Bà Aung San Suu Kyi gặp Tổng thống Thein Sein


NAYPYIDAW (AFP) –
Lãnh tụ đối lập tại Myanmar, bà Aung San Suu Kyi, hôm Thứ Tư gặp Tổng Thống Thein Sein lần đầu kể từ khi chiến thắng trong cuộc bầu cử Quốc Hội hồi đầu tháng này.










Bà Aung San Suu Kyi mỉm cười trong lúc nói chuyện với các nhà báo tại phi trường Yangon. (Hình: AP Photo/Khin Maung Win)


“Tôi cảm thấy hài lòng,” nhà tranh đấu từng đoạt giải Nobel Hòa Bình này cho báo chí hay khi được hỏi về cuộc họp với vị cựu tướng lãnh, diễn ra ở tư dinh ông ta tại thủ đô Naypyidaw.


Tuy nhiên bà từ chối không cho biết những gì được thảo luận trong cuộc gặp gỡ tay đôi kéo dài một tiếng rưỡi đồng hồ và không tiết lộ gì khác.


Sau cuộc họp, bà Suu Kyi dùng bữa trưa với Tổng Thống Thein Sein và phu nhân.


Ðây là lần họp thứ nhì giữa bà Suu Kyi và vị cựu thủ tướng của Hội Ðồng Quân Nhân sau khi ông lên giữ chức tổng thống năm ngoái, đánh dấu sự chấm dứt gần một nửa thế kỷ quân đội trực tiếp cai trị quốc gia này.


Bà Suu Kyi bác bỏ các tin đồn cho rằng bà có thể trở thành một bộ trưởng trong chính phủ sau khi chiến thắng trong cuộc bầu cử bổ túc Quốc Hội vừa qua.


Tuy nhiên bà cũng không bác bỏ việc có thể nhận vai trò cố vấn, đặc biệt trong lãnh vực tranh chấp với các nhóm võ trang thiểu số đang gây tình trạng bất ổn ở nhiều nơi trong nước kể từ khi quốc gia này được độc lập năm 1948.


Hai người có cuộc thảo luận đầu tiên hồi Tháng Tám năm 2011 khi quốc gia Myanmar khởi sự một loạt các biện pháp cải cách sâu rộng làm ngạc nhiên nhiều người ở trong cũng như ngoài nước.


Bà Suu Kyi từng nói rằng bà tin ông Thein Sein thực tâm muốn có cải cách dân chủ nhưng không biết là phía quân đội sẽ ủng hộ tới đâu. (V.Giang)

Chiến đấu cơ Mỹ hộ tống phi cơ Korean Air đáp xuống Canada

 


VANCOUVER ISLAND (AFP) – Các chiến đấu cơ Mỹ hôm Thứ Ba nhanh chóng cất cánh để hộ tống một chiếc phi cơ của hãng hàng không dân sự Korean Air, chở theo 146 hành khách và phi hành đoàn, về một căn cứ không quân Canada vì đe dọa có bom trên phi cơ, theo giới hữu trách hôm Thứ Tư.










Chiếc máy bay của hãng Korean Air đáp khẩn cấp xuống phi đạo của căn cứ Không Quân Canada tại Comox, British Columbia. (Hình: AP Photo/The Canadian Press, Richard Warrington)


Chuyến bay Korean Air số 72 từ Vancouver đi Seoul đã được lệnh đổi đường bay và hạ cánh xuống căn cứ Comox trên đảo Vancouver Island hôm Thứ Ba sau khi có điện thoại gọi vào cho hay bom được đặt trên phi cơ, theo Korean Air.


Lời đe dọa được gọi vào văn phòng Korean Air ở Mỹ khoảng 25 phút sau khi chiếc phi cơ loại Boeing 777 này cất cánh, chở theo 134 hành khách và phi hành đoàn gồm 12 người.


Chiếc phi cơ hạ cánh an toàn xuống căn cứ Comox, nằm cách Vancouver chừng 110 km về phía Tây Bắc và được kiểm soát an ninh.


Bộ Chỉ Huy Phòng Không Bắc Mỹ (NORAD) của Mỹ cho hay hai chiến đấu cơ loại F-15 nhanh chóng cất cánh từ Portland, tiểu bang Oregon để nghênh cản chiếc phi cơ này vì “có thể có mối đe dọa liên quan đến chiếc phi cơ.” (V.Giang)

Lê Công Kiều, con đường đồ cổ của Sài Gòn

 


Nguyễn Ðạt/Người Việt


 


SÀI GÒN – Nói tới nơi buôn bán đồ cổ nổi tiếng nhất tại Sài Gòn, hầu như ai cũng biết đó là đường Lê Công Kiều, ở quận 1.
Ðường Lê Công Kiều nhỏ và ngắn; đi từ đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (đường Công Lý cũ) rẽ vào, sẽ gặp mũi tàu chia hai ngả đường; ngả bên phải của mũi tàu là đường Lê Công Kiều. Cuối đường Lê Công Kiều ngắn ngủi, gặp đường Phó Ðức Chính chạy cắt ngang.










Ðường Lê Công Kiều ngày nay. (Hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt)


Sinh thời, nhà văn Sơn Nam thường đi dạo trên đường Lê Công Kiều, ngắm nghía “kho tàng đồ cổ.” Ông từng nói với chúng tôi, “cứ thảnh thơi mà thưởng thức vẻ đẹp của đồ vật xưa cũ; đừng xem đây là những đồ cổ đích thực khắc dấu thời gian mà mình phải tìm kiếm, bởi như vậy dễ bị lường gạt lắm.”


Nghĩa là, nếu nói đây là con đường đồ cổ thì, phải nói rõ ràng: có thể gặp đồ cổ thứ thiệt, có thể chỉ là những đồ giả cổ khá tinh vi, những tác phẩm sao chép xuất sắc.


Thường gặp gỡ đi chơi cùng nhà văn ưa khảo cổ lúc sinh thời, chúng tôi được biết đường Lê Công Kiều là con đường xưa cổ nhất của Sài Gòn thời Pháp thuộc. Lúc đầu chỉ là con hẻm, tới năm 1920, con hẻm được mở rộng thành con đường, đặt tên là đường Reims. Năm 1955, chính thể Việt Nam Cộng Hòa đổi tên là đường Lê Công Kiều, tên của Ðốc Binh Kiều thời nhà Nguyễn, một chiến sĩ Cần Vương chống Pháp.


Nếu nhà văn Sơn Nam không từng khảo cứu tìm hiểu và nói cho biết, chúng tôi không thể biết được một thời, đường Lê Công Kiều và khu vực lân cận vốn là nơi cư trú của cộng đồng người Ả Rập tại Sài Gòn.


Người Ả Rập, và nói chung những người Hồi Giáo, đã tới xứ Champa từ đầu thế kỷ XI. Thời gian nối tiếp sau đó, họ an cư lạc nghiệp ở nhiều đô thị ven biển vùng Ðông Nam Á. Tại Sài Gòn, ngôi đền Hồi giáo Masjidil-Rahim đã được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, rất gần đường Reims. Rồi từ những năm 20-30 của thế kỷ trước, một quán ăn Hồi giáo nổi tiếng Sài Gòn của người Ả Rập đã hiện diện tại con đường này; chủ quán như một vị mạnh thường quân, đã tiếp đón, cưu mang những người Hồi giáo mới nhập cư tại Sài Gòn.


Những người Ả Rập ăn nên làm ra, đều mua ngay một căn nhà ở đường Reims, đa số do Hui Bon Hoa tức Chú Hỏa xây dựng.


Ngôi nhà kiến trúc theo “art nouveau” ở đường Phó Ðức Chính (hiện nay là Bảo Tàng Mỹ Thuật thành phố); và bệnh viện Sài Gòn ở đường Lê Lợi, cũng do Chú Hỏa xây dựng.


Những năm trước chúng tôi thường đi dạo trên đường Lê Công Kiều cùng nhà văn Sơn Nam, nhìn ngắm những đồ vật xưa cũ ở Sài Gòn: những đồ đồng như chao đèn, đồng hồ, tượng đồng mỹ thuật của Pháp; đồ gỗ, đồ sành sứ thủy tinh… của Trung Quốc; và những cổ vật của Việt Nam, đặc biệt là cửa hàng bày những loại đá quý trong nước.


Bây giờ lại gặp một cụ già cùng sở thích; cụ luôn giành việc đưa đón đứa cháu đi học ở một trường tiểu học cũng trên đường Lê Công Kiều, để suốt buổi học của đứa cháu, cụ đi ngắm nghía những vật phẩm xưa cũ.


Ở một cửa hàng đồ đồng, tôi nhìn ngắm một bức tượng đồng mỹ thuật đen bóng, hỏi cô bán hàng đây có phải là bức tượng bằng đồng đen. Cô bán hàng nói thẳng thắn: bức tượng được đánh bóng bằng màu đen thế thôi, chứ nhà nước tuyệt đối cấm buôn bán đồ đồng đen.


Ấy tuy nhiên, nếu ai có ý định tìm mua đồ cổ thứ thiệt, phải tỉnh thức cảnh giác về biểu hiện của các chủ nhân “kho tàng đồ cổ.” Nhà văn Sơn Nam, và cụ già mới quen, cho biết một số kinh nghiệm khi đi tìm đồ cổ thứ thiệt ở con đường đồ cổ Lê Công Kiều. Chẳng hạn, những chủ nhân đồ cổ nồng nhiệt chào đón mời mọc khách mua, trước hàng loạt đồ cổ giống nhau như đúc một khuôn; hãy tin rằng, những vật phẩm này cổ xưa không hơn một năm.










Một cửa hàng đồ đồng cổ. (Hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt)


Về các vật phẩm bằng đồng, như tượng đồng thiên thần tình yêu; chân đuốc cổ… được các chủ nhân giới thiệu là vật phẩm cổ thời “art deco” của Pháp. Hãy xem cho thật kỹ, nếu có đường ráp nối, thì đấy đúng là vật phẩm được chế tạo ở đâu đó bên ngoài và rất xa nước Pháp.


Ông cụ ưa khảo cổ không kém nhà văn Sơn Nam nói: “Xem xét đồ đồng xưa cổ, thì phải xem xét từ dưới chân đế. Ðồ giả cổ luôn có những chiếc bù-loong, đinh vít của thời nay. Và tượng đồng xưa cổ đều là sản phẩm thủ công, chứ không sản xuất hàng loạt trong xưởng; những sản phẩm thủ công luôn có những khiếm khuyết riêng biệt của bàn tay những người thợ đã tạo ra chúng.


Các vật phẩm cổ bằng thủy tinh cũng vậy: nếu dấu ấn thời gian giũa mòn dưới chân đế có tỉ lệ kích thước y khuôn nhau, đấy là đồ giả cổ, được sản xuất hàng loạt chứ không phải từng chiếc một như thuở xưa.


Ðến ngắm một gian hàng có bày những đồng tiền kim loại xưa, tôi nhớ câu chuyện một năm nào, đã xảy ra ở “kho tàng đồ cổ” đường Lê Công Kiều. Một vị chủ nhân đồ cổ tại đây đã chôn một số đồng tiền giả cổ thời Minh Mạng; sau đó vị chủ nhân này thuê một đám trẻ đào bới, rồi hô hoán lên trước nhiều người chứng kiến: đào trúng tiền xưa! Tôi cũng không quên ngắm nghía tủ kính ở một gian hàng khác, bày một loạt bật lửa Zippo; những chiếc bật lửa long ốc hở nắp, cũ mèm cùng những dấu hiệu, những chữ khắc trong một thời chiến tranh Việt Nam, được cho là những kỷ vật để lại xứ sở đau thương này, của các anh lính chiến Hoa Kỳ.


Cụ già cũng như chúng tôi, không bị cám dỗ bởi những đồ cổ in dấu thời gian, mà là yêu thích một con đường chất chứa đầy thú vị: những vật phẩm tinh xảo đẹp đẽ, gợi nhớ những thuở trước; những cửa hàng bày biện nghệ thuật; kể cả khúc vỉa hè đầu đường Lê Công Kiều, một “gian hàng lộ thiên” nhưng bày những đồ cổ rõ ràng là đồ cổ thứ thiệt, những vật phẩm xoàng xĩnh không thể bán đắt tiền.










Cửa hàng cổ vật Việt Nam, Trung Quốc. (Hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt)


Ðối diện “gian hàng lộ thiên” này là ngôi nhà rất cổ xưa cũ kỹ, xây dựng từ những năm 20 của thế kỷ trước.


Cụ già vẫn mỗi ngày đưa đón đứa cháu đi học ở trường tiểu học trên đường Lê Công Kiều; nhiều buổi ông cụ đón cháu trễ vì mải mê vẻ đẹp của những vật phẩm trong các cửa hàng đồ xưa. Còn chúng tôi, cũng mong lúc nào đó có dư dả tiền, sẽ mua vài vật phẩm ở đây. Một bức tượng nghệ thuật bằng đồng, theo kiểu Pháp thời “art deco” chẳng hạn; thứ thiệt hay giả thứ thiệt thì cũng đẹp như nhau!

