLVNCH ôn lại kỷ niệm xưa qua những bức ảnh cũ. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)


Bác Sĩ Phạm Gia Cổn, trưởng ban tổ chức, cho nhật báo Người Việt biết: “Thực ra, chúng tôi muốn tổ chức hội ngộ nhiều lần lắm, nhưng vì anh em quá bận rộn. Hơn nữa, khi còn hiện dịch, chúng tôi ‘dính’ trong nhiều binh chủng khác nhau. Thành ra, khi ra hải ngoại, ít nhiều anh em cũng sinh hoạt trong các hội ái hữu của các binh chủng này.”


“Tuy nhiên, cách đây hai năm, nhân dịp chúng tôi thành lập một diễn đàn quân y, được anh em ủng hộ và khuyến khích, rồi liên lạc với nhau. Thế là chúng tôi rủ nhau tổ chức buổi hội ngộ này,” Bác Sĩ Cổn nói thêm.


Ông cho biết thêm, với bước đầu rất khả quan, có nhiều người từ những nơi xa xôi và ở những quốc gia khác về tham dự, ban tổ chức hy vọng trong thời gian tới sẽ tiếp tục tổ chức hội ngộ, ít nhất hai năm một lần.







Tờ chương trình được phóng lớn cạnh “mannequin” một sĩ quan quân y trong lễ phục rất đẹp, ngay lối vào nhà hàng. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)


Bước vào nhà hàng, mọi người đều nhìn thấy một tờ chương trình được phóng lớn, để cạnh “mannequin” một sĩ quan quân y trong lễ phục rất đẹp và hai tủ kiếng trưng bày những cái nón và huy hiệu các binh chủng QLVNCH có quân y phục vụ.


Bên trong nhà hàng, phía bên trái, là những lá cờ các binh chủng QLVNCH, bên phải là triển lãm những hình ảnh của lực lượng quân y, bao gồm hình ảnh ở mặt trận, ở trường Ðại Học Y Khoa Sài Gòn, lễ mãn khóa, khi các sĩ quan này còn là sinh viên y khoa.


Nhiều người lặng lẽ nhìn những tấm hình gợi nhớ một thời phục vụ và chiến đấu của họ, trong cuộc chiến cách đây gần 40 năm. Một số khác chỉ vào những tấm hình, ôn lại kỷ niệm cũ với đồng đội.


Sau nghi thức chào quốc quân kỳ, một số diễn giả, là những giáo sư, niên trưởng, lên kể lại kỷ niệm thầy trò và chia sẻ những câu chuyện ngày xưa.







Bác Sĩ Phạm Gia Cổn, trưởng ban tổ chức Hội Ngộ Quân Y Hiện Dịch QLVNCH. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)


Một diễn giả được nhiều người chú ý nhất. Ðó là cựu phóng viên chiến trường người Tây Ðức, ông Uwe Siemon-Netto, từng có mặt tại Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1970.


Ông cho biết “rất hân hạnh được mời đến nói chuyện, gần nửa thế kỷ sau lần đầu tiên đến Việt Nam với tư cách phóng viên chiến trường Tây Ðức.”


Ông kể lại những kỷ niệm ở Việt Nam, về cuộc chiến Việt Nam, về cuộc chiến hiện nay ở Afghanistan, về suy nghĩ của ông, và nói “tôi tin rằng tất cả chúng ta đều có trách vụ là những nhân chứng của lịch sử.”


“Chúng ta có hy vọng, hy vọng cho Việt Nam, hy vọng cho Afghanistan, hy vọng cho nhân loại,” ông Siemon-Netto nói. “Chúng ta không biết rõ tương lai, nhưng chúng ta kêu gọi sự đóng góp của mọi người cho một tương lai tươi sáng hơn.”


Theo sách “Quân Y Quân Lực VNCH” do Bác Sĩ Trần Xuân Dũng thực hiện và phát hành năm 2000, trường Quân Y Trung Ương được thành lập năm 1951 tại bệnh viện Bác Sĩ Patterson ở phố Hàng Chuối, Hà Nội, do Y Sĩ Trung Tá Phạm Biểu Tâm làm giám đốc.


Khóa 1 chỉ có 54 sinh viên, đa số là tình nguyện thẳng từ các trường y dược và một số tuyển lại từ các sinh viên y dược đã bị gọi động viên tại các trường quân sự Nam Ðịnh và Thủ Ðức.


Một năm sau, trường tổ chương trình nội trú cho sinh viên.


Năm 1956, trưởng giải tán và sát nhập vào Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y, ở Quân Y Viện Chi Lăng.


Năm 1957, trung tâm dọn về trụ sở mới ở số 4 đại lộ Hùng Vương, Chợ Lớn.


Năm 1961, trường lấy lại tên Trường Quân Y.


Giám đốc cuối cùng của trường là Y Sĩ Ðại Tá Hoàng Cơ Lân, từ năm 1973 đến năm 1975.


Tổng cộng, từ năm 1953 đến năm 1975, trường có 13 vị giám đốc hay chỉ huy trưởng.


Mọi chi tiết liên quan đến cựu sinh viên quân y QLVNCH, xin vào trang web www.svqy.org.


 


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Ði tìm nhân vật Dạ Lan

 


Bài: Huy Phương/Người Việt









Ảnh: Photo Nguyễn Kỳ (Saigon 1964)

Hiện nay, ở quận Cam có một ca sĩ tên Dạ Lan cũng như ở đài Little Saigon Radio có một xướng ngôn viên tên Nhã Lan, nhiều người đã hỏi tôi có phải đó là cô Dạ Lan ngày xưa trong đài Quân Ðội VNCH hay không. Gần nửa thế kỷ trôi qua, sao mọi người cứ nghĩ như chuyện mới ngày hôm qua. Nên trả Dạ Lan về cho sự thật đúng nghĩa của nó: một vở kịch đã buông màn hay một huyền thoại đã xa xôi. 


Có một chương trình phát thanh mang tên Dạ Lan 


Dạ Lan là tên một chương trình phát thanh của đài phát thanh Quân Ðội VNCH khởi đầu từ năm 1964 và kéo dài cho đến ngày Saigon thất thủ. Theo danh từ chuyên môn đây là một chương trình binh vận, nghĩa là nhằm tác động tinh thần chiến đấu của binh sĩ. Chương trình phát thanh này được phát mỗi đêm trên làn sóng dành riêng cho quân đội trong hệ thống phát thanh quốc gia, qua đài tiếp vận Quán Tre, có công suất rất mạnh có thể nghe đến Bến Hải, nghĩa là khắp 4 Vùng Chiến Thuật.


Năm 1964, Ðại Tá Trần Ngọc Huyến, được bổ nhiệm vào chức vụ Giám Ðốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý, Bộ Quốc Phòng và chính ông người khai sinh ra chương trình phát thanh “Dạ Lan” của đài Phát Thanh Quân Ðội, vì sau biến cố 1963, cần ổn định lại tinh thần của các binh sĩ ngoài mặt trận. Chương trình Dạ Lan, phỏng theo một chương trình địch vận của Ðài Loan hướng về Trung Quốc lục địa vào thập niên 50, nếu tôi nhớ không lầm, theo lời Ðại Tá Huyến, mang tên “Hoa Hồng Ðen.” Ðại Tá Trần Ngọc Huyến lấy tên Dạ Lan đặt tên cho chương trình như một loài hoa nở về đêm, dùng một giọng nói thiếu nữ đêm đêm chuyện trò qua làn sóng điện với các chiến sĩ ngoài tiền đồn mà có thể không cần đến nhan sắc.


Dạ Lan 1 


Ðược như vậy cần phải chọn một giọng nói thật ngọt ngào, quyến rũ. Một ứng viên duy nhất được ban tham mưu chương trình chọn lựa từ trong nội bộ ngành truyền thanh là cô Hoàng Xuân Lan, nguyên xướng ngôn viên đài phát thanh Ðồng Hà. Cô Xuân Lan người Trung nhưng nói giọng Bắc khá chuẩn. Một ban biên tập được thành lập để lo bài vở cho chương trình mỗi đêm gồm có lá thư Dạ Lan, câu chuyện thời sự, tin tức, điểm báo và phần nhạc yêu cầu cho “tiền tuyến.”


Mỗi đêm từ 7 giờ đến 9 giờ tối, trên làn sóng đài phát thanh Quân Ðội, “em gái hậu phương Dạ Lan” với giọng nói dịu dàng, ngọt ngào “như mật rót vào tai” đã bay xa đến với anh em chiến sĩ ở những vùng đất xa xôi, tiền đồn heo hút. Chương trình thành công vượt bực và thư từ anh em chiến sĩ, nhất là từ các vùng đất xa xôi, tiền đồn heo hút gửi về cho Dạ Lan tới tấp, đến nỗi đài Quân Ðội phải mướn bốn nữ nhân viên dân chính, công việc mỗi ngày chỉ để ngồi viết thư trả lời cho các anh chiến sĩ. Bốn cô đặc trách 4 Vùng Chiến Thuật, và lẽ cố nhiên dưới mỗi lá thư đều ký tên Dạ Lan. Quý bạn thử đặt trường hợp của một người lính xa nhà, ở một nơi tiền đồn heo hút, xa ánh đèn thành phố, không sách báo, mỗi đêm chỉ có một cái radio chạy pin để nghe em gái Dạ Lan tỉ tê, tâm sự lại được một lá thư hồi âm của em gái Dạ Lan từ KBC 3168, hạnh phúc biết bao.


Nếu như anh chàng bộ đội Trung Cộng mỗi đêm thường nghe lén cô nàng Hoa Hồng Ðen từ Ðài Loan, có hâm mộ bao nhiêu cũng không thể bơi qua eo biển Ðài Loan để gặp nàng, nhưng các quân nhân ái mộ Dạ Lan ở đài Quân Ðội mỗi lần đi phép về Saigon đều tìm cách ghé thăm cô Dạ Lan trong mộng. Tuy vậy chủ trương của người làm chương trình này, Dạ Lan chỉ là một giọng nói mà không là người thật, nên không anh chiến sĩ nào có cơ hội được gặp mặt cô Dạ Lan.


Ít lâu sau để đáp ứng “nhu cầu chiến sĩ” cô Hoàng Xuân Lan được cho phép đi chụp ảnh in thành carte-postale, để gửi tặng anh em chiến sĩ. Ðó là bức ảnh được in trên bìa báo Xuân Chiến Sĩ Cộng Hòa năm 1965, do nhà nhiếp ảnh nổi tiếng Nguyễn Kỳ ở Saigon vào thập niên 60, chụp. Bức ảnh đã được làm mờ các chi tiết, sở trường trong các bức chân dung của Nguyễn Kỳ. Sai lầm của Ðài Phát Thanh Quân Ðội là đã tặng ảnh chân dung Xuân Lan cho các quân nhân thính giả vì hình ảnh trong tưởng tượng bao giờ cũng đẹp hơn sự thật ngoài đời. 


Dạ Lan  2:


Năm 1966, tôi không nhớ là khoảng tháng nào, trong khi chương trình Dạ Lan đang thành công như vậy, thì người xướng ngôn viên, cô Hoàng Xuân Lan, bỏ đài lên Ðà Lạt, gây bối rối không ít cho quản đốc đài là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thúy (vừa qua đời tại Nam Cali) và Q. Cục Trưởng Cục Tâm Lý Chiến là Trung Tá Cao Ðăng Tường (lúc bấy giờ Nha CTTL đã đổi thành Cục Tâm lý Chiến và Ðại Tá Trần Ngọc Huyến đã rời nhiệm sở này). Thay vì ngưng phát chương trình Dạ Lan thì đài Quân Ðội dùng cô Hồng Phương Lan (cũng là Lan), một xướng ngôn viên có sẵn của đài vào thay thế. Cô này có hiệu là Mỹ Linh, thường phụ trách mục nhạc ngoại quốc yêu cầu của đài, có giọng Bắc khả ái như cô Hoàng Xuân Lan tức là Dạ Lan 1. Ngoài nhân viên của đài, không ai phân biệt được sự khác biệt giữa hai giọng nói Dạ Lan, đêm đêm giọng nói nghe như vẫn còn đó, nhưng người nói đã thay đổi.