Sách báo và những ngày cuối cùng của Sài Gòn

 


Viên Linh


 


Bài báo này sẽ hiện ra trong tầm mắt bạn đọc lần đầu tiên vào ngày 12 Tháng Tư, 2012. Thời gian này đang đóng lại năm thứ 37 sau khi Sài Gòn thất thủ, chấm dứt cuộc chiến tranh tàn khốc và đẫm máu khởi sự mở ra trong những ngày thế giới chấm dứt cuộc Thế Chiến Thứ Hai, 1945.










Tác giả và nguyên Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu, Virginia, 1991. Tháng 11, 1974, tại Dinh Ðộc Lập, tác giả Viên Linh đã được TT Thiệu trao chứng chỉ và huy hiệu Giải nhất Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc với cuốn truyện Gió Thấp, (chưa xuất bản ở hải ngoại). [Xin đón đọc Hồi Ký “60 năm viết văn làm báo (1953-2013)” của Viên Linh, đang viết]. (Hình: Tác giả cung cấp)


Trên bề mặt cuộc chiến Việt Nam có thể mang những danh nghĩa khác nhau, song ở đáy tầng của các vỏ bên trên, nòng cốt một bên là cộng sản quốc tế ủy nhiệm, bên kia là những người thuộc các đảng phái quốc gia được khối Tây phương hỗ trợ. Kỳ trước, mục này đã viết về “cuốn sử hiện đại” của sử gia chuyên nghiệp Nguyễn Khắc Ngữ nhan đề “Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa,” cuốn sách phát hành năm 1979, được kể là sớm nhất trong cùng loại. Ðể tiếp tục loạt bài về Tháng Tư, kỳ này chúng tôi góp nhặt một số dữ kiện liên hệ, trích dẫn từ những tác giả khác nhau, kèm với nhật ký của người viết.


-“Ngày 10 Tháng Tư 1975, Tổng Thống Ford đã ra trước Lưỡng Viện Quốc Hội […]yêu cầu viện trợ quân sự phụ trội 722 triệu đô la cho Nam Việt Nam như Tướng Wayand đề nghị cộng với 250 triệu đô la dùng vào việc cứu trợ khẩn cấp […]để cho phép di tản 10,000 người Việt Nam mà Hoa Kỳ có trách nhiệm che chở […]xin Quốc Hội quyết định chậm nhất là ngày 19 Tháng Tư.” (Trần Ðức Minh, Một Thời Nhiễu Nhương (1945-1975), trang 1659.)


-“Ngày 17 Tháng Tư 1975, Quốc Hội Hoa Kỳ đã biểu quyết không cấp bất cứ ngân khoản phụ trội nào cho Nam Việt Nam cả.” (Trần Ðức Minh, Một Thời Nhiễu Nhương (1945-1975), trang 1659,1960)


-“Ngày 7 Tháng Tư 1975, xảy ra vụ ném bom Dinh Ðộc Lập” của một “Trung úy phi công 26 tuổi thuộc phi đội F5, Không Ðoàn 3 đóng tại Biên Hòa,” 4 trái được thả nhưng chỉ có 2 trái nổ mà thôi. “Ðúng lúc ấy Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đang ăn sáng vội vàng chạy vào hầm trú ẩn. Sợ rằng có đảo chính [bởi ông phó Nguyễn Cao Kỳ] tiếp theo nên ông hạ lệnh giới nghiêm 24/24.” Phi cơ ném bom hạ cánh tại một phần đất do Việt Cộng kiểm soát, nên y “được VC thăng cấp đại úy cho gia nhập Không Quân Bắc Việt Nam.” (Nguyễn Khắc Ngữ, tr. 202)


-“Ngày 19 Tháng Tư 1975, Ðô Ðốc Noel Gayler, TTL Lực Lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương đã đến Sài Gòn gặp Ðại Sứ Martin cho biết Oa-sinh-tôn muốn số người Mỹ ở Sài Gòn phải giảm xuống mức 1,100 người và những người Việt Nam dự trù di tản bằng tầu ra các tầu Mỹ đang ở ngoài khơi Vũng Tàu. Ðại Sứ Martin không đồng ý […]vì cho “rằng công khai cho người Việt Nam di tản từ Tân cảng sẽ làm cho Sài Gòn bị rối loạn.” (Trần Ðức Minh, Một Thời Nhiễu Nhương, tr. 1683)


-“Ðến tối hôm đó (21 Tháng Tư 1975)… trong khi chính phủ ra lệnh thiết quân luật 24/24, ông [Nguyễn Văn Thiệu] mời các dân biểu nghị sĩ, các thẩm phán Tối Cao Pháp Viện, nhân viên Hội Ðồng Nội Các và các tướng lãnh đến Dinh Ðộc Lập để nghe ông đọc diễn văn từ chức. Bài diễn văn này được trực tiếp truyền hình và truyền thanh để đồng bào cùng nghe. Bài diễn văn dài 90 phút chỉ chấm dứt lúc 22 giờ […]Cuối cùng ông vừa khóc, vừa nói, ‘Hôm nay tôi từ chức, tôi xin đồng bào, quân đội, và các giáo phái hãy tha thứ những lỗi lầm của tôi trong khi tôi cầm quyền.’” (Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 342).


-“Tờ New York Times ngày 24 Tháng Tư 1975 tường thuật rằng một kinh tế gia trẻ từng được đào luyện ở Mỹ đề nghị biếu một người Mỹ 10,000 Mỹ kim để thành hôn với vợ anh ta, lúc ấy có bầu 3 tháng, đặng nàng có thể đạt tiêu chuẩn để được chính thức di tản. Cũng tờ báo này viết tiếp rằng, trước viễn ảnh tắm máu, nhiều người Việt Nam đã mua thuốc ngủ để tự tử nếu chuyện tệ hại xảy ra.” (Vietnam, a complete photographic history, Michael MacLear, page 724)


-“Lực lượng của [Văn Tiếng] Dũng đã vượt qua sông ở vòng bảo vệ ngoài Sài Gòn. Ngày 25 các tòa đại sứ Tây phương lần lượt đóng cửa, Tây Ðức, Hòa Lan, Thái, Nhật, Úc, Anh và Canada, cùng nhân viên nước họ. Người ta mô tả đại sứ Anh mặc đồ săn bắn tự lái chiếc xe Jaguar màu bạc lìa trụ sở. Gia Nã Ðại gửi riêng một chiếc máy bay vượt 13,000 dặm đường dài để chở về nước chiếc xe hơi của ông đại sứ, trong khi bỏ lại hầu hết các nhân viên người Việt của tòa đại sứ. Chỉ riêng có Pháp và Bỉ, vì có quen lớn với Việt Cộng, nên ở lại Sài gòn.


-“25 Tháng Tư: 3,500 đồng Việt Nam ăn một Mỹ kim. 26 Tháng Tư: 4,000 ăn một Mỹ kim, giá vàng: 3 triệu đồng (hay 700 Mỹ kim) một chỉ hay 35.5 gờ ram. Tới ngày 29, gần phi trường Tân Sơn Nhất: 7,000 đồng ăn 1 Mỹ kim. (Tường thuật của Jean Larteguy, trong L’Adieu a Saigon, 6.1976, Firmin-Didiot, France)


-“Thế mà theo Ðại Sứ Hoa Kỳ Martin, ông Kissinger vẫn còn tin vào hy vọng một ánh sáng le lói ở cuối đường hầm, cho nên chưa ra lệnh thực hiện cuộc di tản.” (Michael MacLear, sđd, page 724)


-Ngày 26, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, người kế vị ông Thiệu, làm tổng thống 5 ngày, được Quốc Hội chuẩn nhận, đã nhường chức tổng thống Việt Nam Cộng Hòa cho Ðại Tướng Dương Văn Minh.


-Ngày 28, ông Minh lên làm tổng thống. Ông ra lệnh quân đội buông súng đầu hàng trong vòng 24 tiếng đồng hồ. (Westminster, 10 Tháng Tư 2012)


Liên lạc tác giả: [email protected]

Nhân ngày 30 tháng 4: Một dấu chấm trên chữ “i”


Nguồn: Blog Bùi Tín (VOA)


 


Ngày 30 tháng 4 lại sắp đến. Ba mươi bẩy năm đã trôi qua. Nhanh thật.


Ngày quốc hận, ngày mất nước, ngày gãy súng, ngày bị đồng minh phản bội, đối với không ít đồng bào ta.



 Một người đang xem bức ảnh ‘Sài Gòn thất thủ của nhiếp ảnh gia Hugh Van Es tại một cuộc triển lãm ở Hong Kong năm 2009. (Hình: MIKE CLARKE/AFP/Getty Images)


Ngày đại thắng, ngày giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc, ngày hòa bình trở lại, ngày lịch sử, đối với những người lãnh đạo đảng cộng sản và bộ máy tuyên truyền của họ, cũng như những người còn nhẹ dạ quen nghe theo họ.


Tôi không có cảm giác hay nhận thức nào như trên. Tôi tự thấy trong hoàn cảnh đặc biệt. Xin đừng ai bắt tôi phải theo phía này hay phía kia. Tôi cũng không ba phải. Mỗi người có một hoàn cảnh riêng, một quá trình riêng, một số phận riêng, không ai giống ai.


Cái đẹp nhất của nhân loại là hàng tỷ, tỷ con người, cấu tạo cùng một kiểu “người” nhưng không có lấy 2 người giống hệt như nhau, nghĩ hệt như nhau. Giống hệt nhau thì chán chết!


Cứ đến ngày 30 tháng 4, suốt 37 năm nay, nhiều nhà báo Việt Nam trong và ngoài nước, một số nhà báo Pháp, Anh, Ðức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Phần Lan, Canada… lại hỏi tôi, phỏng vấn tôi về vấn đề này, năm nào tôi cũng trả lời rõ ràng, ngay thật.


Từ đó đến nay, đông đảo đồng bào quan tâm đến thời sự đất nước hiểu tôi rõ hơn, đầy đủ hơn, tôi rất mừng và biết ơn. Tuy vậy năm nay tôi thấy vẫn cần “đặt một dấu chấm trên chữ i.”


Ðó là bởi vì ngày 30 tháng 4, 1975, do đưa đẩy của hoàn cảnh lịch sử, do nghề nghiệp của mình, tôi được làm một chứng nhân tại chỗ của thời điểm kết thúc chiến tranh ở một địa điểm then chốt, Sài Gòn, thủ đô của chế đô Việt Nam Cộng Hòa.


Ðối với tôi, ngày 30 tháng 4, 1975, không hẳn là ngày vui, cũng không hẳn là ngày buồn, mà là một ngày trộn lẫn vui và buồn, cảm nhận ngày càng sâu đậm nhất trong tôi là một niềm cay đắng dai dẳng cho thân phận của dân tộc mình, cho thân phận cá nhân mình.


Không thể không vui khi cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn chấm dứt, không thể không vui khi sự chia cắt độc ác do 2 ông anh nham hiểm một thời của chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa áp đặt hồi 1954 cho đất nước đã được xóa bỏ, mở ra triển vọng hòa hợp dân tộc.


Cay đắng cứ gặm nhấm dần niềm vui chưa trọn, khi nhận ra rằng từ “giải phóng “ sao mà trớ trêu, phải nói thẳng đây là sự “chiếm đóng,” bỏ tù hàng trăm nghìn sĩ quan đồng bào mình, đày ải và hạ nhục trong hàng trăm nhà tù mang danh trại cải tạo, gây nên thảm cảnh “thuyền nhân” kinh hoàng trên biển cả, với hàng vạn người già trẻ lớn bé đồng bào ta chết chìm trong lòng đại dương… Trên đời, trong lịch sử, có bao giờ, ở đâu có cảnh ai oán trầm luân đến vậy?


 


Có bạn blogger trong nước hỏi tôi, vậy thì niềm cay đắng xuất hiện trong tôi từ thời điểm nào? Tôi cố nhớ lại, và nhận ra ngay từ dịp Tết Mậu Thân đầu năm 1968, khi duyệt các bản trình bày báo Quân Ðội Nhân Dân hàng ngày, tôi đã cảm thấy bị “sốc,” khi thủ trưởng Tổng Cục Chính Trị chỉ thị cho tôi là khi đăng tin chiến sự miền Nam, nếu có các trận thắng diệt gọn “1 cứ điểm do 2 tiểu đoàn, 1 chiến đoàn hay chiếm được 1 quận lỵ, hoặc là diệt trên 1 nghìn địch trở lên” thì phải in tít đậm màu đỏ, kèm theo bản đồ hay sơ đồ, có bài bình quân sự đi theo. Tôi từng được biết tuy còn lờ mờ là một số anh họ, em họ, cháu họ tôi ở Huế và Sài Gòn đang là sĩ quan của miền Nam. Tôi phân vân về chỉ thị trên đây, sao lại mừng, lại vui được, khi quân Việt hăng say diệt quân Việt cùng chung máu mủ họ hàng, không hề thù địch nhau, chỉ do hoàn cảnh mà phải ở tình trạng gay gắt trớ trêu. Cái cảm giác cay đắng này cứ lớn lên, lớn lên mãi thành chất men bất đồng, đối lập, đối kháng về sau. Khi lời hứa hòa giải bị quên.


Có bạn trong nước hỏi, gần như trách móc tôi, là sao chậm giác ngộ thế? đến tận năm 1990 mới rời bỏ chế độ và quyền lực. Tôi nghĩ sớm hay chậm chỉ là tương đối. Tôi ôm niềm cay đắng, không thuần phục cường quyền trong 15 năm, rồi điều gì phải đến đã đến, như một cuộc đổ vỡ, ly hôn không thể tránh khỏi, khi tôi có dịp chính thức sang Pháp, theo lời mời đích danh của Ban Chấp Hành Trung Ương đảng CS Pháp, do tôi từng hướng dẫn đoàn đảng CS Pháp đi thăm Ðiện Biên Phủ, vịnh Hạ Long và rừng Cúc Phương 2 năm trước. Tôi nghĩ kỹ, cho rằng đứng ngoài tìm cách nói về có khi hơn là nói từ trong nước, sẽ bị bịt mồm.


Ðiều tôi tự an ủi là dù sao so với những đảng viên bỏ đảng, trả lại thẻ đảng sau này, tôi vẫn còn là người sớm hơn. Anh Nguyễn Hộ, anh Trần Ðộ, anh Hoàng Minh Chính, anh Lê Hồng Hà, anh Bùi Minh Quốc, anh Phạm Ðình Trọng, anh Ðỗ Xuân Thọ… đã trước sau vĩnh biệt đảng. Nay phong trào “nhạt đảng,” “chán đảng,” bỏ sinh hoạt đảng, quay lưng lại với đảng, trả thẻ đảng, nhẹ nhàng, còn tự cho là từ bỏ một gánh nặng, một “của nợ,” đang lan rộng.


Một blogger trong nước phỏng đoán rằng nếu như sắp đến có luật về lập hội, nếu phỏng như xuất hiện một Tập hợp Dân chủ-Xã hội, hay một Mặt trận Công dân Việt Nam, có nhóm lãnh đạo trong sạch, có tâm và có tầm, vượt xa Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng CS thời suy thoái và đổ đốn hiện nay, thì lập tức sẽ có 60 % đảng viên CS hân hoan tự nguyện chuyển sang tổ chức mới. Ðó sẽ là đảng của đa số, đảng của dân tộc, của tuổi trẻ, của thời đại mới.


Cũng cần nói rõ trong 15 năm, tôi đã nhiều lần cố góp ý, đề đạt chính kiến với lãnh đạo, như gửi hẳn một thư kiến nghị cho ông Trường Chinh, nhưng không có hồi âm.


Tôi còn nhớ một đoạn như sau: “Hiện ta có 1.3 triệu quân tại ngũ, trong khi Ấn Ðộ có dân số gấp 6 ta mà quân số chỉ bằng của ta, Indonesia có dân số gấp 3 ta mà quân số chưa đến 1 triệu, cho thấy việc giảm quân là cấp bách ra sao, sau khi ta đã rút quân khỏi Campuchia.”


Lúc ấy là năm 1987, sau khi tôi là nhà báo đi trong đoàn ông Lê Duẩn thăm Ấn Ðộ và sau đó trong đoàn Tướng Văn Tiến Dũng thăm Indonesia. Tôi được nghe chính bà Gandhi trao đổi với ông Lê Duẩn về xung đột biên giới Ấn-Pakistan cùng thực trạng quân đội Ấn, cũng như nghe Tướng Suharto trao đổi rất cởi mở về tình hình quân đội Indonesia. Họ đều cho rằng vấn đề số lượng quân tại ngũ là rất quan trọng, theo một tỷ lệ hợp lý so với số dân và nền kinh tế, nếu không sẽ thành gánh nặng nguy hiểm cho xã hội. Các tỷ lệ trên làm tôi giật mình khi nghĩ đến tỷ lệ quá ư phi lý, nguy hiểm ở nước ta, không ai chú ý, nhưng cứ ám ảnh tôi mãi cho đến nay.


Cũng có bạn trẻ ở Bắc Cali, Hoa Kỳ, hỏi tôi chuyện tôi “huênh hoang đe dọa Tướng Dương Văn Minh và đồng sự rồi đòi họ đầu hàng, được kể trên báo chí hải ngoại, thực tế là ra sao?”


Xin trả lời bạn: Tôi đã đọc nhiều bài, tả lại cứ như thật. Nào là: Bùi Tín phách lác, xông vào phòng, rút súng ngắn bắn lên trần, rồi bắt tất cả giơ 2 tay đầu hàng không điều kiện. Thật ra sau khi Trung Tá Hân, trưởng phòng bảo vệ Quân Ðoàn 4, báo trước: “Một sĩ quan cao cấp sắp gặp các ông,” tôi bước vào phòng, còn ngăn lại một chiến sĩ cầm AK dừng lại ở ngoài cửa. Tướng Dương Văn Minh, ông Vũ Văn Mẫu, ông Nguyễn Văn Hảo, tất cả là 37 người, đứng dậy, Tướng Minh nói: “Chúng tôi chờ quý ông từ sáng đặng chuyển giao chính quyền,” tôi liền đáp ngay: “Chính quyền các ông đã sụp đổ từ sáng nay rồi,” tôi biết ông Minh đã tuyên bố đầu hàng trước đó rồi, không ai giao cho tôi việc tiếp nhận chính quyền, tôi nói thêm: “Các ông không thể chuyển giao cái không còn ở trong tay.” Thấy họ đều buồn, tôi liền nói, như một lời an ủi: “Từ nay chiến tranh đã chấm dứt, hòa bình đã trở lại, toàn dân tộc ta đã thắng, chỉ có người Mỹ là thua.” Tôi thấy ông Mẫu mỉm cười. Sau đó tôi nói chuyện riêng, nhẹ nhàng, có thể gọi là thân mật tự nhiên với ông Minh, ông Mẫu, ông Hảo… Tôi hỏi ông Mẫu về phong trào Phật giáo, về chuyện vui ông từng cắt tóc ngắn, về chuyện giảng dạy ở trường Luật, tôi hỏi ông Minh về sưu tập hoa phong lan, về chuyện chơi tennis của ông. Cả cảnh này được tổ quay phim thời sự của quân Giải Phóng do anh Sanh ghi lại, và sau đó mươi ngày chiếu lại cho các Tướng Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy Ban Quân Quản, và Tướng Văn Tiến Dũng xem. Sau buổi chiếu, anh Trà bắt tay tổ quay phim và tôi, còn nói: Nhà báo nói hay quá! Sau này Tướng Võ Nguyên Giáp cũng kể cho nhà báo Hoa Kỳ Stanley Karnow về chiến dịch cuối cùng, và giới thiệu về tôi: Bùi Tín là nhà báo, cũng là sĩ quan cao cấp có mặt ở Dinh Ðộc Lập ngày 30 tháng 4, 1975.


Có mấy điểm gây hiểu lầm tôi đã nhiều lần cải chính. Xin một lần nữa đặt dấu chấm trên chữ i cho sòng phẳng. Tôi từng kể là tôi đi cùng “đơn vị xe tăng đầu tiên” chứ không phải đi trên “chiếc xe tăng đầu tiên.” Hai điều này khác hẳn nhau. Do có nhà báo Pháp hiểu và ghi sai.


Tôi cũng không bao giờ nói rằng tôi là sĩ quan cao cấp đầu tiên và duy nhất đến Dinh Ðộc Lập. Tôi được biết trước tôi hơn 1 giờ, Thượng Tá Nguyễn Công Trang, phó chính ủy Quân Ðoàn II, đã đến cùng đơn vị tiền trạm. Nhưng không hiểu sao, anh Trang không vào gặp Tướng Minh và đồng sự. Ðến chiều gần tối tôi mới gặp Tướng Nam Long, lúc ấy là phái viên Bộ Tổng Tham Mưu đi theo sát Quân Ðoàn II, anh Nam Long rủ tôi chụp chung một pô kỷ niệm. Tôi kể chuyện gặp Tướng Dương Văn Minh và hỏi anh rằng anh có định gặp họ không. Anh nói trên không giao nhiệm vụ này.


Vậy khi trên báo trong nước và nước ngoài có viết rằng Bùi Tín là sĩ quan cao cấp duy nhất gặp đại diện chính quyền Sài Gòn ngày 30 tháng 4, 1975 ở tại Dinh Ðộc Lập là một sự thật. Ðiều này tôi không bao giờ lấy đó làm một điều gì ghê gớm để khoe khoang. Khoác lác hay phách lác không phải lối sống, phong cách xử sự của tôi. Tôi chỉ là một nhân chứng may mắn. Những sĩ quan khác gặp Tướng Minh, nhận đầu hàng hay chứng kiến sự kiện này là Trung Tá Bùi Văn Tùng, Trung Tá Nguyễn Văn Hân, Ðại Úy Phạm Xuân Thệ… Theo điều lệnh quân đội, họ thuộc bậc trung cấp, ở dưới cấp thượng tá và đại tá một bậc, chứ không phải 1, 2 cấp mà thôi.


Cao cấp so với bậc trung cấp có mức lương khác hẳn, bếp ăn khác (gọi là tiểu táo), giường nằm khác, quân phục và lễ phục chất lượng khác, lớp học, trường học khác, tài liệu đọc khác.


Công bằng mà nói, người được ủy quyền hợp pháp của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng là ông Sáu Hoàng, tên thật là Cao Ðăng Chiếm, chức vụ là thứ trưởng Bộ Công An ở Hà Nội, vào Nam “phụ trách an ninh miền “ thay cho anh Nguyễn Tài, con nhà văn Nguyễn Công Hoan, bị bắt sau Tết Mậu Thân. Anh Sáu Hoàng đi từ Dầu Tiếng xuống, có giấy ủy nhiệm của Chủ Tịch Mặt Trận Nguyễn Hữu Thọ và Thủ tướng Chính phủ lâm thời Huỳnh Tấn Phát.


Tôi gặp anh Sáu Hoàng khi trời đã tối mịt. Trong sân Dinh Ðộc Lập một cảnh độc đáo thú vị diễn ra, các tổ trinh sát, thông tin, xe tăng… lần lượt nổi lửa bằng cành cây, đun nước, nấu cơm, làm mì ăn liền rải rác trên sân cỏ. Anh Sáu Hoàng hỏi chuyện tôi qua loa rồi vội vào gặp Tướng Minh và đồng sự. Không có tổ quay phim theo anh, cũng không có ai chụp ảnh. Cũng chẳng cần. Bản tin tôi làm về sự kiện này gửi tiếp ra Hà Nội không được đăng. Thì ra ý định xóa sổ cái bình phong Mặt Trận và Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam VN đã được quyết định trước rồi. Họ thâm thật! Họ biết từ nay không cần đóng kịch nữa.


Còn một câu hỏi khác: “Có phải nhà báo Bùi Tín dự đoán tình hình Việt Nam sắp biến động như Ðông Âu và Liên Xô, nên đã sớm tách ra khỏi chế độ độc đảng để hy vọng sẽ trở thành một Havel, một Walesa, hay là một Gorbachov?” Không, tôi không bao giờ có cao vọng như thế. Tôi không hề có tham vọng hay ý định là một nhà chính trị, một chính khách.


Từ khi bước vào nghề làm báo (đầu năm 1965) tôi dần dần mê say nghề báo, càng về sau tôi càng xác định sẽ làm báo suốt đời. Tôi quen thân nhiều nhà báo quốc tế Pháp, Ðức, Ý, Nhật, Hoa Kỳ, Nga, Thái Lan… trong đó có nhiều nhà báo nổi tiếng. Tôi từng dự nhiều cuộc họp quốc tế ở Bangkok (Thái Lan), Tokyo (Nhật Bản), New York (Hoa Kỳ), Alger (Algeria), Ethiopia, Zimbabwe, thăm Viện báo chí Manila (Philippines)… nên tôi cho rằng viết báo là nghề có ích, thú vị, tự do nhất. Tôi chỉ muốn là nhà báo tự do, không muốn có chức vụ gì, dù là phó tổng, là tổng biên tập. Gia đình tôi, bạn bè tôi đều biết tôi không có máu công danh, máu làm quan, máu hưởng danh lợi. Tôi chỉ có bè bạn thân ở cấp dưới, tôi rất ít tìm gặp cấp trên. Cái tính tôi xưa nay là vậy. Tôi tin là rồi ở ta sẽ có những Walesa, những Havel, những Gorbachov, rồi những Aung San Suu Kyi, nhưng trong đó không có tôi. Tôi tận lực ủng hộ họ. Thế cũng đủ.


Có một cô nhà báo người Việt muốn hỏi tôi về chuyện “16 tấn vàng.” Tôi xin hẹn sẽ nói rõ vào một bài sau. Vì bài này đã khá dài.


Cách đây vài năm, Bộ Tổng Tham Mưu Hà Nội đã đưa ra một bản văn kiện chính thức kết luận về diễn biến ngày 30 tháng 4, 1975, có anh Bùi Văn Tùng, anh Nguyễn Văn Hân, anh Phạm Xuân Thệ… tham gia. Họ cố tình không nói gì đến tôi một cách ngay thật, cũng cố tình xuyên tạc để vu cáo tôi là dối trá, tranh công. Họ cố tình xuyên tạc và vu cáo vì tôi vắng mặt, vì tiếng nói trung thực của tôi được đông đảo đồng bào chú ý lắng nghe, do đó gây hại cho chế độ đang lâm vào quá trình băng hoại không sao kìm hãm nổi.