Chương trình Dạ Lan của đài Quân Ðội dần dà trở thành một chương trình mang tên Dạ Lan, bình thường như những chương trình phát thanh khác và sự hâm mộ em gái Dạ Lan cũng dần dần phai nhạt. Thư từ không còn tới tấp gửi về như những năm đầu. Rồi biến cố tháng 4, 1975 xẩy ra, người và việc trôi dần vào quên lãng. 


Ði tìm nhân vật Dạ Lan 


Khoảng năm 2005, ký giả Nguyễn Khắp Nơi của tuần báo Việt Luận ở Sydney, Úc có lòng nhớ đến chương trình phát thanh Dạ Lan năm xưa, đã viết một bài báo nhắc đến chương trình Dạ Lan và cho rằng cô Dạ Lan “phải được ngưỡng mộ và vinh danh trước quần chúng,” và đòi hỏi rằng “cô cũng nên xuất hiện để cho chúng ta ngưỡng mộ như một chiến sĩ” nhưng có lẽ chính ông cũng không biết có đến hai người đóng vai Dạ Lan.


Qua sự thăm hỏi của nhiều người, cuối cùng người ta được biết, cô Hoàng Xuân Lan (DL.1) hiện đang sống ở Saigon và cô Hồng Phương Lan (DL.2) đang định cư tại S. Carolina, và cho đến giờ này, trong thư từ và cả email giao thiệp cả hai cô đều ký tên mình là Dạ Lan.


Chúng ta nên phân biệt nhân vật của một vở kịch và người đảm nhiệm vai kịch. Thanh Nga không phải là cô Lựu hay Thái Hậu Dương Vân Nga. Dạ Lan là một chương trình phát thanh binh vận của đài Phát thanh Quân đội, cô Hoàng Xuân Lan và cô Hồng Mỹ Linh đã tiếp tục thay nhau để đảm nhận vai trò này trong một giai đoạn cần thiết nào đó, cho nên không thể nói cô này là Dạ Lan hay cô kia là Dạ Lan.


Sai lầm của công chúa Mỵ Nương là muốn gặp mặt cho bằng được con người mang tên Trương Chi có tiếng sáo bay bổng tuyệt vời đêm đêm, và sai lầm của đài phát thanh Quân Ðội là đã cho phát tán hình ảnh thật của cô Hoàng Xuân Lan.


Ðến nay, chúng tôi thấy không cần thiết phải đòi hỏi sự xuất hiện của hai cô thủ vai Dạ Lan, dù với mục đích hay hảo ý nào đi nữa. Vả lại, thời gian đã gần 40 năm trôi qua, nên giữ lại những hình ảnh đẹp đẽ của “những ngày xưa thân ái”, với giọng nói dịu dàng, êm ái đêm đêm như ru hồn đã làm ấm lòng biết bao nhiêu chiến sĩ, thế là đủ. Người giữ vai xin đừng ai nhận mình là Dạ Lan và người ái mộ đi tìm không nên truy bức tận cội nguồn của những nhân vật, đã được gọi là… huyền thoại.

Vết thương ngày 30 tháng 4

 


Nguyễn Gia Kiểng


(Nguồn: Thongluan.co)


 


“…Ngày 30 tháng 4, 1975 đã có thể là một ngày vui lớn của dân tộc, một ngày khởi hành vào một kỷ nguyên của tình anh em tìm lại, của cố gắng chung và của thành công chung…”


Trong bóng tối ruỗng im quái gở


Lúc dứt lặng trận chiến man rợ


Hắn rũ bỏ ký ức, và đi.


(Thanh Tâm Tuyền)


Tôi biết X từ đầu thập niên 1960 tại trường Chu Văn An. X nổi tiếng học giỏi. Sau đó X đi du học Mỹ, tốt nghiệp một trường đại học danh tiếng, rồi về nước dạy đại học và làm tổng giám đốc một công ty, cưới vợ đẹp, thông minh và thuộc gia đình lớn. Nói chung là một cuộc đời hoàn toàn thành công. Không bằng X nhưng tôi cũng khá may mắn. Ngày 30 tháng 4, 1975 đã ập tới, đánh một dấu chấm hết tàn bạo lên sự nghiệp của chúng tôi và kéo chúng tôi xuống vực thẳm.


Khi tôi đi cải tạo về, tôi lại gặp X, được trả tự do cách đó ít lâu. Chúng tôi làm cùng một cơ quan và ngồi cùng một phòng. Trong hơn một năm liền, hai đứa cả ngày gặp nhau và tâm sự. Chúng tôi theo đuổi cùng một dự định là vượt biên, nhưng còn chia sẻ với nhau một dự định khác to lớn hơn nhiều là thay đổi dòng lịch sử. Quyết tâm của chúng tôi là ra đi để tìm đường cứu nước chứ không phải để mưu tìm cuộc sống tiện nghi cá nhân.


Thời thế tạo anh hùng, một thư sinh như X mà hoàn cảnh đẩy đưa tới những thành tích khó tưởng tượng. Có lần trong hai ngày X bị bắt ba lần và đều vượt ngục được. Lần áp chót, X tổ chức đánh cướp một chiếc tàu nhà nước nhưng thất bại, bị bắt và trèo tường vượt ngục ngay tại Sài Gòn. Tôi phải giúp X lẩn trốn và tìm đường cho X vượt biên thoát vòng truy nã của công an. Ðang loay hoay thì X cho hay đã tìm được một chuyến đi. Và lần này X đi lọt. Tôi nhận được thư báo tin mừng khoảng một hai tuần sau đó. Ðó là cuối năm 1980.


Tôi kể câu chuyện này dài dòng như vậy chỉ để nói lên một điều: chúng tôi rất gắn bó với nhau và những kỷ niệm của chúng tôi chỉ có thể là sống để bụng chết mang theo.


Hai năm sau tôi cũng ra được nước ngoài và không hề nghe ai nhắc đến X. Tôi vốn đã ngạc nhiên ngay từ khi còn ở Việt Nam vì thấy X bặt tăm luôn. Tôi xin được địa chỉ của X nhưng không liên lạc, chờ tìm hiểu xem tại sao có sự bỏ cuộc đó. Tôi đánh mất địa chỉ X mấy lần, xin lại được, rồi lại để đó. Cho tới gần đây tôi quyết định gọi điện thoại cho X. Ðiều tôi không thể ngờ là X hoàn toàn quên tôi, kể cả tên! Tôi cố nhắc lại những kỷ niệm ngày xưa, X chỉ còn nhớ mang máng. Tôi biết X không nói dối, hắn quên thực, hắn cố nhớ mà không được. Nhưng X không hề mất trí, hắn đang giữ một chức vụ quan trọng, lương cao, trong một công ty kỹ thuật hiện đại. Hắn chọn ở một thành phố không có người Việt và không tìm gặp một người Việt nào. Chắc chắn đã phải có một chấn động ghê gớm, kinh khủng đến nỗi X quyết định quên hết, kể cả tổ quốc Việt Nam mà trước khi ra đi hắn coi như là một lý tưởng để phục vụ. Ðiều cũng chắc chắn là chấn động kinh khủng đó đã không, hay ít nhất không hoàn toàn, xảy ra trong lúc vượt biên, bằng cớ là khi đến nơi X vẫn còn viết thư về cho tôi. Phải hiểu rằng chính khi đã bình tĩnh ngồi ôn lại đời mình, X đã thấy tất cả đều vô nghĩa và lấy quyết định xóa bỏ quá khứ.


 


Ê chề như nhau


 


Ngày 30 tháng 4, 1975 đã không đến trong niềm vui thống nhất đất nước, hòa giải và hòa hợp dân tộc mà mọi người mong ước. Sau ngày 30 tháng 4, 1975, tôi đã nói với các cộng sự viên của mình là một trang sử vừa lật qua, có những lúc phải chống nhau nhưng cũng có những lúc phải cố gắng để bắt tay nhau xây dựng đất nước. Tôi chấp nhận thất bại và bằng lòng trả giá cho sự thất bại đó bằng cách từ đây không đòi hỏi bất cứ một vinh dự nào. Tôi chỉ còn một tham vọng làm được một vài điều lợi ích cho đất nước trong vai trò của một chuyên viên. Nhưng chỉ vài ngày sau tôi hiểu là ngay cả cái ao ước rất tầm thường đó cũng không thực hiện được. Những loa phóng thanh đặt khắp đường phố suốt ngày phát ra những bài vừa đắc thắng vừa miệt thị. Mọi chức vụ tại các công sở, nhà thương, trường học đều bị xóa bỏ, mọi thâm niên công vụ, hưu bổng, trợ cấp phế tật cũng đều bị xóa bỏ. Các xí nghiệp tư cũng được “tiếp thu.” Thanh thiếu niên diện ‘”ngụy quân ngụy quyền” bị đuổi khỏi trường học. Các đường phố, trường học mang tên những danh nhân miền Nam được đổi thành những đường mang tên liệt sĩ cộng sản, có khi chỉ là những tay khủng bố rất tầm thường. Sài Gòn cũng mất tên. Người chết cũng không yên, tượng tử sĩ ở nghĩa trang quân đội cũng bị giật sập. Khoai mì từ đây phải gọi là sắn, bắp là ngô, heo là lợn, nhà bảo sanh là nhà đẻ, hay xưởng đẻ. Người miền Nam mất tài sản, địa vị và vai trò. Miền Nam mất ngôn ngữ, mất tên và mất cả căn cước. Ðây không phải là một cuộc thống nhất, mà là một cuộc chiếm đóng. Hòa giải và hòa hợp dân tộc được hiểu một cách giản dị là tha chết cho kẻ chiến bại.


Cho tới nay vẫn còn một số rất đông người cho là đảng cộng sản không hiểu gì về tổ chức của xã hội miền Nam khi bắt các sĩ quan biệt phái đi học tập cải tạo trong khi trên thực tế họ đã giải ngũ và chỉ là những người dân sự mà thôi. Làm sao đảng cộng sản lại không hiểu? Họ hiểu, và họ hiểu rất rõ tổ chức của miền Nam. Nhưng chính sách tập trung cải tạo nhắm một mục đích khác: đánh gục vĩnh viễn miền Nam. Những sĩ quan biệt phái không bị bắt giam vì đã bị coi lầm là sĩ quan hiện dịch, họ bị tập trung cải tạo vì họ đã được huấn luyện quân sự và có khả năng chỉ huy một đơn vị quân đội. Bắt giam họ là để tiêu diệt mọi tiềm năng chống đối. Cũng không phải chỉ có họ, tất cả viên chức từ cấp phó giám đốc trở lên, rồi đến các doanh nhân có một chút tầm vóc và các văn nghệ sĩ, nói chung là tất cả những ai có thể có một vai trò lãnh đạo trực tiếp hay gián tiếp, dù là chính trị, quân sự, kinh tế hay văn hóa. Mục đích của chính sách cải tạo là để tiêu diệt đại bộ phận thành phần tinh nhuệ và trí tuệ của miền Nam. Không tàn sát, nhưng đập tan ý chí bằng cách đày đọa, và nhất là làm nhục.


Kế hoạch này không thể không thành công. Những năm dài tù tội đói khổ, sự thèm thuồng cục đường, trái chuối, củ khoai, miếng cơm cháy, và việc cất giấu đồ thăm nuôi, trùm chăn ăn lẻ làm con người mất sự tự trọng, hay ít nhất sự kính trọng lẫn nhau. Những đêm trằn trọc thương con, xót vợ. Những buổi “làm việc” ê chề với những câu hỏi khiêu khích (ăn hối lộ bao nhiêu? Hiếp dâm bao nhiêu lần? Bắt bao nhiêu con gà? v.v…), kèm theo những lời quát tháo, lăng mạ. Những bản tự khai phải viết đi viết lại nhiều lần vì không thành thật khai báo, không đủ ăn năn hối cải. Những bài giảng chính trị của các cán bộ giảng dạy ngớ ngẩn, hách dịch và đắc chí. Một người bình thường không thể chống cự được quá một năm mà không thành phế nhân về một khía cạnh nào đó, trong khi thời gian giam cầm trung bình của một sĩ quan, công chức, doanh nhân hay trí thức lại không phải là một năm, mà là năm năm.


Nhưng cái nhục lớn nhất không phải ở trong trại tù mà ở ngoài xã hội. Phải thụ động chứng kiến cả một công trình đập phá đất nước và đập phá chính đời mình. Phải nhìn sự ngu dốt và xảo trá ngự trị trên chính quyền, và còn phải hoan hô!