Ðó cũng còn vì họ không muốn nhắc đến chuyện hơn 16 tấn vàng do chính quyền Dương Văn Minh giao lại ngày 30 tháng 4, 1975, qua lời ông phó thủ tướng đặc trách kinh tế-tài chính Nguyễn Văn Hảo chính thức báo cho tôi – và không hề báo cho một ai khác. Họ vẫn chơi trò mờ ảo, ngầm gieo rắc hoài nghi, dựa vào bài viết của một nhân viên CIA Frank Snepp, rằng ông Thiệu đã mang cả 16 tấn vàng ròng của Ngân Khố sang Ðài Loan vào tối ngày 24 tháng 4 rồi.


Vì muốn mọi sự được minh bạch, rõ ràng trong lịch sử dân tộc, tôi sẽ hầu chuyện các bạn xa gần trong một bài sau.

Ghi nhận về Ðại Hội Thường Niên 2012 của Amnesty International USA


Ðoàn Thanh Liêm


 


Năm 2012 này là kỷ niệm lần thứ 51 kể từ ngày tổ chức Ân xá Quốc tế được thành lập tại London (1961-2012). Theo thông lệ, hàng năm tổ chức Ân xá Quốc tế Hoa Kỳ (Amnesty International USA được viết tắt là AIUSA) đều tổ chức một Ðại hội Thường niên (Annual General Meeting AGM) luân phiên tại mỗi thành phố khác nhau trên đất Mỹ.










Các thành viên Amnesty International biểu tình trước Tòa Bạch Ốc ở Washington, D.C., ngày 12 tháng 2, 2011 để ủng hộ những cuộc biểu tình đòi tự do, dân chủ tại Ai Cập. (Hình: Saul Loeb/AFP/Getty Images)


Và năm nay, AGM 2012 vừa diễn ra tại thành phố Denver tiểu bang Colorado vào 3 ngày 30, 31 tháng 3 và 1 tháng 4 – với sự tham dự của chừng 700 đại biểu đến từ khắp các địa phương và một số khách mời quốc tế.


Là một thành viên hoạt động từ mấy năm nay của một đơn vị cơ sở địa phương tại vùng thành phố Irvine miền Nam California được gọi là Group 178, tôi đã có dịp tham dự liên tục với ba kỳ đại hội, đó là: AGM 2010 tại New Orleans Louisiana, AGM 2011 tại San Francisco California và AGM 2012 mới đây tại Denver Colorado. Chương trình làm việc của Ðại hội thường được chuẩn bị rất nghiêm túc chu đáo – với nhiều tiết mục được bố trí xen kẽ giữa những phiên họp khoáng đại gồm toàn thể mọi tham dự viên với những cuộc thảo luận chuyên biệt theo từng đề tài nơi những nhóm nhỏ hơn. Các đại biểu phần đông đều tham dự các phiên họp lớn, nhỏ với tinh thần hăng say phấn khởi, dù chương trình nghị sự được dàn trải kín mít với nhiều chi tiết cặn kẽ chính xác đến ngạc nhiên luôn.


Năm nay, khẩu hiệu của AGM 2012 là: “Vùng Lên” (Rise Up) mà nhiều bạn trẻ còn viết bằng mực đen lên trên mặt nữa. Và tổng số thuyết trình viên trong suốt ba ngày của hội nghị đã lên đến con số trên 40 người, trong đó có đến chừng 10 vị khách mời từ nước ngoài.


Ðiều ghi nhận phấn khởi nhất đối với tôi, đó là thành phần tham dự của lớp người trẻ trên dưới 20 tuổi đã chiếm đến gần phân nửa số các đại biểu. Các sinh viên đại học, và cả một số học sinh trung học đều đi theo từng nhóm 5-7 người với nhau, nên họ đã đem lại cho đại hội một bầu không khí hết sức sinh động nô nức – qua những phát biểu hăng say và nhất là những tràng “đứng dậy vỗ tay tán thưởng” (standing ovation) nồng nhiệt – có khi kéo dài cả đến một vài phút, đặc biệt đối với một số diễn giả được đa số mến mộ. Ðược đích thân chứng kiến sự nhiệt tâm nhập cuộc của giới trẻ như thế, quả thật tôi rất vui mừng và lạc quan tin tưởng nơi tương lai tốt đẹp của phong trào tranh đấu nhân quyền hiện nay trên thế giới.


 


I. Tóm lược về Chương trình Nghị sự


 


Hội nghị làm việc trọn ngày, suốt từ 8:00 sáng đến 9:00 tối trong hai ngày Thứ Sáu. 30 và Thứ Bảy. 31 tháng 3, cộng thêm nửa ngày Chủ Nhật. mồng 1 tháng 4 từ 8:00 sáng đến 12:30 mới bế mạc.


1. Ngày Thứ Sáu, 30 tháng 3, thì có những tiết mục đáng chú ý như sau:


* Huấn luyện về lãnh đạo chức năng phối hợp các nhóm địa phương và khu vực.


*Họp mặt các phối hợp viên theo địa hạt quốc gia và theo chủ đề


* Biểu tình trước trụ sở Quốc Hội tiểu bang Colorado nhằm đòi hỏi nhân quyền của người nhập cư (Immigrants’ Rights Rally).


* Nghi lễ khai mạc và trao giải thưởng.


2. Ngày Thứ Bảy, 31 tháng 3, thì có nhiều tiết mục đáng chú ý như:


* Diễn từ của Giám Ðốc Ðiều Hành Suzanne Nossel


* Tường trình của đại sứ Mỹ tại Syria Robert Ford


* Tường trình của ba thành viên đi dã ngoại bị bắt giữ tại Iran: Shane Bauer, Josh Fattal và Sarah Shourd.


* Phiên họp khoáng đại với chủ đề: “Vùng lên: Ðòi nhân quyền, xác định tương lai.”


* Thảo luận về quá trình vận động thông qua “Hiệp ước Buôn bán Võ khí” (Arms Trade Treaty ATT).


* Trình bày của các ứng cử viên vào Hội Ðồng Quản Trị (AIUSA Board).


3. Ngày Chủ Nhật, 1 tháng 4, thì có hai tiết mục đáng chú ý nhất:


* Phiên họp khoáng đại với chủ đề: “Chúng ta đã từng chấm dứt Án Tử Hình tại nước Mỹ – Bằng cách nào chúng ta có thể loại bỏ dứt khoát được Án Tử Hình ?”( We Ended the Death Penalty Once in the US – How Will We End It for Good?)


* Diễn từ bế mạc của Giám Ðốc Ðiều Hành Suzanne Nossel.


 


II. Một số diễn giả nổi bật


 


Trong số trên 40 diễn giả trình bày trong các phiên họp khoáng đại cũng như trong các cuộc thảo luận từng nhóm nhỏ, tôi nhân thấy có mấy nhân vật nổi bật mà được cử tọa hoan nghênh nhiệt liệt, điển hình như sau:


1. Bà Jenni Williams từ nước Zimbabwe ở Phi Châu


Bà Zenni Williams được giải thưởng Ginetta Sagan năm 2012 là một phụ nữ nổi danh vì sự can trường bền bỉ tranh đấu cho Tự do và Nhân phẩm tại Zimbabwe từ nhiều năm qua. Năm 2003, bà đứng ra thành lập tổ chức WOZA (Women of Zimbabwe Arise) nhằm liên kết giới phụ nữ trong công cuộc đòi hỏi quyền chính trị và kinh tế cho đồng bào của mình. Bà đã từng bị bắt giữ đến 40 lần vì những hành vi bất bạo động của tổ chức WOZA này. Một trong các chiến thuật tranh đấu mà gây được sự hưởng ứng của đông đảo quần chúng là những đoàn viên WOZA mang theo cái chổi để tượng trưng cho quyết tâm “quét sạch tham nhũng” tại xứ sở Zimbabwe. Hiện nay phong trào WOZA đã có đến trên 80,000 thành viên hoạt động tích cực. Bài phát biểu của bà Williams sau lúc đón nhận giải thưởng Ginetta Sagan đã được toàn thể cử tọa tại hội trường cùng đứng dậy vỗ tay hoan nghênh rất nồng nhiệt.


2. Ðại Sứ Robert Stephen Ford


Ðại Sứ Ford là viên chức ngoại giao kỳ cựu, ông đã từng giữ chức vụ đại sứ Mỹ ở nhiều quốc gia Phi Châu và Trung Ðông. Ông từng là đoàn viên thiện nguyện trong tổ chức Peace Corps tại Morocco năm 1980-82 và nhận được nhiều giải thưởng do thành tích phục vụ nhiều năm ở Irak. Sự có mặt của Ðại Sứ Ford tại đại hội của Amnesty năm nay là một bằng chứng rằng chính quyền nước Mỹ tán đồng lập trường của Amnesty trong việc bênh đỡ những nạn nhân của sự đàn áp thô bạo của nhà cầm quyền đương nhiệm tại Syria. Bài thuyết trình của ông đã được cử tọa chăm chú theo dõi và hoan nghênh nhiệt liệt với tràng pháo tay kéo dài đến hai phút.


3. Nhà báo Amy Goodman


Amy Goodman là một nhà báo được đánh giá rất cao vì thành tích sáng lập ra Phong trào Vận động Dân chủ có tên là “Democracy Now.” Bà được giới truyền thông báo chí quốc tế xếp vào hàng đầu trong số 20 nhân vật truyền thông có ảnh hưởng nhất trên thế giới vào đầu thế kỷ XXI hiện nay. Bài trình bày của bà Goodman về phương cách vận động quần chúng đòi hỏi chính quyền các tiểu bang ở Mỹ cũng như chính quyền liên bang phải dứt khoát xóa bỏ Án Tử Hình, thì đã được cử tọa trong phiên họp khoáng đại cuối cùng vào trưa ngày Chủ Nhật, mồng 1 tháng 4 chăm chú lắng nghe và vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt.


4. Bà Asmaa Mahfouz, người phát động chiến dịch Mùa Xuân Ai Cập


Asmaa là đồng sáng lập Phong trào Thanh niên mồng 6 tháng 4 của Ai Cập từ năm 2010. Vào đầu năm 2011, với các video YouTube kêu gọi nhân dân Ai Cập vùng lên đòi hỏi Nhân quyền, Asmaa đã góp phần quan trọng trong các cuộc biểu tình rầm rộ và liên tục tại quảng trường Tahrir ở thủ đô Cairo khiến đã đưa đến sự chấm dứt chế độ độc tài Hosni Mubarak. Asmaa đã được Quốc Hội Âu Châu cấp phát giải thưởng Sakharov về Tự do Tư tưởng năm 2011 và được giới kinh doanh Ả Rập xếp vào danh sách 500 nhân vật gốc Ả Rập mà có ảnh hưởng nhất trên thế giới. Bài trình bày kinh nghiệm vận động quần chúng của bà Asmaa đã được cử tọa đứng dậy vỗ tay tán dương nồng nhiệt.


 


III. Cả ba thế hệ đều cùng tích cực tham gia tranh đấu cho Nhân quyền


 


Ðây là lần thứ ba tôi tham dự Ðại hội Thường niên AGM của Ân xá Quốc tế Mỹ (AIUSA), nên lần này tôi cũng gặp lại nhiều khuôn mặt quen thuộc từ mấy kỳ đại hội trước. Ðiển hình là Giáo Sư Kristy Hagersheimer từ Ðại Học Doane ở Nebraska, Giáo Sư Susan Waltz Ðại Học Michigan, Giáo Sư Julian C. Traylor là chiến hữu của bà Ginetta Sagan, Giáo Sư Carole Nagengast Ðại Học New Mexico hiện là Chủ tịch Hội đồng Quản trị AIUSA (Chair of Board) v.v… Susan Schmidd đặc trách liên lạc phối hợp của khu vực miền Tây lần này đưa cả bà mẹ từ Arizona đến tham dự AGM nữa, bà mẹ cho tôi biết là hồi trước cả thân mẫu của bà cũng đã từng là thành viên hoạt động của Amnesty nữa: như vậy rõ ràng là cả ba thế hệ trong gia đình này đã cùng tham gia sinh hoạt với Amnesty. Ana Sagan cháu nội của bà Ginetta Sagan, cũng như bà Jane Kristof cùng cháu nội năm nào cũng đứng ra trao giải thưởng Ginetta Sagan và Ladis Kristof tại AGM với lời phát biểu thật nghiêm túc chu đáo.


Về giới trẻ, năm nay tôi gặp được nhiều sinh viên ngoại quốc cũng như sinh viên Mỹ, cụ thể như Sabine Kast từ Nam Phi, Julia Hanne từ Ðức, Eugenia Cavazos từ Mexico. Và Erika Maskal, Janessa Nedney là hai sinh viên Mỹ từ tiểu bang Washington. Theo yêu cầu của các bạn trẻ này, tôi đã chuyển bằng e-mail một số bài viết của tôi và cả bản tường trình về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2011 nữa.