Một lần tôi đi công tác với một cán bộ đảng ủy đến làm việc với một xí nghiệp “công tư hợp doanh.” Nói là công tư hợp doanh nhưng thực ra đó là xí nghiệp của một tư nhân lập ra, sau này được nhà nước “cho hợp doanh” bằng cách cướp trắng xí nghiệp, giáng ông giám đốc chủ nhân xuống làm phó giám đốc và cử một đảng viên hoàn toàn không biết gì về nghề nghiệp cũng như về quản trị xí nghiệp làm giám đốc. Xí nghiệp lúc đó còn hoạt động cầm chừng. Anh đảng ủy, một người rất chất phác và dễ mến, nói “bây giờ còn làm việc được, nhưng vài tháng nữa sẽ phải đi vào nền nếp và lúc đó là hết sản xuất.” Anh ta nói một cách rất thản nhiên và thành thực. Hình như anh ta thấy việc phá hoại một xí nghiệp là bình thường, cũng như việc nhà nước cướp trắng một cơ nghiệp của một người dựng ra bằng mồ hôi nước mắt. Tôi liếc nhìn ông phó giám đốc cựu chủ nhân và gặp mắt ông ta cũng nhìn tôi. Tôi chắc ông ấy muốn hét lên, văng tục, đập phá nhưng vẫn phải làm ra vẻ tán thành. Người miền Nam đã mất tất cả, mất nước trên chính quê hương mình, không có cả quyền khóc và không có cả quyền buồn.


Không phải chỉ đập phá vì ngu dốt mà còn vì nhẫn tâm. Ông Võ Văn Kiệt khi làm bí thư thành ủy Sài Gòn đã lấy quyết định “giải tỏa” nghĩa trang Mạc Ðỉnh Chi. Hàng đêm ông cho bọn côn đồ vào đập phá mồ mả để cho người ta đau xót mà phải tự động dời mộ thân nhân đi. Tôi vào giúp người bạn cải táng mộ mẹ anh và chứng kiến hàng ngàn ngôi mộ bị đập phá tan tành, mỗi ngôi mộ thường là của cả gia đình với hàng chục hài cốt, có những người qua đời đã trên trăm năm. Rất nhiều gia đình đang di tản hài cốt thân nhân. Nhiều phụ nữ khóc sụt sùi, nhưng nói chung mọi người đều im lặng. Ánh mắt nào cũng đầy một hận thù ghê gớm. Không ai chửi mặc dầu không có công an ở đấy, mà dù có cũng không sao vì trong hoàn cảnh ấy ai cũng thông cảm. Nhưng người ta không chửi vì hình như sợ nếu chửi sẽ bớt căm thù. Mục đích của ông Kiệt chỉ là để chiếm một khu đất rộng xấp xỉ một hecta.


Chỉ có một số ít người có phương tiện để vượt biên. Nhưng vượt biên có thể là một tủi nhục còn lớn hơn. Một người, dù mệt mỏi và say sóng đến đâu, nhưng nếu đã phải chứng kiến một phụ nữ, có khi là chính vợ con mình, bị hải tặc hãm hiếp mà không thể can thiệp sẽ không thể giữ được trọn vẹn lòng tự hào trong phần còn lại của đời mình. Sau đó là cuộc sống rẻ rúng trên các trại tị nạn, những buổi xếp hàng ghi danh xin trợ cấp xã hội, cuộc sống buồn tẻ lầm lũi với những công việc không tương xứng tại xã hội tiếp cư.


Không phải ai cũng có điều kiện để quên hết như anh bạn X của tôi. Phần đông cũng rất muốn quên mà không được. Họ vẫn phải sống trong những khu đông người Việt, vẫn phải nghe tới và nói tới Việt Nam. Họ vật vã để quên một cách khác. Họ coi những khu đông người Việt như những vùng đất Việt Nam còn giữ được, có vai trò thay thế cho đất nước Việt Nam mà họ đã rời bỏ. Tôi hiểu sự phẫn nộ của những người xuống đường biểu tình trong vụ Trần Văn Trường tháng 2 vừa rồi tại Bolsa. Sự tức giận của họ có thể tóm tắt như thế này: “Ta đã bỏ cho nó cả nước Việt Nam, ta đã mất tất cả, mà nó cũng không để ta yên.” Nếu không thì không thể giải thích được tại sao các cuộc mít-tinh biểu tình vì tự do, dân chủ và nhân quyền đã chỉ thưa thớt vài trăm người trong khi một tên khùng lại có thể làm cả chục ngàn người xuống đường.


Các bạn tôi ở Mỹ cố gắng giải thích rằng Trần Văn Trường chỉ là ngòi nổ, người Việt Nam ở Cali đã xuống đường vì một cái gì đó sâu sắc hơn. Nhưng họ không giải thích được rõ rệt cái sâu sắc hơn đó là cái gì. Lý do sâu xa đó có lẽ một cựu sĩ quan ở Paris đã diễn tả đúng. Anh nói “nếu tôi ở Cali, tôi cũng đi biểu tình vì vụ này nó nhắc lại cho tôi một quá khứ mà tôi không muốn nhớ lại nữa.” Người ta phẫn nộ vì chính mình đã phải treo cờ cộng sản và ảnh Hồ Chí Minh trong một thời gian dài; trong lòng nguyền rủa mà bề ngoài vẫn phải ra vẻ tự nguyện. Ðó đã là một cuộc cưỡng hiếp hàng ngày.


Các bạn bên Mỹ báo tin: các cuộc biểu tình bây giờ đã thay đổi định hướng, đã vượt lên khỏi cờ và ảnh để trở thành những cuộc biểu tình thắp nến vì dân chủ và nhân quyền, với sự nhập cuộc của tuổi trẻ. Tôi phân vân. Có thể đẹp như vậy được sao? Nhưng sau đó thì cuộc “đấu tranh” cũng mất dần khí thế. Ðộng cơ của nó chỉ là sự tức tối, khi gạt bỏ sự tức tối nó cũng mất sức mạnh. Thực chất đó vẫn chỉ là những cuộc biểu tình chống treo cờ cộng sản và ảnh Hồ Chí Minh ở một khu được hoang tưởng hóa thành phần đất bất khả xâm phạm của những người nghĩ rằng mình đã mất tất cả. Khu đất đó cho tới nay có vai trò là để giúp người ta khỏi phải bận tâm với đất nước Việt Nam đã bỏ lại đằng sau như một kỷ niệm đen tối.


Ðối với những người còn lại trong nước, đất nước lại càng nhức nhối hơn. Nó là một sự bất lực hàng ngày, một sự khiêu khích và thách đố thường trực, trong khi không nhìn thấy một hy vọng nào. Lại càng phải cố gắng để quên đi bằng cách tập trung mọi ưu tư vào việc mưu sinh vốn đã khó khăn, để yên phận tù đày. Như câu thơ đầu bài của Thanh Tâm Tuyền, người Việt Nam rũ bỏ ký ức và ra đi. Ði ra nước ngoài, nhưng cũng có thể “đi” ngay trên đất nước. Vẫn ở đấy mà vắng mặt.


Ngày 30 tháng 4, 1975 không phải chỉ là một tủi hận cho người miền Nam. Ðối với người miền Bắc, đặc biệt là đối với những người đã đóng góp cho guồng máy cộng sản, sự tủi hận có lẽ còn lớn hơn. Họ không chịu đựng từ 1975, mà từ hai mươi năm về trước. Họ đã phải im lặng trong đợt cải cách ruộng đất, đã phải chà đạp lên chính lương tâm mình để đánh hôi nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, nhóm Xét Lại Chống Ðảng. Họ không những chỉ là những nạn nhân chịu đau mà không dám than khóc, họ còn bị bắt buộc phải làm đồng lõa cho cái tồi bại. Khi một đứa con bị bắt buộc phải chỉ vào mặt mẹ mà quát, “Con này, mày có biết tao là ai không?” thì không phải chỉ có đứa con và người mẹ là khốn khổ, không phải chỉ có chế độ là đểu cáng, mà cả dân tộc cũng bị làm nhục. Và nhục nhã nhất là chính những người phải tiếp tay cho guồng máy ghê tởm đó. Nhân cách và sự tự trọng không thể sống sót, người ta sau đó không còn cả lòng tự hào để nghĩ đến chống lại nữa. Những tiếng gào thét “chống Mỹ cứu nước,” “giải phóng miền Nam” chỉ có thể là thành thực với một số nhỏ, đối với đa số nó chỉ là sự phục tùng trước bạo lực, đối với những người có ý thức nó chỉ là cuộc chạy trốn chính lương tâm mình. Ðối với đa số người miền Bắc, đặc biệt là đối với trí thức, ngày 30 tháng 4, 1975 đã là một hy vọng lớn. Biết đâu sau khi nhu cầu chiến tranh không còn nữa, đất nước đã thống nhất, đảng lại không thay đổi, lại không có tự do hạnh phúc thực sự, hòa giải dân tộc thực sự, đất nước lại chẳng khởi hành vào một kỷ nguyên mới? Thất vọng lại càng lớn, sự tủi nhục lại càng lớn, vì mình không phải chỉ là nạn nhân mà còn là đồng lõa của sự gian ác, một sự đồng lõa cực kỳ vô duyên vì nó chẳng hề đem lại một lợi ích cá nhân nào. Kết quả của chiến thắng 30 tháng 4, 1975 đối với đại đa số đảng viên kỳ cựu chỉ là thiếu tá vá xe, đại tá bán chè.


Rồi hơn hai mươi năm xã hội chủ nghĩa. Hai mươi năm nội chiến từng ngày nhường chỗ cho hai mươi bốn năm cưỡng hiếp từng ngày. Mọi người đều mất và mất hết, ê chề như nhau. Sự thất vọng và chán chường, không phải của riêng miền Nam và những người chống cộng mà của mọi người trên cả nước, đã quá to lớn và dai dẳng. Nó đã biến thành sự chán chường đối với chính đất nước. Ðại đa số người Việt không còn muốn nghĩ tới đất nước nữa.


 


Tại sao?


 


Tại sao người ta có thể có những liều lĩnh ghê gớm như bán nhà lấy tiền đem vợ con vượt biên trên những con thuyền mong manh, làm mồi cho công an, hải tặc và sóng gió mà lại không dám đứng lên tranh đấu đổi đời?


Tại sao các chế độ độc tài trên thế giới, kể cả những chế độ độc tài đã khá thành công về mặt kinh tế và dân sinh, theo nhau sụp đổ trong khi chế độ cộng sản Việt Nam vẫn không gặp chống đối nào đáng kể, dù nó đã thất bại trong mọi địa hạt và trên mọi phương diện?


Có phải tại chế độ quá mạnh đến nỗi người ta không thể tưởng tượng có thể chống đối lại nó hay không? Chắc chắn là không. Ai cũng biết nó phân hóa, tham nhũng, mất phẩm chất, chao đảo, mâu thuẫn nội bộ. Chính ban lãnh đạo đảng cộng sản cũng không chối cãi. Có phải nó quá hung bạo đến nỗi làm người ta khiếp sợ không? Cũng không nốt. Trong ba năm qua, kể từ 1996, chế độ cộng sản đã chỉ bắt giam một trí thức đối lập là Nguyễn Thanh Giang và đã chỉ quản chế ba người là Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc và Tiêu Dao Bảo Cự. Họ cũng đã chỉ khai trừ một mình Trần Ðộ và cắt điện thoại của khoảng mười người. Theo tiêu chuẩn quốc tế hiện nay, chế độ cộng sản Việt Nam không nằm trong danh sách những chế độ vi phạm nhân quyền hung bạo nhất.


Vấn đề là người Việt Nam không tranh đấu chứ không phải là không thể tranh đấu.


Và tại sao lại không tranh đấu? Ðó là vì dân tộc ta đã rã hàng, mỗi người tự thấy mình cô đơn, có muốn cũng chẳng làm được gì. Ðó cũng là vì đã quá chán đất nước, đã mệt mỏi, đã mất ý chí và lòng tự hào.


Ðảng cộng sản không phải chỉ đánh gục phe quốc gia, hay miền Nam. Họ đã đánh gục được cả dân tộc Việt Nam. Chúng ta đã bị đả thương quá đau nên không thể đứng dậy.


 


Hai nhận định giải thoát


 


Dân tộc nào cũng trải qua những giai đoạn tan nát mà chỉ có một trấn tĩnh tinh thần mới cho phép nhìn ra lối thoát. Chúng ta cần trước hết là một sự hiểu biết về chính mình. Ít nhất chúng ta cần hai suy tư.


Suy tư thứ nhất là dân tộc ta không hèn mà chỉ là một dân tộc bị đả thương quá nặng. Chúng ta tự giam hãm trong mặc cảm hèn nhát và bất lực, đến nỗi mất lòng tin và ý chí, vì chúng ta không nhìn rõ gánh nặng lịch sử đè lên mình.


Từ đầu thế kỷ 16 chúng ta đã tiếp xúc với phương Tây, sự tiếp xúc đó là một khúc quanh đặc biệt quan trọng. Người phương Tây đem đến cùng với hàng hóa và kỹ thuật cả một văn hóa mới. Ðặc biệt các giáo sĩ đem đến một nhân sinh quan và một vũ trụ quan mới. Cuộc va chạm này đã tác động rất mạnh lên xã hội Việt Nam. Khổng Giáo, nền tảng của chế độ quân chủ tuyệt đối, không còn giữ được vai trò độc tôn nữa, nó đã bị lung lay. Chế độ quân chủ chao đảo trong nền tảng, mất dần sự chính đáng, suy yếu đi, kéo theo loạn lạc, đói kém. Xã hội Việt Nam tan rã và sụp đổ. Trong khoảng trống toàn diện đó, một lực lượng bạo loạn – anh em Tây Sơn – đã nắm được chính quyền bằng bạo lực và cai trị bằng bạo lực, để rồi cũng bị tiêu diệt bằng bạo lực. Nhà Nguyễn làm chủ đất nước, không ý thức được sự thay đổi văn hóa xã hội đã và đang diễn ra trước mắt họ, đã thi hành chính sách mù quáng bài phương Tây và cấm đạo, làm chia rẽ trầm trọng hơn nữa một dân tộc vốn đã hoang mang và phân hóa cùng độ. Hậu quả là chúng ta đã mất nước. Riêng sự kiện một số rất nhỏ người Pháp đã có thể dùng chính người Việt Nam để thống trị Việt Nam đủ chứng tỏ dân tộc Việt Nam đã rã hàng đến mức nào rồi. Tủi nhục nhất là suốt trong Thế Chiến II, một nắm nhỏ người Pháp đã thua trận và đã mất nước vẫn tiếp tục thống trị được người Việt một cách hung bạo. Họ đã chỉ bị Nhật, chứ không phải người Việt Nam, đánh đổ. Ðến khi Nhật thua trận và đầu hàng thì chính quyền Việt Nam hoàn toàn bỏ ngỏ và một lực lượng hung bạo mới, đảng cộng sản, nắm được chính quyền với vài khẩu súng. Sau đó là ba mươi năm nội chiến giữa một tập đoàn cộng sản theo đuổi một triết lý chính trị tệ hại và các chính quyền quốc gia hoàn toàn không có một ý thức chính trị nào cả. Chiến tranh đã tàn phá sức sống còn lại của ta. Sau đó là một bạo quyền vận dụng mọi sáng kiến và thủ đoạn để đập tan mọi ý chí cá nhân và mọi giềng mối trong xã hội để có thể duy trì ách thống trị trên một dân tộc bất lực vì phân hóa. Không một dân tộc nào có thể chịu đựng những đập phá và chà đạp kéo dài như thế mà không bị thương tổn nặng.


Chúng ta không hèn nhát và cũng không có lý do để hổ thẹn, chúng ta đã chỉ là nạn nhân của những thảm kịch tích lũy trong gần bốn thế kỷ. Nếu chúng ta vẫn còn giữ được một chút ý chí đấu tranh và một chút ý thức dân tộc như hiện nay thì đó quả đã là một phép mầu. Một dân tộc bình thường chắc chắn đã tiêu vong lâu rồi.


Kỷ niệm ngày 30 tháng 4, 1975 cũng là dịp để giải tỏa một tâm sự nặng nề cho người thuộc miền Nam và phe quốc gia cũ. Họ đã thất bại chủ yếu vì đã sáng suốt hơn đối thủ. Họ đã nhận ra sự vô lý của cuộc chiến và đã dừng tay, chẳng thà chấp nhận thất bại còn hơn tiếp tục tàn sát lẫn nhau giữa anh em ruột thịt. Ðó là một thái độ yêu nước. Thay vì cố gắng phủ nhận thất bại, đề cao sự oai hùng của quân đội miền Nam, chúng ta nên nhìn ra sự cao cả của quyết định khước từ cuộc chiến của thanh niên miền Nam. Ðó là một sự cao cả có thực, mà chắc chắn các công trình nghiên cứu mai sau sẽ phải nhìn nhận. Có lẽ trong bốn thế kỷ qua đó là phản ứng thông minh nhất của dân tộc ta.


Thay vì hổ thẹn, chúng ta hãy suy nghĩ về nguyên nhân của thảm kịch mà chúng ta đã và đang chịu đựng. Ðó là vì trong những giai đoạn chuyển hóa lớn dân tộc nào cũng cần được những nhà tư tưởng hướng dẫn, để biết mình nên nghĩ gì, đi hướng nào và làm gì. Ðiều bất hạnh cho chúng ta là trong suốt bốn thế kỷ đó chúng ta đã không có một nhà tư tưởng nào, chúng ta đã chỉ có những văn quan, võ tướng, anh hùng, liệt sĩ. Do đó chúng ta đã không có đồng thuận, đã hoang mang, bối rối, cãi cọ, xung đột và rã hàng, để rồi bị các tập đoàn hung bạo kế tiếp nhau chà đạp, dẫn đi từ thảm kịch này đến thảm kịch khác. Chúng ta đã trả giá đắt cho sự thiếu vắng một tư tưởng chính trị. Ðó chính là bài học đáng ghi nhận nhất.


Chúng ta có thể tìm kiếm một đồng thuận chính trị bằng cách học hỏi, suy nghĩ. Nhưng cũng có thể chỉ giản dị bằng thái độ, nghĩa là lắng nghe mọi ý kiến, thảo luận thành thực và tương kính với nhau. Chúng ta sẽ tìm ra được một đồng thuận dân tộc mới, sẽ kết hợp được và sẽ làm lại được đất nước.


Suy tư thứ hai là, dù muốn hay không, chúng ta bắt buộc phải tìm một giải pháp chung, chứ không thể chỉ tìm giải pháp cá nhân cho mỗi người. Sở dĩ chúng ta đã thất bại và tủi nhục là vì mọi người Việt Nam đã chỉ cố gắng tìm một giải pháp cá nhân cho mình. Vượt biên là một giải pháp cá nhân. Hối lộ là một giải pháp cá nhân. Chịu đựng và nhẫn nhục là một giải pháp cá nhân. Căm thù và nguyền rủa là giải pháp cá nhân. Tìm hãnh diện trong sự khá giả của gia đình và thành công của con cái là giải pháp cá nhân. Viết văn, làm thơ, in sách có thể cũng chỉ là giải pháp cá nhân.


Không phải giải pháp cá nhân nào cũng đáng trách, trái lại có nhiều giải pháp cá nhân rất chính đáng, cần thiết và đáng khuyến khích nhưng không thể chỉ có giải pháp cá nhân. Quay lưng lại với đất nước là một sai lầm tai hại ngay cả cho chính mình. Người trong nước không thể có giải pháp tự cứu nào ngoài một giải pháp chung cho đất nước, nhưng người ngoài nước cũng cần một nước Việt Nam dân chủ và giàu mạnh để có một chỗ dựa, để được kính trọng và để thành công. Ý thức được rằng phải có một giải pháp chung cho dân tộc là chúng ta đã đi được quá nửa đoạn đường ra khỏi bế tắc và tủi nhục. Năm trăm người trên một con thuyền vượt biên đã bị hai mươi tên hải tặc uy hiếp vì họ chỉ là năm trăm cá nhân. Tám mươi triệu người để cho một đảng cộng sản phân hóa và chao đảo khống chế cũng vì chỉ là tám mươi triệu người cô đơn.


Ngày 30 tháng 4, 1975 đã có thể là một ngày vui lớn của dân tộc, một ngày khởi hành vào một kỷ nguyên của tình anh em tìm lại, của cố gắng chung và của thành công chung. Thực tế nó đã chỉ là một thương tích nặng, và rất nặng, trên một cơ thể vốn đã bầm tím những vết đòn chí tử. Từ đó bệnh nhân không những không được săn sóc và chữa trị mà còn tiếp tục bị đày đọa và đả thương thêm. Không ai đo lường hết được mức độ trầm trọng của vết thương 30-4 và những tàn phá trên thể xác và tâm hồn Việt Nam.


Nhưng dầu sao cũng đã đến lúc phải đứng dậy.


Một thế kỷ và một thiên niên kỷ sắp qua. Thế kỷ 20 bắt đầu trong nô lệ và chấm dứt dưới ách độc tài, nó đã là thế kỷ của nhục nhằn, đổ vỡ, máu và nước mắt. Thế kỷ 21 phải khác, nếu không Việt Nam sẽ không còn. Mà Việt Nam vẫn phải còn, bởi vì không thể chỉ có những giải pháp cá nhân cho một khối tám mươi triệu người cùng một ngôn ngữ, cùng một quá khứ và cùng một thảm kịch.


Mở đầu thiên niên kỷ thứ hai, các vua nhà Lý đã chấm dứt một chính quyền hung bạo, mở ra kỷ nguyên tự chủ lâu dài. Bước vào thiên niên kỷ thứ ba, chúng ta cũng phải chấm dứt vĩnh viễn chế độ độc tài và mở ra kỷ nguyên của một nước Việt Nam dân chủ đa nguyên. Ðó là điều kiện để Việt Nam có thể tồn tại.


Tin và tìm một giải thoát chung trong tâm lý rã hàng hiện nay là điều rất khó, nhưng không phải là không thể làm được. Hai ngàn năm lịch sử sống chung, giữ nước và dựng nước chung vẫn còn để lại một vốn liếng đáng kể. Tôi tin rằng ở thời điểm này, khoảng một ngàn người có ý thức, đồng thuận, quyết tâm và chấp nhận kết hợp trong một tổ chức đủ để tạo ra một chuyển biến tâm lý, làm nòng cốt cho một phong trào dân chủ rộng lớn, đem lại lòng tin và biến những tức tối và tủi hờn tích lũy thành sức mạnh đổi đời.


(Thông Luận số 126, tháng 5, 1999)

Thêm 427 phiếu trong bầu cử cộng đồng





Một thiện nguyện viên gấp thùng phiếu đã đếm xong. (Hình: Đỗ Dzũng/Người Việt)



WESTMINSTER (NV) –Sau khi công bố con số tổng cộng 10,578 phiếu vào tối Chủ Nhật, tới sáng thứ Hai, ban tổ chức bầu cử cho “Ban Đại Diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California” cho biết có 427 phiếu đã đếm nhưng quên chưa cộng.



Theo lời ông Phan Tấn Ngưu, trưởng ban giám sát cuộc bầu cử, có vài bịch phiếu đã đếm vào tối hôm trước, nhưng khi cộng lại thì thiếu.



Ông Ngưu cho biết có 427 phiếu trong những bịch này.



Vì vậy, số phiếu tổng cộng, theo ông Ngưu, là 10,578, cộng thêm 427, là 11,005 phiếu.

Tìm thấy hóa chất độc hại trong nước sơn móng tay

 


SAN FRANCISCO (AP) Một số nước sơn móng tay thường thấy tại các tiệm móng tay ở California, được quảng cáo không có hóa chất độc hại, thật ra có chứa nhiều tác nhân có thể đưa đến quái thai, theo giới chức kiểm soát hóa chất của tiểu bang.