Và dĩ nhiên là tôi đã cố gắng tìm kiếm xem có ai là người Việt tham dự AGM này, mà rút cục tôi chỉ gặp được có một sinh viên Việt Nam duy nhất, đó là cô Phạm Thiên Thái Thanh từ tiểu bang Michigan. Cô Thanh cho tôi biết cô sinh ra và lớn lên tại Mỹ và vừa tốt nghiệp bằng Cao học tại một đại học ở Colorado. Gần đây cô cũng về Việt Nam sống với ông bà một thời gian dài, nhờ vậy cô nói được tiếng Việt tương đối trôi chảy.


Ðặc biệt, tôi có dịp trao đổi nhiều với Luật Sư Leila Ann Chacko vào lứa tuổi 35-36 là người đặc trách về hồ sơ Việt Nam của Nhóm 519 AIUSA tại Orlando Florida. Tôi đã gửi cho Leila bản tường trình về tình hình Nhân quyền tại Việt Nam trong năm 2011 mà Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam vừa mới cho phổ biến vào tháng 3 năm 2012 – với nhiều chi tiết cập nhật cho đến cuối tháng 2 năm nay. Và tôi dự trù sẽ gặp lại Leila và Nhóm 519 khi đến viếng thăm Orlando vào cuối tháng 4 sắp tới, để trao đổi chi tiết hơn về công cuộc tranh đấu Nhân quyền ở Việt Nam.


 


IV. Ðể tóm lược lại, tôi xin ghi lại vài cảm nghĩ vắn tắt sau đây:


 


1. Sau trên nửa thế kỷ hoạt động, Amnesty International đã gây thành một phong trào tranh đấu Nhân quyền mỗi ngày càng thêm mạnh mẽ quyết liệt tại cùng khắp mọi nơi trên thế giới. Riêng tại Mỹ, thì con số thành viên hoạt động của AIUSA đã lên đến con số gần 3 triệu người, được phân bố trong các nhóm địa phương hoặc các nhóm đặc biệt, nhất là trong khuôn viên các đại học. Thành phần trẻ càng ngày càng thêm đông đảo năng động, nên khí thế tranh đấu thật là sôi nổi nhiệt thành. Rõ ràng là khu vực Xã hội Dân sự có chiều hướng đóng vai trò chủ động hơn trong nhiệm vụ làm đối trọng (counterbalance) đối với chính quyền của từng quốc gia, cũng như đối với các định chế và cơ cấu chính trị xã hội quốc tế.


2. Nhờ viễn kiến thông thoáng cởi mở của giới hàn lâm đại học, cũng như lý tưởng nhân bản nhân ái của giới lãnh đạo tôn giáo văn hóa cùng với sự trao đổi và hợp tác quốc tế của Xã hội Dân sự – mà các cơ sở tranh đấu nhân quyền quốc tế như Amnesty, Human Rights Watch v.v… đã phát triển rất rộng rãi trong vòng 30- 40 năm gần đây. Sức mạnh của cuộc tranh đấu bất bạo động này hiện càng ngày càng tạo được áp lực nặng nề chống lại các chế độ độc tài sắt máu, cũng như chống lại những hành động sai trái của các chính quyền nhà nước bất kể tại một quốc gia nào. Ðiển hình như phong trào đòi chính quyền Mỹ phải bãi bỏ Án Tử Hình, phải bảo vệ nhân quyền cho người di dân, cho giới phụ nữ,… thì Amnesty không bao giờ lại chịu khuất phục hay nhân nhượng trước sự đe dọa hay mua chuộc nào do phía nhà nước đưa ra.


3. Trong số các chủ đề được bàn thảo sâu rộng trong 3 ngày của AGM 2012 năm nay, tôi đặc biệt chú ý đến lập trường dứt khoát của đa số các thành viên AIUSA về các vấn đề cụ thể như sau:


* Bãi bỏ Án Tử Hình


* Ðóng cửa nhà tù Guantanamo


* Ðòi Nhân quyền cho phụ nữ và người di dân


* Kiện toàn hiệp ước về việc buôn bán võ khí (Arms Trade Treaty).


* Yểm trợ công cuộc nổi dậy tranh đấu tại Trung Ðông.


* Tận dụng Mạng lưới Xã hội (Social Network) trong cuộc Tranh đấu Nhân quyền và Dân quyền.


v.v…


4. Về mối liên kết của Việt Nam với Phong trào Nhân quyền toàn cầu, thì hiện nay vẫn chưa được bà con người Việt mình chú trọng đúng mức. Ðiển hình là số sinh viên Việt Nam tại Mỹ mà hưởng ứng tham gia các AGM trong thời gian gần đây hãy còn quá ít, mà giới truyền thông báo chí Việt Nam ở hải ngoại cũng chưa thấy để tâm theo dõi sinh hoạt của các tổ chức tranh đấu nhân quyền quốc tế như Amnesty, Human Rights Watch, Reporters Sans Frontières…


Ðể kết luận, người viết xin được gióng lên tiếng chuông báo động này – với niềm mong ước nóng bỏng rằng sẽ có được nhiều thức giả và giới trẻ Việt Nam khởi sự tìm cách hội nhập sâu sát hơn nữa vào với dòng chính của phong trào tranh đấu toàn cầu cho Phẩm Giá và Quyền Con Người trong thế kỷ XXI ngày nay vậy.


Dallas, ngày 7 tháng 4 năm 2012

Tìm hai em Phạm Thị Thảo và Liên Bùi


Anh là Phạm Gia Ninh, hiện ở 615 đường Trần Phú, TP Bảo Lộc (Lâm Ðồng), điện thoại số 0633862207, cần được tin hai em là: Phạm Thị Thảo, sinh năm 1943 trước ở West City (Oklahoma); và Liên Bùi trước ở Milpitas, CA 95035.


 Ai biết tin tức, xin báo giúp. Ða tạ.

Phan Vũ, từ điện ảnh tới thi ca

 


 


Du Tử Lê


(Tiếp theo và hết)


 


Tôi nghĩ, những người yêu mến thơ Phan Vũ, đa số biết rằng, lãnh vực hay sở trường của họ Phan là điện ảnh. Ở vị trí hàng đầu trong lãnh vực nghệ thuật thứ bảy từ những năm cuối thập niên (19)40 (thời phôi thai nền điện ảnh Việt Nam) Phan Vũ là bằng hữu thân thiết của nhiều tên tuổi lẫy lừng thời đó. Như Ðặng Ðình Hưng, Trần Dần, Phùng Quán… lãnh vực văn chương; Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng… lãnh vực hội họa.










Từ trái qua: Du Tử Lê, Phan Vũ. (Hình: tp/Người Việt)


Nhắc tới một số tên tuổi nhà văn đã đi vào văn học sử, qua vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, ý tôi muốn nhấn mạnh, khởi từ giao tình vừa kể, họ Phan đã tham gia phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, diễn ra tại miền Bắc, những năm giữa thập niên (19)50.


Ông kể, nếu Nhân Văn số 6, ra đời, với bài thơ nhan đề “Bình vỡ” của ông đăng tải trong số báo ấy, thì ông không biết những miểng vỡ của chiếc bình kia sẽ ghim vào thân thế ông ở mức độ nào?!


Ðề cập tới hai tên tuổi lớn của hội họa là Bùi Xuân Phái và, Nguyễn Sáng, ý tôi muốn nhắc tới câu trả lời của nhà thơ Phan Vũ, dành cho một nhà báo ở Việt Nam, đại ý: Trước tài năng chói lọi của họ, tác giả “Hà-Nội-Phố” không dám cầm cọ. Mãi tới khi bước vào tuổi 70, ông mới vẽ. Và, dư luận ghi nhận, cũng như với thi ca, hội họa đã mở rộng cánh cửa chào đón ông. Tựa chào đón một họa sĩ thực sự có tài.


Như thắc mắc của một số người, tôi không biết ngôn ngữ điện ảnh ảnh hưởng tới ngôn ngữ thi ca của họ Phan? Hay ngược lại?


Theo tôi, hai bộ môn nghệ thuật, văn học này, ít nhất cũng có chung nhau một mẫu số. Mẫu số hình ảnh. Nhưng tôi vẫn nghĩ, hình ảnh trong điện ảnh là những liên-ảnh. Nói cách khác, ngôn ngữ điện ảnh là ngôn-ngữ-mở. Hiểu theo nghĩa, căn bản hình ảnh này khơi mở, mời gọi hình ảnh khác.


Thí dụ, khung cửa sổ mở vào một khoảng trời u ám, vần vũ mây đen, báo trước cho người xem hiểu rằng, hình ảnh sau đó, nhiều phần sẽ là một trận mưa. Hay nhân vật trong phim sẽ hồi tưởng tới một quá khứ ảm đạm, buồn bã… Chiếc cầu nối giữa hai hình ảnh hay tâm trạng, trong trường hợp này, là khoảng trời u ám, vần vũ mây đen…


Tôi muốn gọi đó là ngôn-ngữ-mở. Trong khi ngôn ngữ của thi ca, vẫn theo tôi, là ngôn-ngữ-khép. Hiểu theo nghĩa kiệm lời. Ít chữ.


Thi ca cho phép người làm thơ “nhẩy cóc” từ hình ảnh, trạng thái này qua hình ảnh, trạng thái khác. Không nhất thiết phải có một chiếc cầu liên kết đôi bờ. Chiếc cầu, nếu cần thiết phải có, sẽ do chính độc giả (tùy trình độ, cảm quan) thiết lập. Ðó cũng là những khoảng trắng, mang tính liên tưởng văn học mà, thi ca để dành cho người đọc.


Tỷ như một trong những câu thơ gây ấn tượng mạnh mẽ cho nhiều người, ở trường khúc “Hà-Nội-Phố” của Phan Vũ là:


“Ta còn em tiếng dương cầm


“Trong căn nhà đổ…”


Nếu hình ảnh, âm thanh này xuất hiện trong một cuốn phim thì, đạo diễn (Phan Vũ) trước (hoặc sau), phải có đoạn phim ghi lại hình ảnh ngôi nhà thời nguyên vẹn. Hình ảnh người nữ, dương cầm thủ (dù chỉ dáng ngồi,) cùng cây đàn, tiếng đàn… Nhưng ở cương vị thi sĩ, tác giả chỉ cần dùng tính từ “còn” người đọc sẽ liên tưởng tới những hình ảnh, âm thanh, chiếc đàn, người chơi đàn đã… vắng. Mất.


Nói cách khác, “Hà-Nội-Phố” của Phan Vũ, theo tôi, là một cuốn phim vĩ đại, đánh dấu một giai đoạn, một thời kỳ Hà Nội. Nó cho Hà Nội, 1972 một linh hồn giữa khi cảnh vật, con người đã tiêu trầm hồn, tính.


Bài thơ của họ Phan còn cho thấy tương tác máu, thịt giữa hai loại hình nghệ thuật. Một liên-ảnh, một hợp hôn không thể tốt đẹp hơn, rực rỡ hơn giữa nghệ thuật và, văn học.


Ðịnh mệnh của “Hà-Nội-Phố,” do đấy, tôi nghĩ, là định mệnh bất phân ly một phần lịch sử Hà Nội.


Hơn một lần tôi nói với T. về ước ao, một trưa nào, không cần Ðoàn Thạch Hãn giới thiệu mà, chính chúng tôi sẽ là người mời Hãn, mời Hà Quang Minh, Ngô Kinh Luân… trở lại với thành phố phồng, rộp những cơn nắng châm chích trên từng tấc thịt, da, tuồng đã bị nấu nhừ, nung chín…










Tranh Phan Vũ.


Chúng tôi sẽ cùng mở cửa bước vào ngôi quán xưa. Ngôi quán âm âm, chia khu và, những chiếc ghế bành đợi khách…


Bằng cách riêng của mỗi người, lần này, tôi tin, chúng tôi sẽ được chiêm ngưỡng những bức phù điêu “Hà-Nội-Phố” của Phan Vũ, cùng khắp tất cả các bờ tường. Và, ắp đầy không gian âm âm kia, sẽ là âm giai lộng-lẫy-ngậm-ngùi của ca khúc “Em ơi, Hà Nội phố,” Phú Quang.


Tôi nghĩ, có thể nhiều phần, T. sẽ thay mặt chúng tôi, ngỏ lời cám ơn Phan Vũ. Cảm ơn Phú Quang. Tôi cũng nghĩ, có thể nhiều phần, T. sẽ không quên cảm ơn cả những vắng mặt trong Tháng Chạp, Hà Nội, 1972 của Phan Vũ, nữa.


Du Tử Lê


(Tháng 4, 2012)


 


Chú thích:


(12) Theo trang mạng Wikipedia, Bách Khoa Toàn Thư Mở thì, Nhân Văn là một tờ báo văn hóa, xã hội, có trụ sở tại 27 Hàng Khay, Hà Nội, do nhà văn Phan Khôi làm chủ nhiệm, Trần Duy thư ký tòa soạn. Bán nguyệt san Nhân Văn, số 1, ra mắt ngày 20 tháng 9 năm 1956, phản kháng chế độ, tranh đấu cho quyền tự do sáng tác của văn nghệ sĩ. Ngày 15 tháng 12 năm 1956, Ủy Ban Hành Chính Hà Nội ra thông báo đóng cửa báo Nhân Văn. Số 6 không được in.


Riêng tạp chí Giai Phẩm Mùa Xuân, số 1, ấn hành tháng 3 năm 1956, do nhà thơ Hoàng Cầm và Lê Ðạt chủ trương; về sau bị tịch thu vì bài thơ “Nhất định thắng” của Trần Dần – Miêu tả hoàn cảnh đời sống miền Bắc những ngày đầu đất nước chia cắt. Tác giả bài thơ bị qui kết chống phá, “bôi đen” chế độ, với những câu thơ đanh thép như: “Tôi bước đi / không thấy phố / không thấy nhà / Chỉ thấy mưa sa / trên màu cờ đỏ…” Tạp chí Giai Phẩm ra được 4 số, trước khi bị đình bản.


Sau đó, hầu hết các văn nghệ sĩ tham gia phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm bị đưa đi học tập cải tạo. Một số bị treo bút thời gian dài như Lê Ðạt, Trần Dần… Số khác không thể tiếp tục con đường văn chương. Có người còn bị giam giữ nhiều năm và, tiếp tục bị giám sát sau khi đã mãn tù. Trường hợp Nguyễn Hữu Ðang. Dư luận chung gọi là “Vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm.”

Vàng Ðen (Kỳ 64)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 64


 


Nửa giờ sau, những nhánh củi được ném vào tới tấp phía trong hàng rào tre. Những chai thuốc dùng để bôi lên da chống muỗi cũng được đổ lên những quần áo cũ, chúng được dùng làm nguyên liệu bắt lửa. Xác người, xác vật bắt đầu cháy.


Ngọn lửa của củi tươi nhả những cuộn khói đen kịt, phủ kín cả những núi đồi lân cận. Những cuộn khói đen cũng làm đen tối cuộc liên hoan sắp cận kề của bầy kên kên. Củi tươi vẫn tiếp tục được ném vào, ngọn lửa được mở rộng rồi cháy bén vào hàng rào tre. Những ống tre tươi nổ bôm bốp như pháo. Hai xác sài kíu với lớp lông nâu vàng thật bẩn mắt, điểm cùng những chấm đen loang lỗ cũng bị ngọn lửa liếm béng.


Hơn hai tiếng đồng hồ, cuộc hỏa táng mới chấm dứt. Trong khi mọi người bận rộn với việc lấy củi rừng, đám sài kíu với những đôi mắt gian tà vẫn lởn vởn đứng nhìn. Buồn bực, Phong nheo súng, khải lật hai con. Lúc đó, chúng mới thật sự biến hẳn vào rừng.


-Ðéo mẹ, tất cả đều vô thường. Thằng già này bây giờ đang đứng đéo đời, chứ tí nữa, không chừng lại lăn cổ ra chết. Nào về chứ? tớ cũng phải ăn một bụng, rồi còn ngáy một chút. Không biết con vợ cậu nó có biết đường nấu món gì không? Mẹ, hay lại mơ màng nằm chờ thằng chồng về ủ. Ðéo mẹ, gái thối.


Phong Sương không thối như già Trí nói. Từ lúc tỉnh hẳn, cô nàng nghe loáng thoáng chuyện phía trên, nhưng cũng tự giới hạn chính mình để ru rú ở lại, vì đám lính xuống nói, hình ảnh ở trên đó còn rùng rợn gấp trăm lần xác ướp sáng nay. Cơm nước đã chuẩn bị xong, chỉ chờ dọn ra. Khi Phong cùng già Trí về đến nơi, cũng đúng lúc cô nàng đè hai tên cận vệ ra quất túi bụi. Hai tên Lào trắng trẻo, to lớn lại ngoan ngoãn nằm úp sấp mặt xuống đất như trẻ con để cô đánh. Phong cau mày hỏi:


-Em làm gì vậy?


-Phạt chúng cái tội sáng nay bỏ em mà chạy.


-Em thôi ngay cái trò ấy. Em phải giữ sĩ diện cho nó, về sau em mới dùng được nó chứ. Trước mặt mọi người, em lại đè chúng ra đánh, coi thật không được chút nào.


Phong Sương vẫn nhấm nhẳn:


-Em vẫn thường đánh người làm như thế. Ai bảo. Em sợ nhũn người ra, tưởng chúng vào cứu em, ai ngờ chúng cũng chạy như vịt cả.


-Cất roi đi.


Giọng Phong trở nên lạnh, cô nàng rụt vòi tức khắc.


Cơm trưa vừa xong, Phong họp ngay già Trí cùng Sơn lại.


-Tất cả những gì xảy ra sáng nay, đều chứng tỏ có một bọn nào đó trong bóng tối đang theo sát mình, đã chuẩn bị đón tiếp mình tại một nơi nào đó. Tôi cũng chưa biết được vì lý do gì. Nếu chúng muốn cướp số hàng, chúng đã không giết hai tên Lào dã man như vậy. Tôi nghĩ, chúng đã biết từng đường đi, nước bước của mình ngay từ khởi đầu, ngay từ chuyến tôi cùng già Trí thăm dò con đường này. Do đó chúng biết trước, giết hai thằng nhỏ ngay trên đường mình phải đi để dằn mặt. Nhưng dằn mặt như vậy để làm gì, mình đâu có động chạm quyền lợi của ai ở tam giác này.


-Có chứ, súng đạn cũng là mối lợi lớn sau thuốc phiện. Cậu em đang giẫm chân bọn nào đó.


-Ông biết bọn nào không?


-Tên tuổi thì không biết, nhưng biết chắc từ bên Mỹ.


-Sao lại tụi Mỹ?


-Ðéo mẹ, phải suy luận một chút chứ cậu em. Còn ai sản xuất súng đạn nhiều bằng thằng Mỹ. Thằng già này ở góc rừng hoang còn biết nữa là cậu em. Ðéo mẹ, súng đạn nó đổ đầy ngoài khơi biển Thái Lan. Còn thằng nào dám qua mặt thằng Mỹ nữa.


Diễn vở tuồng của một kẻ ngây thơ, Phong tỉnh khô hỏi già Trí:


-Không lẽ chính quyền Thái nó làm ngơ?


-Ðịt mẹ, giấy xanh nó xòe ra thì đến thằng già này cũng phải đen mắt, huống chi tụi to đầu quen ăn sung, mặc sướng. Mà đéo mẹ, cậu cũng là dân trong nghề mà cứ hỏi lôi thôi thế.-


-Thì đù mẹ, làm sao tôi biết hết mọi chuyện. Sống lăn lộn như ông mới đáng nói.


Già Trí dính cựa ngay. Thao thao bất tuyệt phun ra những gì lượm lặt được từ những mảnh rừng hoang, những gì gặt hái được qua những va chạm đẫm máu quanh tam giác vàng. Tất cả hằng chất chứa trong bụng.


-Ðịt mẹ, chuyện làm ăn của các cậu nên tôi cũng chẳng buồn hỏi là hàng hóa của các cậu từ đâu đến, nhưng tôi biết ngay, các cậu sẽ giẫm chân tùm lum ở đây. Tôi không vợ, không con, chỉ có mỗi mình nó là cháu. Lần đầu nó gọi tôi, tôi biết ngay là nó chết vì thằng củ lẳng của cậu. Nhưng kệ bố nó, nó cũng như con gái, không làm không được. Không làm rồi nó lại mè nheo, không nhìn mặt tôi.


-Ông cũng sợ “nó” thế à?


-Ðịt mẹ, vợ cậu chứ có phải con ở đâu mà gọi bằng nó.


-Ờ, ờ, xin lỗi, thì đù mẹ, cô ấy là cháu ông.


-Tụi Mỹ, nó sống nhờ súng đạn. Sản xuất ra nhiều thì phải có chỗ tiêu thụ. Muốn tiêu thụ thì phải có thị trường. Thị trường thì phải tạo ra chiến tranh. Nó thấy mấy thằng da vàng đẻ nhiều như heo thành ra nó phải cho chết bớt. Nó phải…

Hai trận động đất liên tiếp trên 8.0 gần Indonesia

 BANDAH ACEH, Indonesia (AP) –  Hôm Thứ Tư  11 tháng 4, hai trận động đất rất mạnh đã xảy ra trong vùng biển Ấn Độ Dương gây kinh hoàng cho khắp một vùng từ Indonesia, Malaysia, Thái Lan đến Bangladesh và Ấn Độ.



Dân chúng Indonesia di tản gây tắc nghẽn giao thông tại Banda Aceh sau động đất và báo động sóng thần hôm Thứ Tư 11 tháng 4. (Hình: AP/Heri Juanda)


Trung tâm báo động sóng thần ở Hawaii đã lập tức đưa ra lệnh báo động cho khắp vùng nam Á Châu nhưng may mắn không có sóng thần xảy ra.


Dân chúng Indonesia trên đảo Aceh rút chạy hỗn loạn lên các khu vực cao. Tại Phuket, Thái Lan dân chúng bỏ chạy đầy đường trên xe máy.  Năm 2004 trận động đất 9.0 gây ra sóng thần đã làm 230,000 người thiệt mạng  trong đó Aceh và Phuket ở trong số những nơi bị nhiều tổn thất.


Trận động đất mạnh 8.6  hôm Thứ Tư xảy ra lúc 2.37 giờ chiều giờ địa phương (1.37 giờ sáng giờ California). Tiếp theo là những hậu chấn mạnh từ 5.0 đến 6.0 độ.  Hai giờ sau, lúc 4.43 phút chiều, giờ địa phương (3.43 giờ sáng giờ California) xảy ra một chấn động mạnh 8.2.


Trung tâm của hai trận động đất này ở ngoài khơi Ấn Độ Dương cách Banda Aceh, Indonesia, 270 dặm phía tây sâu dưới đáy biển từ 10 đến 14 dặm.


Theo giải thích của cơ quan địa chất Hoa Kỳ, động đất do hai mảng địa tầng chạm theo chiều ngang và trượt sát bên nhau, chứ không phải là đi thẳng tới và luồn xuống dưới nhau, do đó không tạo nên song thần mạnh.


Những tin tức đầu tiên cho biết chắc chắn không có thương vong đáng kể và thiệt hại vật chất chưa được báo cáo đầy đủ. (HC)

Chiến hạm Philippines, Trung Quốc đối đầu ở Biển Đông


MANILA, Philippines (AP)
Chính phủ Philippines và Trung Quốc đồng ý sẽ tìm cách giải quyết tranh chấp ở Biển Đông một cách ôn hòa, nhưng không bên nào chịu nhượng bộ hôm Thứ Tư trong cuộc đối đầu nguy hiểm nhất ở vùng này từ nhiều năm qua.









Phó Đô Đốc hải quân Philippine Alexander Pama trưng hình ảnh hai chiếc tàu của Trung Quốc chặn tàu  của hải quân Philippines, trong cuộc họp báo ở Manila hôm 11 tháng Tư. (Hình: NOEL CELIS/AFP/Getty Images)


Ngoại Trưởng Philippines, ông Albert Del Rosario, cho hay ông cảnh cáo Đại Sứ Trung Quốc bà Mã Cơ Thanh (Ma Keqing) rằng Philippines sẽ có hành động tự vệ nếu bị khiêu khích.


Trong cuộc họp, cả hai bên đều cho rằng bãi đá ngầm Scarborough (Scarborough Shoal) là một phần lãnh thổ của mình.


Tuy nhiên dù trong tình trạng căng thẳng, “chúng tôi cương quyết tìm một giải pháp ngoại giao cho vấn đề,” ông Del Rosario tuyên bố trong một cuộc họp báo.


“Không bên nào có lợi nếu bạo động xảy ra nơi đây,” Tổng Thống Benigno Aquino III cho hay.


Chính phủ Philippines nói hải quân của họ tìm cách bắt giữ các tàu đánh cá Trung Quốc xâm phạm hải phận và đánh cá bất hợp pháp nhưng bị hai tàu hải giám Trung Quốc ngăn cản. Tòa Đại Sứ Trung Quốc ở Manila cáo buộc  tàu chiến Philippines là gây khó khăn cho hoạt động của ngư dân họ.


Vùng Biển Đông là nơi đang có nhiều tranh chấp lãnh thổ, nhất là khu vực quần đảo Trường Sa, nằm về phía nam của bãi Scarborough và được coi là giàu có tài nguyên thiện nhiên kể cả dầu hỏa và khí đốt.


Hải quân Philippines đang gửi thêm tàu chiến về phía bãi Scarborough, nằm cách bờ biển quốc gia này khoảng 200 km.


Cuộc đối đầu khởi sự hôm Chủ Nhật khi một phi cơ trinh sát của hải quân Philippines thấy tám tàu đánh cá Trung Quốc neo trong một đầm phá ở bãi Scarborough. Hải quân Philippines sau đó gửi chiến hạm lớn nhất của họ là chiếc tàu tuần duyên vừa được Mỹ cung cấp BRP Gregorio đến nơi này.


Hôm Thứ Ba, lính Philippines lên khám các tàu cá và tìm thấy số lượng lớn san hô, trai lớn và cá mập sống trên tàu. Ngoại trưởng Del Rosario cho hay các ngư dân Trung Quốc đánh cá trái phép trong lãnh thổ.