Giới chức điều hành hóa chất California chọn may rủi trong hàng chục mẫu sản phẩm ngành móng tay, nhận thấy có sự hiện diện của bộ ba hóa chất độc hại (toxin trio) nhưng trên nhãn không thấy ghi rõ. (Hình: AP/Marcio Jose Sanchez)


Báo cáo của cơ quan Department of Toxic Substances Control (DTSC) công bố hôm Thứ Ba nói rằng, các sản phẩm ngành móng tay được ghi nhãn sai này có thể gây nguy hại cho hằng ngàn phụ nữ làm việc tại hơn 48,000 tiệm móng tay ở California, kể cả khách hàng của họ.


Việc sử dụng ba loại hóa chất (toxin trio) trong các sản phẩm ngành móng tay không có gì bất hợp pháp nếu các chai lọ đó được ghi nhãn đúng cách. Nhưng việc khai gian thành phần hóa chất trên nhãn là vi phạm luật lệ tiểu bang, vốn đòi hỏi nhà sản xuất phải tiết lộ mọi hóa chất độc hại trong sản phẩm dành cho người tiêu dùng. Liệu các công ty chế tạo sản phẩm đó có bị đối diện với vấn đề pháp lý, như phạt vạ và có lệnh dán thêm nhãn cảnh báo nơi sản phẩm hay không, sẽ được văn phòng Bộ Tư Pháp tiểu bang quyết định.


Các nhà điều tra chọn may rủi 25 nhãn hiệu, gồm một số tự nhận là hoàn toàn không có bộ ba hóa chất độc hại (toxin trio) như toluene, dibutyl phthalate (DBP) và formaldehyde. Các giới chức này cho hay nếu tiếp xúc với số lượng lớn các hóa chất này có thể dẫn đến bệnh suyễn hoặc các bệnh khác.


Họ nhận thấy 10 trong 12 sản phẩm cho là không có chứa chất toluene, thực ra lại có, với bốn trong số đó có nồng độ cao.


Năm trong bảy sản phẩm tự nhận không có bộ ba hóa chất độc hại nhưng hóa ra lại có ít nhất là một loại, với liều lượng quan trọng.


Cơ quan tiểu bang nói, chưa có đủ dữ kiện chính xác ước lượng có bao nhiêu người đã tiếp xúc với các hóa chất này qua việc sử dụng các sản phẩm đó.


Karl Palmer, quản trị viên cơ quan DTSC về ngăn ngừa ô nhiễm và cũng là người giám sát bản báo cáo, cho biết: “Chúng tôi biết ở các tiệm móng tay có sự tiếp xúc của người thợ lẫn khách hàng với hóa chất, và chúng tôi rất quan ngại cho sức khỏe của mọi người.”


Trong số các sản phẩm móng tay được thử nghiệm mà tiểu bang cho là khi ghi nhãn đúng, gồm sơn lót Sation 99 basecoat, nước sơn móng màu đỏ hồng hiệu Sation 53, các nước sơn Dare to Wear lacqueur, Chelsea 650 Baby’s Breath Nail Lacquer, New York Summer Nail Color, Paris Spicy 298, Sunshine, Cacie Light Free Gel basecoat, Cacie Sun Protection Topcoat, Golden Girl Topcoat, Nail Art Top-N-Seal và High Gloss Topcoat.


Cơ quan DTSC cho biết cả ba hóa chất trên đều gây tình trạng sức khỏe kinh niên mỗi khi hít phải, và rằng trong số 121,000 thợ móng tay được cấp phép hành nghề tại các tiệm, phần nhiều là phụ nữ trẻ gốc Á và hầu hết đang trong tình trạng nhiều rủi ro.


Chất DBP hiện bị cấm sử dụng ở toàn Liên Âu, kể cả hai chất còn lại là toluene và formaldehyde cũng bị giới hạn số lượng tiêu dùng.


Bộ Tư Pháp California cho hay họ sẽ xem xét lại khám phá của DTSC trước khi có quyết định về hành động pháp lý.


Proposition 65 là một luật của tiểu bang, theo đó mọi hóa chất độc hại trong một sản phẩm phải được nhà sản xuất ghi rõ trên nhãn. (TP)

Vàng Ðen (Kỳ 68)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 68


 


Không hiểu tiếng Anh, nhưng già Trí thấy cuộc tra hỏi có vẻ gay gắt, lưỡi dao lại bất chợt vung lên, hớt gọn ba ngón tay của tên Mỹ trắng. Khốn nạn cho ba ngón tay, chủ nó chỉ đưa hai tay lên như để phân trần, chứ đâu bảo già Trí hạ thủ như vậy. tên Mỹ trắng rú lên, ngồi thụp xuống ôm chặt bàn tay mất ngón bằng bàn tay còn lại. Ba ngón tay dưới đất, có ngón vẫn còn từ từ co lại.


Lưỡi dao lại hoa hoa trước mặt một tên Jamaica. Tên này có vẻ khiếp đảm rõ ràng, chưa cần đánh đã khai.


-Chúng tôi từ Mỹ sang, từ New York. Chúng tôi chỉ được trả tiền để làm những gì người ta nói, chúng tôi thật sự không biết gì hết. Tên Ron này là xếp của chúng tôi.


-Tụi mày làm gì ở bên Mỹ?


-Trước kia, buôn bán ma túy, súng đạn. Sau này vào băng của người Jamaica, quần quần ở miền Ðông Hoa Kỳ, quanh vụ ma túy.


-Sao mày qua đây?


-Bị bắt, chung thân khổ sai. Có người vào trong tù tuyển mộ, nên tôi tình nguyện đi liền.


-Tụi mày theo tao từ Vạn Tượng lên đến đây?


-Tôi thì không, chắc có đứa khác.


-Thằng con bò kia, có phải mày làm con nhỏ ở Vạn Tượng không?


Tên Mỹ trắng đau đớn lắc đầu.


-Tôi nằm chờ với mấy thằng này ở Chiang Mai.


-Nhiệm vụ mày làm gì?


-Tôi lo bảo vệ, chuyển vũ khí vào đất liền.


-Từ đâu đến?


-Tôi không biết, chỉ biết nhận từ ngoài khơi rồi đem về Chiang Mai.


-Số vũ khí ấy đâu?


-Bàn giao cho người khác liền.


Nhìn tròng đen trong mắt hắn, đúng hơn tròng xanh lơ, đôi khi đảo nhanh, Phong biết hắn không nói thật. Nhưng sợ già Trí phang bậy hắn, nên Phong phải lờ đi.


-Băng bó cho nó, rồi cho nó ăn uống. Dẫn tụi nó đi. Tiện thể, mời trung úy Sơn đến đây cho tôi.


Phong Sương rón rén đến gần Phong hỏi:


-Anh có đau lắm không anh?


-Ðời em chắc chưa bao giờ gặp một ngày ghê gớm như ngày hôm nay nhỉ?


-Em không sao, anh có đau không?


-Anh thấy tội cho em, anh không thấy đau.


-Em chuẩn bị xong cơm nước rồi, mời anh xơi cơm.


Ngạc nhiên nhìn Phong Sương, không hiểu tại sao cô nàng lại đổi tánh thùy mị như vậy.


-Còn chú em?


Phong Sương quay qua già Trí nhấm nhẳn hỏi:


-Chú có muốn ăn không?


-Ha, ha, đã bảo mà, nó phải hơi thằng củ lẳng của cậu em nên nó đội cả cậu em lên đầu.


-Anh ấy là thần tượng của cháu, chú không được nói bậy.


-Này, chồng mày làm gì mà mày gọi là thần tượng?


-Chú không thấy anh ấy hiên ngang đánh trận giỏi, giỏi là.


-Hố, hố, thế còn chú của mày?


-Chú là ông già, giống như bố của cháu. Thôi không nói nữa. Già thối thây.


Mê thấy rõ. Cô nàng không những mê Phong, còn mệt Phong nữa. Sơn vừa đến, cũng xề vào chung bữa ăn.


-Mình đụng tụi buôn súng từ Mỹ sang y như già Trí đã nói. Tôi nghĩ, từ đây cho đến Hồ Mông mình sẽ không còn bị trở ngại. Lừa, ngựa chết hơn hai chục con. Tôi định số ngựa khỏe mạnh sẽ cho thồ bớt hàng và đi nội đêm nay để đến điểm hẹn trước. Bỏ hàng xuống, quay về làm ngay chuyến nữa. Số còn lại, sẽ thêm mỗi con một chút, tôi chắc tụi nó thồ được, quý vị nghĩ sao?


-Các cậu nói sao tớ làm vậy, thằng già này tâm phục, khẩu phục rồi, chẳng cần bàn. À này, lúc nẫy tôi nghe cậu nói trong máy truyền tin, “xong băng đầu,” xong băng đầu có nghĩa gì vậy?


-Ông thấy tụi nó xài toàn AK không? Ông lại nói với tôi, có thể tụi buôn súng đến từ Mỹ, nên tôi quyết định tấn công liền.


-Ăn nhập gì đến chữ xong băng đầu.


-Vì nó là Mỹ nên nó bị ảnh hưởng nhiều ở phim ảnh, nó đánh nhau theo kiểu Mỹ, rải gạo, đi tiền ào ào. Tụi nó xài AK, giỏi lắm nạp được ba chục viên đạn trong băng cong, tụi nó khai hỏa dồn dập một lượt như vậy, nó cũng sẽ phải thay băng đạn hầu như cùng lúc. Lúc đó không đánh thì uổng.


-Khá lắm, khá lắm, hơn thằng già này. Nó kích tớ như thế, tớ đái trong quần. Gan lắm.


Ðái trong quần của già Trí làm Sơn phì cười. Ðưa tay bụm miệng, nói:


-Trình trung úy, tôi sợ tụi nó còn người, không chừng phục kích thêm lần nữa.


-Anh Sơn nói có lý, như vậy tại sao chuyến này anh không cùng già Trí đem nửa quân số với hàng đến điểm hẹn trước, xuống xong hàng anh để lại hai tiểu đội cho già Trí, rồi anh đem ngựa về ngược lại đây ngay.


-Tôi chỉ lo cho trung úy một mình…


Phong Sương nghe đến đây vội vã hớt lời:


-Anh Sơn đừng lo, còn có tôi đây.


-Không chị à, tôi muốn nói lỡ đụng chuyện, trung úy đang bị thương.

Vàng Ðen (Kỳ 69)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 69


 


Phong Sương bẽn lẽn ngồi im.


-Cứ như vậy đi, ăn xong hai vị cho lính nghỉ ngơi đến khoảng gần nửa đêm sẽ khởi hành. Tôi sẽ lo phần ngựa và chia bớt hàng.


-Còn xác bốn thằng nhỏ của mình?


-Tôi sẽ cho hỏa táng vào sáng mai. Hai đứa nhỏ bị thương nặng, tôi sẽ cho làm cáng để lừa kéo…


-Ba đứa, trung úy. Một thằng bị ngựa đạp bể ống quyển nữa.


-Rồi thì ba. Ðù mẹ, chưa có trận đánh nào tục tĩu như trận này. Lính lại bị thương lủ khủ vì bị lừa, ngựa đạp phải.


-Trung úy tính sao về xác lừa, ngựa, cùng xác tụi nó?


-Tính mẹ gì, các cậu vớ vẩn. Ðịt mẹ, sống chừng ấy tuổi đầu mà vẫn chưa ngộ. Có cái mẹ gì mà tồn tại mãi đâu. Ðến từ cát bụi, thì lại trở về với cát bụi. Phú quý sinh lễ nghĩa. Cứ để mặc mẹ nó đấy, vài ngày rồi nó cũng tan biến.


-Nghĩa tử, nghĩa tận chú à.


-Vậy mày ra chôn hơn bốn chục cái xác người, hơn hai chục xác lừa, ngựa ấy cho tao xem. Ðéo mẹ, nói sùi bọt mép mà cũng đéo ngộ được chút nào.


-Ơ kìa, cháu chỉ nói vậy thôi, sao chú lại văng lung tung với cháu thế?


-Tao có văng với mày đâu, tao văng lên trời mà, tao văng cho đứa nào đầu còn đầy những… những… cám.


Chừng như định nói chữ cứt, song già Trí cũng cảm thấy có vẻ bất nhã, quá đáng nên bẻ trẹo qua chữ cám, rồi đánh trống lảng.


-Tối nay mày nấu ăn tệ quá, gái à. Nuốt không vào.


-Cháu có nấu đâu. Thằng cận vệ đấy. Cháu cho nó xuống chức làm bếp.


-Thảo nào, anh không nuốt nổi.