Hai tàu hải giám Trung Quốc sau đó đến nơi này và đậu giữa tàu chiến Philippines với các tàu đánh cá Trung Quốc, ngăn không cho bắt giữ các ngư dân, theo thông cáo của phía Philippines.


Hai tàu hải giám Trung Quốc dùng vô tuyến điện ra lệnh cho tàu chiến Philippines phải “ra khỏi hải phận Trung Quốc.” Phía Philippines cho hay đây không phải là lãnh thổ Trung Quốc và hai bên vẫn còn đang gờm nhau trên biển. (V.Giang)


 

Trung Quốc không cho liên lạc với ngư dân bị bắt ở Hoàng Sa


QUẢNG NGÃI (NV) –
Trung Quốc không cho người thân của 21 ngư dân Quảng Ngãi bị bắt ở quần đảo Hoàng Sa gặp thân nhân qua điện thoại và một mực đòi tiền chuộc.










Chị Lê Thị Hậu lo lắng chồng mình không biết có bị phía Trung Quốc đánh đập hay không. (Hình: Báo Thanh Niên)


Các ngư dân này bị bắt từ đầu tháng 3, 2012 và đòi tiền chuộc 11 ngàn đô la/người, dù Bộ Ngoại Giao Việt Nam lên tiếng, phản đối yêu cầu Trung Quốc thả ngay và vô điều kiện nhưng những ngư dân này vẫn chưa được thả.


Báo Thanh Niên, vào chiều 9 tháng 4, đã liên lạc với chị Lê Thị Phúc, vợ của thuyền trưởng Trần Hiền, một trong số 21 ngư dân Lý Sơn bị Trung Quốc giam giữ, kể rằng: “Tối 28 tháng 3 gia đình điện thoại qua số máy 13876638433 để hỏi tình hình các ngư dân nhưng phía Trung Quốc không cho gặp thuyền trưởng Hiền và khăng khăng đòi tiền chuộc.”


“Họ (phía Trung Quốc) nói rằng chỉ cần nộp chút ít tiền mới cho gặp và thả ngư dân chứ gọi điện thoại nữa cũng vô ích. Từ tối hôm đó đến nay, gia đình tui không gọi nữa.”


Chị Lê Thị Phúc kể thêm với báo Thanh Niên: “Gia sản của vợ chồng là chiếc tàu cá QNg-66074 TS đã bị Trung Quốc giữ, trong nhà chẳng còn gì, bây giờ lấy đâu ra tiền mà nộp.”


“Các gia đình 21 ngư dân đang bị Trung Quốc giam giữ, đòi tiền chuộc tiếp tục gửi đơn kiến nghị lên các cơ quan chức năng, đề nghị can thiệp để phía Trung Quốc sớm thả tàu và ngư dân trở về quê đoàn tụ với gia đình. Cũng theo lời chị Phúc, đây không chỉ là lần đầu tiên mà trong những năm qua tàu cá của gia đình nhiều lần bị các lực lượng chức năng của Trung Quốc lấy, đập phá tài sản và thuyền trưởng Trần Hiền bị những trận đòn nhừ tử khi đang hành nghề hợp pháp trên vùng biển quần đảo Hoàng Sa, gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng.”


Vẫn theo báo Thanh Niên thì vợ của các ngư dân khác như chị Lê Thị Hậu (31 tuổi, ở xã An Vĩnh), vợ của ngư dân Nguyễn Lợi (34 tuổi) đi trên tàu QNg-66101 TS, lo âu: “Không biết phía Trung Quốc đối xử với ngư dân như thế nào. Tui lo nhất việc họ bị đánh đập.”


Tại tỉnh Quảng Ngãi, 3 tháng đầu năm 2012 đã xảy ra 5 vụ gồm 8 tàu cá và 93 ngư dân Quảng Ngãi bị nước ngoài bắt giữ, đòi tiền chuộc, lấy tài sản. (KN)

Bộ Trưởng Ðinh La Thăng chối bị tai nạn giao thông


HÀ NỘI (NV) –
Bộ trưởng giao thông Việt Nam, ông Ðinh La Thăng, đưa ra lời phủ nhận sau khi nhiều tờ báo tại Việt Nam loan tin khi đi công tác tại Ninh Bình, chiếc xe chở ông Thăng bị một xe khác đâm vào.










Chiếc xe chở Bộ Trưởng Thăng bị tai nạn. (Hình: Báo Tiền Phong)


Lên tiếng trên báo “Phunutoday” vào sáng ngày 10 tháng 4, Bộ Trưởng Ðinh La Thăng khẳng định: “Không có chuyện ai bị tai nạn nào hết, các báo đưa tin bậy bạ. Tôi khẳng định là không có chuyện đó.”


Trước đó, báo Tiền Phong loan tin: “Chiều 9 tháng 4, ông Nguyễn Văn Công, chánh văn phòng Bộ Giao Thông-Vận Tải cho biết, trong chuyến công tác tại Ninh Bình, xe Land Cruiser chở Bộ Trưởng Ðinh La Thăng đã bị một ôtô khác đâm.”


“Tuy nhiên, thông tin về chiếc xe gây tai nạn với xe bộ trưởng và địa điểm gây tai nạn giao thông thì ông Công không biết. Nghe nói chiếc xe đó bẹp rúm và lái xe xin nên bộ trưởng không yêu cầu xử phạt hay bồi thường,” ông Công nói.


Vẫn theo báo Tiền Phong thì “Chiếc xe chở Bộ Trưởng Thăng gặp tai nạn là loại xe Toyota Land Cruiser V8. Sau khi bị nạn, chiếc xe đã được đưa về một gara ôtô tại Hà Nội sửa chữa. Ông Công cho biết, theo đánh giá ban đầu chiếc xe ước bị thiệt hại khoảng 30 triệu đồng.”


Ông Công còn cho biết thêm, “Ðây là xe đăng ký đứng tên chủ sở hữu là Bộ Giao Thông-Vận Tải. Tuy nhiên chiếc xe do một công ty cổ phần thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (mua với giá hơn 2.6 tỷ đồng) tặng Bộ Giao Thông-Vận Tải.


Ông Ðinh La Thăng giữ chức bộ trưởng Giao Thông khoảng 1 năm nay nhưng đã gây ồn ào tại Việt Nam bằng nhiều lời phát biểu và các quyết định gây sốc trong dư luận như việc tịch thu xe vi phạm giao thông, cách chức nhiều thuộc cấp, thay đổi giờ đi làm, đi học của người dân Hà Nội, bắt thuộc cấp đi xe buýt… Gần đây nhất là các cáo buộc ông Thăng đã làm thất thoát hàng tỉ đồng khi ông còn làm chủ tịch Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. (KN)

Ðại sứ Argentina bị móc túi giữa ban ngày


HUẾ (NV) –
Ðại sứ Argentina tại Việt Nam khi đến Huế tham dự lễ hội Festival 2012 vào ngày 8 tháng 4 bị một kẻ gian móc túi lấy điện thoại di động. Nhưng chỉ hai ngày sau công an thành phố Huế bắt được nghi can nhờ một bức ảnh do đại sứ Cộng Hòa Venezuela tại Việt Nam rất tình cờ chụp được.










Bức ảnh cho thấy nghi can Nguyễn Văn Ốc (áo trắng đứng giữa ngài đại sứ và phu nhân) đang thò tay vào túi ông đại sứ Argentina. (Hình do đại sứ quán Venezuela cung cấp cho báo Dân Trí)


Theo báo Dân Trí, chiều 8 tháng 4, đại sứ Argentina, ông Alberto Jaime Kaminker cùng phu nhân đang chăm chú theo dõi chương trình biểu diễn lễ hội đường phố Xanh trên trục đường Lê Lợi-Hùng Vương, thành phố Huế thì bị mất cắp 1 chiếc điện thoại di động.


Một điều thật bất ngờ, theo báo Dân Trí, trong khi nghi can móc túi lấy chiếc điện thoại của ông Alberto Jaime Kaminker thì đại sứ Venezuela tại Việt Nam, ông Jorge Rondon Uzcategui và camera của ông an thành phố Huế đứng ở phía đối diện, trong lúc chụp ảnh, quay phim lễ hội đã chụp được khoảnh khắc trên.


Căn cứ vào các bức ảnh, công an đã bắt được nghi can tên là Nguyễn Văn Ốc, cư dân, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.


Ðiều tra thêm, công an còn bắt thêm hai nghi can khác trong nhóm trộm là Dương Thị Thanh Vân và Dương Thị Kim Ngân đều là cư dân Hà Nội. Qua khám xét, công an đã thu giữ 5 điện thoại di động và một số ngoại tệ khác mà theo các nghi can khai nhận là tang vật các vụ trộm.


Báo Dân Trí cho hay, vào sáng 10 tháng 4, công an tỉnh Thừa Thiên-Huế đã trao trả tài sản cho đại sứ Argentina. (KN)

“Thăng Tiến” và “Vì Dân” tranh luận công khai

 


WESTMINSTER (NV) – Hai liên danh “Thăng Tiến” và “Vì Dân” vừa có cuộc tranh luận tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa và Báo Chí, Westminster, chiều 10 Tháng Tư. Ðây là hai liên danh tham gia vào cuộc tranh cử vào Ban Ðại Diện Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia Nam California, vào ngày 15 Tháng Tư tới đây.










Buổi tranh luận có sự hiện diện của một số thành viên Hội Ðồng Liên Tôn và các nhân sĩ trong cộng đồng. Nội dung cuộc tranh luận xoay quanh vấn đề tư cách cá nhân của ông Nguyễn Tấn Lạc và Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa, cũng như một số vấn đề liên quan đến lợi ích cộng đồng mà liên danh thắng cử sẽ thực hiện trong tương lai. Trong hình, bên trái là ông Nguyễn Tấn Lạc, thuộc “Thăng Tiến,” bên phải là LS Nguyễn Xuân Nghĩa, thuộc “Vì Dân.” (NL)

Tàu chở container chìm, mang theo cả trăm xe hơi


VŨNG TÀU (NV) –
Một chiếc tàu chở container của Việt Nam bị chìm ở khu vực Bãi Trước, thành phố Vũng Tàu vào sáng sớm 10 tháng 4 mang theo cả trăm chiếc xe hơi.










Tàu Trường Hải Star nhô một phần thân lên mặt nước, sau khi chìm. (Hình: Báo Thanh Niên)


Vụ tai nạn, theo báo Thanh Niên, xảy ra với tàu Trường Hải Star, chở 66 container, trong đó hàng hóa chủ yếu là xe hơi và phụ tùng bị chìm xuống biển. Tuy nhiên, 16 thủy thủ trên tàu đã được các tàu khác cứu vớt và đưa vào bờ chăm sóc sức khỏe.


Báo Thanh Niên cho hay, “Ðến 9 giờ cùng ngày, đã có hơn 10 container được các tàu khác vớt và đưa vào khu vực Sao Mai-Bến Ðình, thành phố Vũng Tàu.”


Vẫn theo báo Thanh Niên, “Trước đó, lúc 11 giờ 30 phút ngày 9 tháng Tư, tàu Trường Hải Star trong hành trình về Sài Gòn đã đụng với tàu Krairatch Dignity của Thái Lan.”


Tin cho hay, ngay sau khi tai nạn xảy ra, nhận thấy tàu container Trường Hải Star có thể chìm nên Cảng Vụ Hàng Hải Vũng Tàu đã hướng dẫn tàu rời khỏi luồng hàng hải và chạy vào cạn để cứu người. Khi tàu chạy đến giữa 2 vị trí neo đậu D5 và D6 thì chìm hoàn toàn.


“Tàu bị lật nghiêng, chìm ở độ sâu khoảng 18m, hiện tại chỉ nhô một phần thân tàu trên mặt nước.”


Các giới chức cho biết, có 25 container trên tàu Trường Hải Star bị rơi ra khỏi tàu và trôi dạt. Ðến 10 giờ cùng ngày, các tàu cứu hộ đã tìm thấy 22 container, trong đó 10 container có hàng. Tàu Trường Hải Star chở 66 container, nhưng chỉ có 26 container có chứa hàng là xe hơi và phụ tùng xe hơi. (KN)

Cash For Gold

 

Tàu Trung Quốc hoàn tất chuyến du lịch đến Hoàng Sa


HẢI NAM (NV)
Bất chấp những lời phản đối từ phía Việt Nam, chiếc tàu du lịch của Trung Quốc mang tên Yexiang Princess (Công Chúa Gia Hương) vừa hoàn tất chuyến đi thử nghiệm đưa khách tới quần đảo Hoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố có chủ quyền.










Một chiếc tàu du lịch của Trung Quốc, tương tự chiếc Yexiang Princess vừa có chuyến du lịch đến Hoàng Sa. (Hình: whatsonsanya.com)


Truyền thông Trung Quốc hôm 10 tháng 4 cho hay, tàu du lịch Công Chúa Gia Hương sau chuyến hải trình kéo dài 3 ngày chạy thử tuyến đường từ cảng Tam Á, Ðảo Hải Nam, ra đảo Ðá Bắc thuộc quần đảo Hoàng Sa đã trở về vào chiều 9 tháng 4.


Tờ Hoàn Cầu Thời Báo nói rằng, “Thành công chuyến đi đầu tiên này là bước khởi đầu cho việc mở rộng các chuyền du lịch đến quần đảo Hoàng Sa cho dân chúng trong tương lai.”


Chu Nãi Quân một viên chức của công ty vận tải Eo Biển Hải Nam, chủ của chiếc tàu Công Chúa Gia Hương, được tờ Hoàn Cầu Thời Báo trích lời nói, công ty này “sẽ hoàn thiện kế hoạch dựa trên những dữ kiện thu thập lần này, sau đó bắt đầu đàm phán với các công ty du lịch để bán vé.”


Còn ông Hoàng Bành, một phó giám đốc Sở Giao Thông tỉnh Hải Nam cho biết, tuyến đường được dự kiến mất hai ngày, với cuộc hành trình một chiều kéo dài khoảng 10 giờ.


Một giới chức khác, Lục Chí Nguyên, giám đốc Ủy Ban Phát Triển Du Lịch Hải Nam, cho biết địa phương này đã tìm được một địa điểm mới để phát triển du lịch nhưng sẽ hành động thận trọng.


Ba ngày sau khi tàu Công Chúa Gia Hương xuất phát chuyến du lịch đến Hoàng Sa, Bộ Ngoại Giao Việt Nam mới lên tiếng phản đối.


Ông Lương Thanh Nghị, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam hôm 9 tháng 4 tuyên bố, “Trung Quốc ngay lập tức phải ngừng các chuyến du lịch đến Hoàng Sa, chấp hành nghiêm chỉnh Nguyên Tắc Ứng Xử Trên và không có thêm hành động làm phức tạp tình hình ở Biển Ðông.”


Ông Lương Thanh Nghị nói thêm, “Hoạt động nói trên của Trung Quốc là bất hợp pháp và vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.”


Trước đó, hôm 7 tháng 4, tờ Hoàn Cầu Thời Báo của Trung Quốc nói rằng chương trình tổ chức du lịch tới quần đảo Hoàng Sa “giúp củng cố chủ quyền lãnh thổ.” (KN)

Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ cất tiếng gọi đàn

 


Nguyên Huy/Người Việt


 


WESTMINSTER –Trưa 8 Tháng Tư, tại nhà hàng Diamond Seafood, thành phố Garden Grove, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ (CLB) tổ chức buổi họp mặt kỷ niệm 2 năm thành lập.










Ðông đảo đồng hương thân hữu đến với CLB Tình Nghệ Sĩ trong ngày kỷ niệm 2 năm thành lập. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Hơn 300 thân hữu mà đa phần là anh chị em nghệ sĩ đang hoạt động tại Nam California đến tham dự buổi họp mặt này, tạo nên không khí sinh hoạt văn học nghệ thuật khá sôi nổi.


Trong buổi sinh hoạt này Ban Tổ Chức đã vắn tắt nhìn lại hai năm hoạt động của CLB, giới thiệu tân chủ tịch của CLB nhiệm kỳ 2012-2014 và giới thiệu hai tác phẩm mới thực hiện của CLB là CD Volume 2 với chủ đề “Em & Anh – Kẹo Hồng” và Tập san “Vườn Xuân” số 1.


Gặp gỡ phóng viên Người Việt, Bác Sĩ Nha Khoa Cao Minh Hưng, con chim đầu đàn của CLB Tình Nghệ Sĩ cho biết: “Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ được thành lập từ 2 năm nay. Mới đầu chỉ là vài chục anh chị em có cùng một nguyện vọng là đoàn kết các anh chị em nghệ sĩ ở hải ngoại trong các lãnh vực âm nhạc, văn, thi, hội họa để trao đổi kinh nghiệm hoạt động cũng như sáng tác. Tham vọng thứ hai của CLB là nâng đỡ khuyến khích những tài năng trẻ trong chí hướng bảo tồn và phát huy nền văn hóa Việt Nam ở hải ngoại.”


Nhìn lại kết quả hai năm hoạt động vừa qua, CLB Tình Nghệ Sĩ đã đạt được những kết quả mà theo nghệ sĩ Cao Minh Hưng là “đã được hưởng ứng không chỉ tại nơi phát sinh này mà còn từ Âu Châu, Úc Châu và sắp tới là Canada. Trong hai năm qua CLB Tình Nghệ Sĩ đã có những chuyến đi sang Âu châu và Úc Châu nơi nào cũng được anh chị em trong giới văn nghệ sĩ đang hoạt động tại địa phương tiếp tay tổ chức những buổi tiếp xúc cùng đồng hương và kết hợp thành những chi nhánh của CLB tại những nơi này.”


Những kết quả đó đã làm nức lòng anh chị em nghệ sĩ có mặt từ đầu trong CLB. Chủ lực hiện nay của CLB là ban hợp ca với gần 30 tiếng hát nam và nữ và một chương trình phát hình hàng tuần trên đài Global TV 57.8 tại Nam California. Ngoài ra năm nay CLB Tình Nghệ Sĩ còn hoàn tất được tập san đầu tiên qui tụ được khá nhiều người viết thuộc nhiều thế hệ. Ðó là tập san “Vườn Xuân,” số 1 với 30 cây viết thuộc nhiều thế hệ.


Nghệ sĩ Cao Minh Hưng cũng cho biết: “Vườn Xuân sẽ là một diễn đàn văn học bảo tồn và phát huy được dòng văn hóa đích thực của dân tộc mà ở trong nước hiện nay dưới chế độ hiện hành đã không giữ được.”


Mặc dầu là người khai sinh ra Câu Lạc Bộ, nhưng nghệ sĩ Cao Minh Hưng không giữ chức chủ tịch CLB lần thứ 2 dù đã được anh chị em tín nhiệm nên trong nhiệm kỳ thứ hai này, nhà thơ Quỳnh Giao đã được anh chị em cử lên thay thế.


Tiếp xúc với chúng tôi, Quỳnh Giao, một khuôn mặt rất quen thuộc với các cựu quân nhân ngành Truyền Tin (vì là cựu hội trưởng) và với hầu hết anh chị em nghệ sĩ ở hải ngoại (vì là một nhà thơ được nhiều độc giả yêu thích), tâm sự: “CLB Tình Nghệ Sĩ vẫn tiếp tục đi trên con đường đã vạch ra. Và, để đáp ứng đúng nguyện vọng của anh chị em nghệ sĩ hải ngoại, CLB Tình Nghệ Sĩ sẽ gia tăng hoạt động, tổ chức nhiều hơn nữa những buổi sinh hoạt văn học, nghệ thuật có thể cứ mỗi mùa chúng ta lại có một buổi sinh hoạt với nhau, quần tụ ngày càng đông giới làm văn học, nghệ thuật.” Kỷ niệm sinh nhật 2 tuổi lần này, CLB Tình Nghệ Sĩ đã hoàn tất được thêm 2 tác phẩm nghệ thuật, một là CD Volume 2 với chủ đề “Em & Anh – Kẹo Hồng” và hai là số 1, tập san “Vườn Xuân.” Và, Quỳnh Giao với nét duyên dáng của người nghệ sĩ, vui vẻ hỏi: “Chỉ nghe tên gọi hai tác phẩm này, nhà báo có thấy lãng đãng những tơ tình nghệ sĩ của người Việt chúng ta ở hải ngoại qua hai tác phẩm này không?”










Nhà văn Vân Bằng (trái) trao tặng quà kỷ niệm đến CLB Tình Nghệ Sĩ qua tân chủ tịch Quỳnh Giao. Phía sau là anh chị em trong ban tổ chức. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Buổi sinh hoạt kỷ niệm 2 năm của CLB Tình Nghệ Sĩ đã diễn ra trong không khí vui tươi thanh nhã. Hầu hết anh chị em văn nghệ sĩ tại Nam California đều thấy có mặt như các họa sĩ Bé Ký, Lê Thúy Vinh, các nhà văn nhà báo trong hội Văn Bút VN Hoa Kỳ và Tây Nam Hoa Hoa Kỳ, các nghệ sĩ đang hoạt động tích cực trong giới truyền thông như Việt Dzũng, các nhân sĩ trí thức như ông bà Chánh Án Nguyễn Trọng Nho…


Trong phút chào mừng tân chủ tịch, nhiều thân hữu của CLB đã lên trao tặng những món quà ý nghĩa cho CLB.


Cho mãi tới hơn 2 giờ chiều bữa cơm thân mật giữa các nghệ sĩ và thân hữu trong ngày kỷ niệm hai năm thành lập CLB mới tạm chấm dứt trong nỗi lưu luyến của mọi người.


 


––––––––––-


Liên lạc tác giả: [email protected]

Băng đảng gốc Việt bị kết tội giết đồng bọn trả thù


Cướp của, giết đồng lõa bịt đầu mối, ung dung 17 năm


SANTA ANA (NV) – Bốn thành viên một băng đảng tội phạm gốc Việt vừa bị kết tội giết đồng bọn theo kiểu “xử bắn” hồi năm 1995, vì người này bỏ chạy trong một vụ cướp, thông cáo báo chí của Biện Lý Cuộc Orange County cho biết.










(Từ trái qua phải, từ trên xuống dưới) Anthony Paul Johnson, Giang Thuy Nguyen, Truc Ngoc Tran và Tam Hung Nguyen, bị kết tội giết đồng bọn cùng băng đảng. (Hình: Biện Lý Cuộc Orange County cung cấp)


Theo thông báo, Anthony Paul Johnson, Jr., 35 tuổi, cư dân Westminster; Giang Thuy Nguyen, 36 tuổi, cư dân Fountain Valley; Tam Hung Nguyen, 36 tuổi, cư dân Riverside; và Truc Ngoc Tran, 34 tuổi, cư dân Santa Ana, thuộc một băng đảng Việt Nam, bị bồi thẩm đoàn kết tội giết người và có ý định giết người với âm mưu phạm tội ác để làm lợi cho băng nhóm.


Tất cả bốn bị cáo có thể bị tù chung thân không được xét tha sớm. Phiên tòa chính thức luận tội sẽ được diễn ra vào lúc 8 giờ 30 sáng ngày 8 Tháng Sáu tại Central Justice Center, Santa Ana.


Theo biện lý cuộc, vào buổi sáng ngày 24 Tháng Hai, 1995, Anthony Paul Johnson, Giang Thuy Nguyen và một thành viên cùng băng đảng, tên Viet Nguyen, đeo mặt nạ, đột nhập vào nhà một bạn học cùng lớp của Viet Nguyen ở Huntington Beach để cướp.


Trong lúc vụ cướp xảy ra, Viet Nguyen bỏ chạy vì nghĩ rằng nạn nhân nhận diện được mình. Vụ cướp này không bị truy tố vì điều tra trong nhiều năm, nhưng không thể kết luận.


Vào buổi tối hôm đó, Anthony Paul Johnson, Giang Thuy Nguyen, Tam Hung Nguyen và Truc Ngoc Tran gặp nhau tại một căn nhà ở Midway City và bàn cách hạ sát Viet Nguyen để trả thù tội bỏ chạy, đồng thời bịt đầu mối để khỏi khai ra Anthony Paul Johnson và Giang Thuy Nguyen, nếu Viet Nguyen bị nạn nhân tố cáo và bị bắt.


Sáng hôm sau, Anthony Paul Johnson và Giang Thuy Nguyen nói Viet Nguyen cùng với Tam Hung Nguyen đi mua ma túy trên một chiếc xe van. Ngay sau đó, Giang Thuy Nguyen đưa Truc Ngoc Tran chìa khóa một chiếc xe khác để bí mật lái theo chiếc xe van chở Viet Nguyen và Tam Hung Nguyen.


Tam Hung Nguyen, ngồi phía sau xe van, nói Viet Nguyen lái xe đi qua nhiều khu vực ở Orange County, giả vờ như đang đi tìm một người quen với Tam Hung Nguyen để mua ma túy.


Bất thình lình, Tam Hung Nguyen nói cảm thấy khó chịu trong lúc Viet Nguyen đang lái xe trên Xa Lộ 73 ở Costa Mesa. Khi Viet Nguyen tấp xe vào lề, Tam Hung Nguyen rút súng bắn chết Viet Nguyen từ phía sau, theo kiểu xử bắn.


Truc Ngoc Tran, lúc đó đang đi theo chiếc xe van, tấp vào lề, để Tam Hung Nguyen leo lên, và lái xe đi mất.


Bốn nghi can âm mưu giết người sau đó gặp nhau tại một motel ở Anaheim, nhằm tạo ra bằng chứng ngoại phạm (alibi), có nghĩa là khi Viet Nguyen bị giết, họ đang ở nơi khác.


Và để né tránh sự trả thù, bốn nghi can nói dối với các thành viên trong băng đảng mình là Viet Nguyen bị một người buôn bán ma túy ở Costa Mesa bắn chết.


Vụ án bị chìm vào quên lãng cho đến năm 2006, khi cảnh sát Costa Mesa tái điều tra, với sự giúp đỡ của Biện Lý Cuộc Orange County. (Ð.D.)

Tin mới cập nhật