-Xin lỗi cưng, em nấu lại cơm cho cưng.


-Em lại nhặt được ở đâu cái chữ cưng vậy?


-Trong tiểu thuyết của miền Nam.


-Chân em đã đỡ chưa? À, lúc chiều anh nói em ở lại trên hốc đá, làm sao em có thể chạy theo anh như vậy?


-Chân em còn đau. Thằng còn lại, em cũng xuống chức luôn, em bắt nó cõng em.


Ba người đàn ông phì cười. Cái cười để trệu trạo nuốt cho no bụng cơm với những hạt sống, hạt nát. Bữa cơm cũng xong, người nào lo phận sự người nấy. Sơn vẫn lo ngại hỏi:


-Trung úy có thật sự chịu nổi không, thằng y tá nói tôi là trung úy mất máu nhiều lắm.


-Yên chí, ba cái lẻ tẻ ngoài da ấy ăn thua gì.


Công việc tiến triển trôi chảy như dự định. Gần nửa đêm đoàn người, ngựa lại ngậm tăm lên đường. Phong chỉ có thể tiễn đưa qua máy truyền tin. Cơn sốt đốn Phong ngã. Vết thương lẻ tẻ ngoài da đang ăn thua đủ với Phong. Nó hành Phong, cộng với cả một ngày mệt nhọc, Phong ngủ li bì. Phong Sương lo lắng đắp những khăn nhúng nước lạnh lên trán Phong. Bên ngoài chòi lá dựng sơ sài, Rật cũng lo lắng đảo qua những chốt đóng vòng ngoài để kiểm soát. Ði cùng, có một thiếu úy trẻ do Sơn để lại.


Sáng ngày hôm sau, tất cả đều vô sự. Rật ngủ vùi trên chiếc võng căng ngang gốc cây. Phong Sương úp mặt ngủ quên trên ngực Phong.


Ðánh thức đến hai lần bởi người y tá của đơn vị, Phong Sương mới choàng tỉnh. Vén vội mái tóc, cô nàng lay Phong dậy.


-Trình trung úy, tôi phải rửa vết thương.


-Ờ, ờ, rửa đi.


-Trung úy ráng chịu đau một chút.


-Không sao.


Chuyến này vết thương ngoài da không ăn thua đủ với Phong nữa, nó hành hình Phong. Chiếc kềm sắt dài, được dùng cho những việc mổ xẻ, cặp chặt một miếng băng dài xuyên thẳng vào vết thương, từ vai trước trổ ra lỗ vết thương ở vai sau. Miếng băng dài đã được người y tá nhúng vào một nón sắt đầy nước sôi.


Trước khi xuyên miếng băng qua vết thương, hắn dùng kéo phá vỡ miệng vết thương của vai trước lẫn vai sau. Cắn răng, xanh mặt, Phong vẫn nhìn thấy nét mặt của hắn đanh ác lạ thường. Môi hắn mím lại, đôi lông mày chau tít, mắt hắn lộ hàn quang. Ðôi tay của hắn thoăn thoắt cầm hai đầu miếng băng ở hai bên vết thương, cứ thế cù cưa. Hắn lại còn nói đểu:


-Trung úy ráng chịu đau một chút, đừng có la, mấy thằng lính bị thương ở dưới kia nó cười.


Phong không thể nào la được nữa, hai hàm răng cắn vào nhau như muốn bể từng cái răng. Mồ hôi chẩy từ từng lỗ chân tóc hòa với mồ hôi của những lỗ chân lông ròng ròng chẩy xuống mặt. Phong Sương đứng bên cạnh luôn tay thấm mồ hôi. Không thể la được, nhưng đôi khi Phong vẫn phải buột miệng hít hà:


-Ái cha, đù má, xíi.i.t, đau quá.


Thằng y tá tàn ác lại còn chọc quê:


-Ấy, ông không bị cái kia mà còn một tiếng kêu cha, ba tiếng kêu chó hén.


Hắn lại còn làm trò đùa khi Phong Sương vô tình không biết hỏi hắn:


-Anh nói gì chó, tôi chẳng hiểu gì cả.


-Chị Hai à, ở bên Việt Nam, mấy ông nội đi chơi bời bị lậu, y tá thông nòng, mấy cha nội đau quá kêu như dzầy nè:


-Ý cha, chặc, chặc, chặc đau quá. Phải hông? Một tiếng kêu cha, ba tiếng kêu chó đó chứ gì nữa.

‘9 chiếc hỏa tiễn’

 


 


Về: ‘Đốt Tiền’


 


Kính gửi ông Dụng,


 


Để tránh được việc đốt tiền của chế độ khốn kiếp CS hiện nay, điều trước nhất người Việt hải ngoại cần phải làm là không nên gửi tiền về VN, như tôi được biết là 9 tỷ Mỹ kim hồi năm ngoái nghĩa là 9 chiếc hỏa tiễn. Tôi kêu gọi mọi người Việt hải ngoại hãy ngưng ngay việc gửi tiền nhất là những Việt kiều yêu nước (tiếp  tay cho chế độ khốn kiếp) phải ngưng ngay lập tức (tên tuồi của họ đã được ghi vào danh sách đen).


Tôi rất mong ý kiến này được phổ biến trên quý báo. Ngoài bài bình luận rất ý nghĩa của ông. Hành động cũng rất cần thiết. Chân thành cảm ơn ông


 


Lâm Nguyên

Nhiều ý kiến về ‘khiên cuỡng’

 


Về ‘Lôi Vũ, Lý Tiểu Long, và khiên cưỡng’


 


***


    


Việt Nam chưa từng có Hàn Lâm Viện về văn học, vì vậy việc định nghĩa một từ nói riêng, một phạm vi ứng dụng của nó nói chung, cũng không được công chúng hóa một cách minh bạch. Do đó nhiều khi có những từ “tự chế”  rồi phổ biến trong dân gian lâu ngày thành ra “vốn từ” cho văn học…, điều này chắc bạn đọc gần xa đều thừa nhận, rồi vì không có Hàn Lâm Viện nên một từ nào đó tuy đã phổ thông nhưng không được mang ra để hiệu chỉnh lại qua một cuộc hội thảo góp ý của các nhà chuyên môn.  


Tôi xin góp ý theo chiều hướng từ bối cảnh nêu trên. Khiên cưỡng lâu nay tôi hiểu là một sự miễn cưỡng lẽ ra không đáng có, hay là sự miễn cưỡng có thể tránh, hoặc sự miễn cưỡng do tự thân, do lý do tự bên trong mình tạo ra mà không do lý do từ bên ngoài tác động, bắt buộc. Do đó từ “khiên cưỡng” mà tác giả Ngọc Lan dùng ở đây là có ý vai diễn Phồn Y do ca sĩ Thanh Lan diễn trong vở kich là không hợp, miễn cưỡng không chính đáng, không đáng có…,vì có thể tránh được quyết định dó bởi còn rất nhiều diễn viên khác có khả năng đảm trách…


Đây chỉ là chút thiển ý cá nhân, có thể trúng mà cũng có thể trật. Xin đọc giả nào có cao kiến hãy góp ý để tăng cường vốn liếng từ vựng cho kho tàng văn chương Việt Nam. Thành thật cám ơn. Chim Gõ Mõ.


 


Chim Gõ Mõ


 


***


 


Thật ra chữ “khiên cưỡng” cũng không đến nỗi quá xa lạ gì, tôi cũng đã từng thấy qua và nó chỉ có nghĩa là “gò bó” hay “gượng ép” tức là có tính bị ràng buộc, o ép, không được tùy ý đầy đủ như mong muốn.


 


Doan Bui


 


***


 


Theo tôi :”kiên cưỡng” là áp đặt,ý tác gỉa mưốn nói là :”chọn lầm người khi giao cho vai này” nên diễn viên đã không diễn tả hết đươc tính cách của vai diễn nói nôm ma là diễn không đạt yêu cầu.


Cô Ngọc Lan dùng chữ này rất đúng chỗ và rất hay.Xin có lời chúc mừng Cô. Ở Mỹ mà sử dụng tiếng Việt như vậy thì là quá đạt rồi.


 


Tran Binh


 


***


Đây cũng là lần đầu tiên tôi nghe chữ khiên cưỡng, nhưng tôi cũng có thể đoán được ý nghĩa của chữ này sau khi đọc hết bài bình luận. Tôi nghĩ mỗi khi gặp một chữ gì mới, chúng ta hãy xem đó như là một cơ hội tốt để trau dồi thêm vốn từ vựng của chúng ta. Còn bạn Minh Hoa cho rằng việc xài từ này trong bài viết của NL đã cuốn đi tình cảm của bạn dành cho NL thì tôi thấy bạn Minh Hoa có tính khắt khe không giống người bình thường. Hơn nữa, chì vì một từ ngữ không liên quan đụng chạm gì tới ai mà có thể ảnh hưởng đến một tình cảm thì tôi nghĩ cái tình cảm đó không có gì đáng để người khác nhận, thôi thì bạn cứ giữ tình cảm của bạn lại đi nhé!


 


Van Nguyen


 


***


 


Độc giả Minh Hoa viết rất đúng, tôi chưa bao giờ biết hay nghe từ “khiên cưỡng”. Ngoài ra những từ như “chất lượng”, “bức xúc”, “đột xuất”…. lại thấy dùng rất nhiều trong những bài viết ở hải ngoại tại sao không dùng từ “PHẨM CHẤT” thay cho “chất lượng, “PHẪN NỘ” cho “bức xúc”,  “THÌNH LÌNH” hay “BẤT NGỜ” hay “ĐỘT NGỘT”  cho “đột xuất” có lẽ dễ nghe hơn.


 


RICHARD LAM


 


 ***


 


Khiên cưỡng đôi khi cũng nghe dùng  mà?? Không biết thì đừng vội vỗ ngực tự hào về “trình độ” tiếng Việt của mình và chê bai tác giả! Khiên cưỡng đôi khi được dùng thay cho miễn cưỡng. Nó là từ gốc Hán Việt. Có lẽ ít dùng, nên một số độc giả cho rằng tác giả bài báo viết sai.


 


Thịnh Nguyễn


 


***


 


Tôi là người Việt lớn tuổi, học hết trung học đệ nhị cấp thời đệ nhất cộng hòa, nghĩa là thông thạo chữ Việt, thế nhưng rất ít khi gặp chữ này (hoặc chưa từng gặp) trong suốt thời gian đi học cũng như đi làm cho tới năm 1975.  Nay thỉnh thoảng có đọc thấy chữ này và nhiều chữ khác rất lạ, thú thật tôi không hiểu nghĩa.  Vậy xin người viết trên sách báo tiếng Việt tại nước Mỹ, nếu được, hãy dùng đúng chữ Việt, còn nếu như cần phải dùng tiếng nước khác mà tự quí vị xem như tiếng Việt, xin làm ơn giải nghĩa dùm. Cảm ơn.


 


Ông Lê


  


 ***


Xin giải thích dùm “khiên cưỡng” là gì? Đây là lần đầu tiên đọc được trong bài viết này và thật tình không hiểu rõ ý tác giả. Có phải tác giả muốn nói Thanh Lan quá già dể đóng vai trẻ như vậy phải không? đó là tui đoán theo ý tác giả vì theo cách so sánh của tác giả bài viết. Nếu không phải thì xin bỏ qua dùm.


 


Phó Thường Dân


 ***


 


Về chữ khiên cưỡng, vì nó có chữ cưỡng nên tui hiểu là nó mang tánh áp đặt, miễn cưỡng mà làm. Miễn cưỡng vậy nên dĩ nhiên là nó khập khiễng, nó là đôi đũa lệch nên… so sao cho vừa, nhưng nếu kẹt quá xài gắp tạm thì cũng đặng! Ðây là tình huống hổng có thì phải dùng, khiên cưỡng mà dùng đỡ thôi. Trong tinh thần khiên cưỡng thì tiếng Việt đã có chữ miễn cưỡng, gượng gạo, gượng ép. Hai chữ cưỡng và gượng ni tui xài từ hồi nhỏ híu tới giờ, đúng và dễ hiểu hơn nhiều nha.


Nguồn: http://dactrung. net/phorum/tm. aspx?m=257191&mpage=8


Trùm Sò


 


***


 


Xin có ý kiến đối với văn hoá kịch nghệ hải ngoại Việt Nam .


Theo tôi nghĩ với hơn 1000 năm bị giặc Tầu đô hộ văn hoá Việt Nam bị mất rất nhiều chổ đứng trong lòng dân tộc và trong tình trạng hiện nay chúng ta đang bị bọn Tầu cộng khống chế, chiếm đóng, manh nha thôn tính một lần nữa mà nhạc sỹ Việt Khang có đoạn rất tan nát cõi lòng: … Việt Nam giờ đây còn hay đã mất! mà “giặc Tầu” lan tràn trên quê hương tôi !!!


Thiết nghĩ như thế cũng đã đủ cho văn hoá và người dân Việt Nam khốn đốn rồi thì những sinh hoạt có tính cách quảng bá, phát huy văn hoá Tầu chúng ta nên suy nghĩ lại.


Thành thật cảm ơn, “Lời thật mích lòng” .. hết cách!


 


Nguyên Nam


 


 ***


@ bạn Minh Hoa,


Theo tôi thì tác giả Ngoc Lan xử dụng từ “khiên cưỡng” là chính xác, tôi hơi ngạc nhiên khi bạn không biết từ này mặc dù bạn nói là đã học, đọc và viết tiềng Việt hơn 30 năm. trong trường hợp này thì “Khiên Cưỡng” có nghĩa như là sự gượng ép / gò ép khi cố gắng lồng ghép hai vế hay hai chủ đề không tương xứng nhau. Bạn có thể tham khảo thêm nghĩa của tiếng Việt trên Website: http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/


 


Phù Du


 ***


 


Trên các phương tiện thông tin đại chúng ở VN thuờng dùng tính từ “Khiên cưỡng”, xét về mặt từ ngữ theo âm Hán-Việt thi hoàn toàn đúng, dùng thuật ngữ này cũng không sao. Nhưng nghe nó có vẻ khó hiểu nhât là với những người không biêt tiếng Hán. Vậy chúng ta hãy tìm những từ đồng nghĩa hay hơn. “Khiên cưỡng” = gượng = gượng gạo = forced. Or, “Khiên cuỡng” = Miển cuỡng = Reluctant.  Any other definition, readers?  Minh Hoa ơi, please don’t “hate” Ngoc Lan.  She’s only doing her job.  Plus, this is a free country and she’s entitled to her opinion, whether you like it or not 😉  Ahh, the freedom of press!


 


Tintin


 


 ***


 


Khiên cưỡng. Tính từ  có tính chất gò ép, thiếu tự nhiên. Trả lời một cách khiên cưỡng, cách lập luận khiên cưỡng.


Đồng nghĩa: gượng ép


 


Vũ Anh Mai


 


***


 


Chúng tôi, Khương Diệp, xin được trả lời câu hỏi của độc giả Minh Hoa ” Khiên Cưỡng là gì?  “.


Theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh thì Khiên có nghĩa là vác, gánh, đi đứng không tự do, bó buộc. Còn Cưỡng có nghĩa gắng sức, không tự nhiên. Vậy theo như từ diển này định nghĩa Khiên Cưỡng là tính từ chỉ một 1 việc làm có tính cách gò bó, không tự nhiên.


Cũng với chữ đó thì Từ Điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam viết rằng: Khiên Cưỡng là có tính chất gò ép, không tự nhiên. Đó là trên từ điển “ giấy”.


Còn trên internet họ giải thích chữ Khiên Cưỡng rất nhiều . Chúng tôi chỉ xin nêu thêm 1 ví dụ điển hình để cho độc giả Minh Hoa rõ thêm thôi. Trong VNDIC. NET, chúng tôi thấy họ chú thích Khiên Cưỡng có nghĩa :gán ép.  Vậy thì chữ Khiên Cưỡng có nghĩa là làm một việc gì đó có tính chất gượng ép.


Thưa độc giả Minh Hoa, chúng tôi cũng rất có cảm tình với Phóng Viên Ngọc Lan vì Cô đã cho chúng ta thấy Cô là một nữ phóng viên giỏi dang, rất siêng năng với công việc. Bên cạnh đó Cô cũng là một người có một tấm lòng đôn hậu với tất cả mọi người mà cô đã có dịp gặp gỡ, tiếp xúc hay làm việc chung.


Nhưng chúng ta không vì thế mà dùng cảm tính đánh giá công việc làm hay cá nhân của Cô. Chúng ta nên góp, ý phê bình thẳng thắng với tính cách xây dựng. Việc gì sai nên nói cho Cô sửa. Việc gì đúng chúng ta nên khen để Cô thành công hơn. Đó là việc làm hữu ích cho chính chúng ta trước nhất.


Nếu chỉ vì những chữ cô viết chúng ta không hiểu hay không muốn hiểu mà ” cuốn đi tất cả những cảm tình của chúng tôi cho phóng viên Ngọc Lan”  thì rất không công bằng với Cô.


Vài hàng thưa chuyện với độc giả Minh Hoa. Chính chúng tôi cũng nhiều lần góp ý với các tờ báo hay đài truyền  thanh, truyền hình của người Việt mình khi họ dùng quá nhiều từ ngữ đặt sệt bọn dép râu nón cối mà chúng ta không cách gì cảm được.


Chúng độc giả Minh Hoa vui.


 


Khương Diệp


 

‘Chơi ngông lấy tiếng’

 


Về ‘Chủ nhân mới chưa chắc chắn dùng thị trấn Buford vào việc gì’


 


Cái nầy gọi là chơi ngông lấy tiếng của đám trẻ trí thức (ngu) sau nầy. Mốt mua xe sang (từ nguồn xe ăn cắp từ US đem về), mua máy bay của bầu Đức, tàu du thuyền tốc đỉnh thời bây giờ là xưa rồi.


Như lời anh Hoàng, một sinh viên ở HN nói, dùng tiền đó để tạo công ăn việc làm cho nhân dân ở VN có phải hơn không? Thế toàn cái đám Quả Đấm Thép kinh tế của phe nhóm NTD, phá hoại và lãng phí hàng ngàn tỷ đồng VN vẫn phè phỡn trên sự đói nghèo của nhân dân thì anh Hoàng nghĩ coi sinh viên trí thức VN nên làm gì? Chán mớ đời.


 


Jungle

‘Sự kiện đặc biệt cho vùng Little Saigon’

Về: 400 nhà sư khất thực trên đại lộ Bolsa mừng Phật Ðản


 


Thật là một sự kiện đặc biệt cho vùng Little Saigon. Phật tử toàn vùng Nam Cali hãy tham gia cúng dường đông đảo dọc theo 2 bên đường nơi những vị sư sẽ đi qua để nói lên tinh thần đoàn kết của Phật giáo. Hy vọng cuộc khất thực sẽ được thành công tốt đẹp và sẽ trở thành 1 truyền thống cho ngày lễ Phật Đản mỗi năm.   


 


Saigonmylove

‘Diễn xuất còn hơn diễn viên chuyên nghiệp’


Về: ‘Chị lại lo các em chuyện chồng con’



Tôi cũng là phụ nữ lớn tuổi giống như bạn, xin góp ý với bạn – nên có người để chia sẻ và chăm sóc nhau lúc cuối đời, và tìm hiểu kỹ người đàn ông có đạo đức không? Tôi cũng gặp người tưởng rằng đạo đức nhưng cuối cùng cũng chỉ là lừa tình, họ viết kịch bản , tự đạo diễn và diễn xuất còn hơn diễn viên chuyên nghiệp….cứ như thật, và cuối cùng, họ im lặng và về Mỹ bặt vô âm tín, dù có hôn thú và cưới hỏi đàng hoàng…


KP

‘Xạo Hết Chỗ Nói =XHCN’

Về:  ‘Chuyến thăm Brazil của ông Nguyễn Phú Trọng đột ngột bị hủy’

Ông Trọng đột ngột huỷ chuyển thăm Brazil hay Bazil huỷ? Theo tin tức chính thức từ TTXVN khi loan tin chuyến  thăm Brazil bị hủy là vì “khó khăn đột xuất của phía Brazil.”  Hay nói cách khác, vì chủ nhà gặp khó khăn đột xuất nên đã huỷ bỏ chuyến thăm chứ đâu phải phía Việt Nam huỷ bỏ? 
Ai cũng biết, huỷ bỏ và bị huỷ bỏ là 2 chuyện khác nhau.  Phân biệt 2 việc nầy là rất quan trọng, nhứt là trong lãnh vực ngoại giao.
Ngoài ra, cũng trong bản tin nầy Người Việt Online còn viết khi thăm Cuba “Ông Trọng khoe rằng “đi lên xã hội chủ nghĩa là khát vọng của nhân dân Việt Nam” là “phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” dù chỉ còn có một nhúm 5 nước cố bám víu lấy một thứ chủ nghĩa đã bị bỏ lại sau lưng. Nhân dân Việt Nam không hề được hỏi ý kiến là có muốn đi theo cái chế độ cộng sản hay không.”
Tôi nghĩ là khỏi cần hỏi, bởi vì khi còn làm Chủ Tịch nước, Ông Nguyễn Minh Triết đã tuyên bố, “bỏ điều 4 Hiến Pháp là tự sát.”  Bỏ điều 4 Hiến Pháp tức là bỏ sự độc quyền cai trị đất nước của đảng cộng sản và chấp nhận đa nguyên đa đảng.  Hơn ai hết, người cộng sản biết rằng, trừ một số (một số chứ không phải toàn thể, bằng chứng là đã có nhiều đảng viên kỳ cựu đã bỏ đảng để phản đối sự độc quyền nầy và kêu gọi đa nguyên đa đảng) đảng viên và gia đình hưởng đặc quyền đặc lợi nhờ ơn đảng ra, toàn thể nhân dân Việt Nam đều chán ghét chế độ nên mới có lời than bi ai trên của vị cựu Chủ Tịch Nước.  Thế mà lúc nào cũng xoèn xoẹt cái miệng, “đi lên XHCN là khát vọng của nhân dân Việt Nam.”  Thật là mặt dày mày dạn đến độ vô liêm sỉ. Chả vậy mà một số người đã mai mỉa, “Xạo Hết Chỗ Nói=XHCN”.


Hoài Việt

Nam California: Hơn 10,000 người tham gia bầu cử cộng đồng


Đỗ Dzũng/Người Việt


 


GARDEN GROVE (NV) – Sau hơn 1 tiếng rưỡi đồng hồ đếm phiếu, ban tổ chức cho biết có 10,578 người tham gia bỏ phiếu trong cuộc bầu cử “Ban Đại Diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California” hôm Chủ Nhật 15 Tháng Tư.



Ông Nguyễn Phục Hưng, thành viên Ban Giám Sát Bầu Cử, mở thùng phiếu. (Hình: Đỗ Dzũng/Người Việt)


 


Các thiện nguyện viên đếm 48 thùng phiếu tại một phòng trong khu thương mại Mall of Fortune, Garden Grove, trước sự chứng kiến của hơn 100 đồng hương và giới truyền thông.


Dù kết quả người đi bầu không đông như lần trước, ban tổ chức cho biết đây là con số đáng khích lệ.


“Con số này rất khiêm nhường, nhưng rất khích lệ,” ông Phan Kỳ Nhơn, trưởng ban tổ chức, tuyên bố. “Chúng tôi nghĩ chỉ chừng 5,000 người đi bầu, nhưng con số này rất khích lệ đối với người tham gia và các thiện nguyện viên.”



Ông Phan Văn Chính, thành viên Ban Giám Sát Bầu Cử, đếm phiếu. (Hình: Đỗ Dzũng/Người Việt)


 


Ông Phan Tấn Ngưu, trưởng ban giám sát cuộc bầu cử, cho biết rất vui khi cuộc bầu cử chấm dứt.


“Chúng ta đã hoàn tất công việc cộng đồng giao phó,” ông Ngưu nói. “Chúng ta đã tránh được những trường hợp không hay xảy ra, nhờ các thiện nguyện viên ‘chạy cả ngày hôm nay’ để công việc hoàn tất tốt đẹp.”


Ông nói thêm: “Dù kết quả không được như hai năm trước, nhưng số người tham dự đáng khích lệ cho cộng đồng. Hy vọng liên danh nào thắng cũng sẽ phải làm việc tích cực hơn để lần tới chúng ta có nhiều người tham gia hơn.”


Công cuộc kiểm phiếu sẽ tiếp tục bắt đầu từ Thứ Hai để biết liên danh nào thắng cử, ông Nhơn cho biết.


Ông nói: “Bắt đầu Thứ Hai tuần tới, mỗi ngày, từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều, các thiện nguyện viên sẽ kiểm phiếu tại văn phòng báo Diễn Đàn Giáo Dân trên đường Dillow, Westminster. Hy vọng sau bốn ngày chúng ta sẽ biết liên danh nào thắng cuộc.”


 



Cộng số phiếu của 48 thùng phiếu. (Hình: Đỗ Dzũng/Người Việt)


Không khí buổi đếm phiếu tối Chủ Nhật, từ 8 giờ tối đến 9 giờ 40 tối, rất sôi nổi. Nhiều đồng hương hồi hộp nhìn vào phòng đếm phiếu để biết bao nhiêu người đi bầu. Mỗi lần đếm xong một thùng phiếu, ban tổ chức lại thông báo khui thùng kế tiếp.


Mỗi lần có thùng phiếu mở ra, giới truyền thông lại chạy đến chụp hình, quay phim, tạo một không khí rất nhộn nhịp.


Ở một góc khác, thiện nguyện viên cắt thùng phiếu đã đếm xong và xếp lại gọn gàng.


Phía bên ngoài, một số đồng hương khác chờ đợi, bàn tán, và được ban tổ chức cung cấp thức ăn và nước uống.


Lúc tổng kết, mọi người tập trung lại, hồi hộp nghe cộng từng con số của 48 thùng phiếu.


Và ông Nhơn dõng dạc tuyên bố: “10,578 phiếu!”


 



Một thiện nguyện viên gấp thùng phiếu đã đếm xong. (Hình: Đỗ Dzũng/Người Việt)


 


Sau khi kết thúc đếm phiếu, ban tổ chức mời cả hai liên danh ứng cử và thiện nguyện viên chụp hình lưu niệm.


Trong cuộc bầu cử lần trước, tổ chức năm 2010, hơn 18,000 đồng hương tham gia bỏ phiếu, một con số kỷ lục trong lịch sử cộng đồng Việt Nam.


Cuộc bầu cử ban đại diện lần này, với nhiệm kỳ 3 năm, ngoài hai liên danh tranh cử, mỗi liên danh năm người, còn có sáu cá nhân khác tranh cử năm chỗ trong hội đồng giám sát.


Liên Danh Thẳng Tiến do ông Nguyễn Tấn Lạc thụ ủy. Liên Danh Vì Dân do Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa thụ ủy.


Cả hai ông đều là thành viên ban đại diện hiện nay, trong đó ông Nghĩa là chủ tịch và ông Lạc là thủ quỹ.


 


—-


Liên lạc tác giả: [email protected].


 


 

God bless Ninh Thuận!

Về  “Ðiện hạt nhân ở Ninh Thuận: Nỗi lo rình rập’



Ninh Thuận một Tỉnh thật nhỏ cuộc sống của người dân ở đây rất mộc mạc và hiền lành bao gồm rất nhiều người sắc tộc Chàm.
Dzậy mà mấy Cha cho xây tới 2 nhà máy điện Nguyên Tử? mấy Cha chi đi tham quan (cởi ngựa xem hoa) thì làm sao biết hết cái” không may xãy ra từ nhà máy” Rồi đây dân Phan Rang ăn cá dưới Biển cũng phải sợ! Cầu mong cho mấy Cha đổi ý chắc khó chỉ còn mong có thay đổi chính quyền mới vì hổng có ăn chia….mong lắm thay. God bless Ninh Thuận!


 Thay Tu

Hoạt động tưởng niệm Tháng Tư Ðen trong cộng đồng Việt Nam


LITTLE SAIGON (NV) –
Ðể đánh dấu 37 năm tị nạn và tưởng niệm Ngày 30 Tháng Tư hàng năm, Ủy Ban Tưởng Niệm Tháng Tư Ðen gồm các tổ chức cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể đấu tranh và đoàn thể trẻ Việt tại Nam California sẽ thực hiện một chuỗi sinh hoạt với chủ đề “Hải Ngoại Ðoàn Kết-Quốc Nội Vùng Lên,” để ghi nhớ Ngày Quốc Hận và kêu gọi tinh thần đoàn kết của toàn dân trong công cuộc đấu tranh cho một nước Việt Nam tự do và dân chủ, thông báo của ủy ban này cho biết.

Nghi thức chào cờ tại một lễ tưởng niệm Tháng Tư Ðen ở Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, Westminster. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)

Chuỗi sinh hoạt tưởng niệm Quốc Hận 30 Tháng Tư bao gồm:

1. Khánh thành mô hình Bức Tường Ðen: 12 PM, Thứ Bảy, 21 Tháng Tư, trước thương xá Phước Lộc Thọ. Trình bày tội ác của Cộng Sản đối với đất nước và dân tộc suốt 37 năm qua.

2. Lễ xuất phát treo quốc kỳ Mỹ-Việt: 12 PM, trên các phố chính trong Little Saigon. Lễ xuất phát trước khu thương xá Phước Lộc Thọ (Cờ sẽ treo trong hai tuần, từ 21 Tháng Tư đến 6 Tháng Năm)

Ðơn vị thực hiện: Ban Tổ Chức Tưởng Niệm Tháng Tư Ðen. Liên lạc: Ông Trần Vệ (Trung Tâm Tây Nam), điện thoại (310) 800-5202.

3. Cuộc họp mặt “The Lucky Few:” 3 PM – 6 PM, Thứ Bảy, 21 Tháng Tư, tại Nhà Thờ Kiếng, 12141 Lewis Street, Garden Grove, CA 92840.

Ðơn vị thực hiện: Hiệp Hội Á Châu Thái Bình Dương Nam California.

4. Lễ treo cờ tại thành phố Rosemead: 5 PM – 7 PM, Thứ Sáu, 27 Tháng Tư.

Ðơn vị thực hiện: Cộng Ðồng Người Việt Los Angeles.

5. Ðại lễ Tưởng Niệm Quốc Hận 30 Tháng Tư: 6 PM – 9 PM, Thứ Bảy, 28 Tháng Tư, tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, Westminster.

Ðơn vị thực hiện: Ủy Ban Tổ Chức Quốc Hận 30 Tháng Tư.

6. Lễ Kỷ Niệm 9 Năm Thành Lập Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ: 11 AM – 2 PM, Chủ Nhật, 29 Tháng Tư, tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, Westminster.

Ðơn vị thực hiện: Ủy Ban Xây Dựng Tượng Ðài.

7. Lễ Tưởng Niệm Thuyền Nhân năm thứ ba: 1 PM – 4 PM, Chủ Nhật, 29 Tháng Tư, tại Tượng Ðài Thuyền Nhân (bên trong Westminster Memorial Park).

8. Lễ Thắp Hương Tưởng Niệm 30 Tháng Tư: 12 PM, Thứ Hai, 30 Tháng Tư, tại sân cỏ trước thương xá Phước Lộc Thọ. Chào quốc kỳ và thắp hương tưởng niệm các chiến sĩ và đồng bào hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam Việt Nam.

Ðơn vị thực hiện: Ban Tổ Chức Quốc Hận 30 Tháng Tư và đài Little Saigon Radio.

Năm nay, các tổ chức cộng đồng và hội đoàn đề cử cô Nguyễn Thu Hà, thuộc Ðoàn Thanh Thiếu Niên Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Nam California (Vietnamese Young Marines), làm trưởng ban tổ chức.

Các phó ban là ông Nguyễn Quang Huy (Ủy Ban Xây Dựng Tượng Ðài Việt Mỹ), Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa (chủ tịch Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia Nam California), ông Phan Tấn Ngưu (chủ tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ), và cô Trần Phương Châu (phó chủ tịch ngoại vụ Tổng Hội Sinh Viên Nam California).

Ủy Ban Tưởng Niệm 30 Tháng Tư bao gồm các tổ chức, hội đoàn như Cộng Ðồng NVQG Nam California, Cộng Ðồng Los Angeles, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ, Trung Tâm Tây Nam Tập Thể Chiến Sĩ VNCH, UBXD Tường Ðài Việt Mỹ, Tổng Hội Sinh Viên Nam California, Liên Hội Học Sinh Việt Nam, Việt Nam Quốc Dân Ðảng Thống Nhất, Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Ðảng Nam California, Ðại Việt Cách Mạng Ðảng, Hội Ðồng Việt Nam Tự Do, Dân Xã Ðảng, Hội Cao Niên Việt Mỹ, Tiếng Nói Giáo Dân, Ðoàn Thanh Niên Phan Bội Châu, Vietnamese Young Marines, Ðoàn Thanh Niên Việt Mỹ, Ðại Ðạo Thanh Niên Hội, Văn Phòng Giới Trẻ Công Giáo Giáo Phận Orange, Ðoàn Thanh Niên Gia Ðình Phật Tử, Gia Ðình Phật Tử Miền Quảng Ðức, Ban Tù Ca Xuân Ðiềm, Gia đình XDNT, Hội Ðền Hùng Hải Ngoại, Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo, Ủy Ban Ðặc Nhiệm chống Tuyên Vận Cộng Sản, Ủy Ban Chống Cộng Sản và Tay Sai và một số hội đoàn khác. (Ð.D.)

Bầu cử Ban Ðại Diện Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia Nam California

Nguyên Huy/Người Việt

 

WESTMINSTER (NV) –Sáng Chủ Nhật, trước thương xá Phước Lộc Thọ, Westminster, Ban Tổ Chức bầu cử “Ban Ðại Diện Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia Nam California,” nhiệm kỳ 2012-2015, cùng hai liên danh tranh cử và các ứng cử viên hội đồng giám sát tham dự lễ chào cờ khai mạc phòng phiếu tại đây.

Ðồng hương tham gia bỏ phiếu vào lúc thùng phiếu mở cửa trước thương xá Phước Lộc Thọ. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Ông Phan Kỳ Nhơn, trưởng ban tổ chức, một lần nữa kêu gọi đồng hương hãy tham gia thật đông cuộc bầu cử này để thắt chặt thêm tình đoàn kết ngõ hầu yểm trợ được vững mạnh hơn cho các cuộc tranh đấu đang diễn ra ở trong nước.

Có mặt trong buổi khai mạc thùng phiếu là Hội Ðồng Liên Tôn, hai liên danh Thẳng Tiến và Vì Dân, và một số ứng cử viên khác cùng một số thân hào nhân sĩ trong cộng đồng như cựu Thượng Nghị Sĩ Lê Châu Lộc, Ðại Tá Cổ Tấn Tinh Châu, Luật Sư Nguyễn Quốc Lân.

Hiền Tài Phạm Văn Khảm, thay mặt Hội Ðồng Liên Tôn, trong dịp này phát biểu: “Mỗi một lá phiếu của chúng ta hôm nay đã nói lên tinh thần yêu quê hương, đất nước của mình. Mỗi một lá phiếu của chúng ta hôm nay cũng là một thông điệp của người Việt hải ngoại, nói lên tinh thần của chúng ta cương quyết hỗ trợ cho đồng bào đấu tranh ở trong nước.”

Nói về cuộc kiểm phiếu, ông Phan Kỳ Nhơn cho biết: “Chúng tôi sẽ làm việc suốt đêm nay để kịp có kết quả sớm nhất. Cuộc kiểm phiếu sẽ bắt đầu từ lúc 8 giờ tối nay khi các thùng phiếu từ 26 phòng phiếu được mang về đầy đủ và hợp pháp.”

Lễ chào cờ khai mạc phòng phiếu trước thương xá Phước Lộc Thọ. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Ban Tổ Chức nói ban kiểm phiếu là những thiện nguyện viên trong cộng đồng. Phần lớn họ đều xung phong vào các phần vụ kiểm và lưu trữ phiếu, các dữ kiện đếm phiếu vào trong hệ thống điện toán để dễ dàng kiểm soát hay kê cứu khi có khiếu nại.

Cho đến 12 giờ trưa, các phòng phiếu có đông đảo đồng hương đến bỏ phiếu và chưa có một sự việc đáng tiếc nào xẩy ra.

 

––-

Liên lạc tác giả: [email protected]

Tin mới cập nhật