Tổng thống Ukraine mang súng và sẵn sàng chiến đấu tới chết

LVIV, Ukraine (NV) – Ông Volodymyr Zelensky, tổng thống Ukraine, cho biết ông có mang súng và sẵn sàng chiến đấu tới chết cùng với những người thân cận nếu quân Nga xông vô trụ sở của ông hồi đầu cuộc chiến, theo Reuters.

“Tôi biết bắn súng. Quý vị thử tưởng tượng (báo chí giật tít) ‘Tổng thống Ukraine bị Nga bắt?’ Nhục nhã lắm. Tôi nghĩ như vậy sẽ nhục nhã,” ông Zelensky cho biết trong cuộc phỏng vấn chiếu trên kênh truyền hình 1+1 hôm Thứ Bảy, 29 Tháng Tư.

Ông Volodymyr Zelensky, tổng thống Ukraine, ngồi trong văn phòng của ông ở Kiev, Ukraine. (Hình minh họa: Facebook Volodymyr Zelensky)

Trong những ngày đầu sau khi Nga mở cuộc xâm lược hồi Tháng Hai, 2022, giới chức Ukraine cho hay nhiều đơn vị tình báo Nga cố xâm nhập thủ đô Kiev nhưng bị đánh bại và không tới được đường Bankova ở trung tâm thành phố này, nơi đặt trụ sở tổng thống Ukraine.

Những đơn vị khác của Nga tấn công ngoại ô Kiev, nhưng không thể tiến vào bên trong. Giới chức cũng cho biết quân Nga thực hiện nhiều vụ phá hoại bất thành bên trong Kiev.

“Tôi nghĩ lúc đó mà họ tiến vô bên trong, không có chính quyền, chúng tôi sẽ không còn ở đây bây giờ,” ông Zelensky nói. Không rõ ông muốn nói tới đơn vị nào của Nga.

“Sẽ không ai bị bắt làm tù binh vì chúng tôi có kế hoạch phòng thủ đường Bankova rất chắc chắn. Chúng tôi sẽ trụ ở đó tới cùng,” ông Zelensky cho hay.

Khi kênh truyền hình này hỏi ông Zelensky có mang súng và có tập bắn không, ông vừa trả lời có, vừa bác bỏ ý kiến cho rằng có lẽ ông dùng súng tự tử chứ không để bị bắt.

“Không, không, không. Không phải để tự tử. Mà chắc chắn để bắn trả,” ông Zelensky cho biết. (Th.Long) [đ.d.]

Tháng Tư – Thơ Anh Nguyễn 

Anh Nguyễn 

Tháng

Em ra đi biền biệt, nắng hoen màu,/ Để anh lại với nỗi sầu muôn thuở. (Tranh: Đinh Trường Chinh)

Biển đưa em đi, biển đưa em về
Nơi xa đó em về trong giấc mộng
Trời Tháng Tư anh ngồi nghe gió lộng
Cũng ngồi buồn da diết nhớ về em

Ở nơi đó em lạnh lùng cam chịu,
Tuổi mộng mơ, nhưng chẳng ước mơ nhiều,
Rồi lặng lẽ đóng khung đời hư ảo.
Những chiều buồn, từng hạt lệ chắt chiu.

Cái ngày ấy cái ngày không muốn nhớ,
Em ra đi biền biệt, nắng hoen màu,
Để anh lại với nỗi sầu muôn thuở.
Tháng Tư về hiu hắt cuộc đời nhau.

 


LTS: Nhằm mục đích tạo thêm tình thân ái giữa bạn đọc và tòa soạn, nhật báo Người Việt trân trọng kính mời quý bạn đọc, thân hữu tham gia “Vườn Thơ Người Việt,” bằng tất cả mọi thể loại thơ. Xin gửi về địa chỉ email: [email protected], hoặc “Vườn Thơ Người Việt” 14771 Moran Street, Westminster, CA 92683


 

Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ tưởng niệm Tháng Tư Đen, kỷ niệm 20 năm thành lập

Đằng-Giao/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Ngay từ xa, người ta đã nghe tiếng quân nhạc vang vang một góc trời khi tiến gần Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, Westminster, sáng Thứ Bảy, 29 Tháng Tư.

Nghi thức chào cờ đơn giản nhưng trang nghiêm sáng Thứ Bảy, 29 Tháng Tư, tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, Westminster. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Đây là nơi Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ tổ chức lễ tưởng niệm 48 năm Ngày Quốc Hận — 30 Tháng Tư, 1075 – 30 Tháng Tư, 2023 — và kỷ niệm 20 năm xây dựng công trình biểu tượng lịch sử của cộng đồng người Việt tị nạn vùng Little Saigon, nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại.

Trong số người tham dự, có rải rác vài người thuộc giới trẻ.

Ông Hồ Ngọc Minh Đức, chủ tịch Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, cho biết truyền thống của ủy ban trong suốt 20 năm là làm lễ tưởng Ngày Quốc Hận cũng như kỷ niệm ngày khánh thành tượng đài vào Chủ Nhật cuối cùng của Tháng Tư hàng năm kể cả trong thời đại dịch COVID-19.

“Năm nay, vì các giới chức gốc Việt trong Hội Đồng Thành Phố Westminster muốn chọn ngày Chủ Nhật để làm lễ linh dình hơn nên chúng tôi đành phải lấy Thứ Bảy,” ông Hồ Ngọc Minh Đức nói trong tiếng thở dài.

Có lẽ đó là lý do số người tham dự  buổi lễ không được đông như mọi năm.

“Cộng đồng ngày một mất đoàn kết. Diễn hành Tết cũng năm bảy nhóm, tưởng niệm ngày mất nước cũng mỗi nhóm một ngày. Tôi hãnh diện từng cầm súng bảo vệ tổ quốc nhưng tôi không hiểu chúng ta đang dạy thế hệ hậu duệ cái gì đây nữa,” ông Đồng Nguyễn, cư dân Garden Grove, cau mày nói. “Mình mất nước vì không biết đoàn kết mà qua đây rồi, vẫn ‘ôm cứng’ cái ‘truyền thống’ đó hoài.”

Đại diện các cơ quan, đoàn thể chờ đến lượt thắp nhang trước bàn thờ tổ quốc. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Tuy vậy, đa số vẫn có nhận định riêng về giá trị của Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ.

Trong diễn văn, ông Hồ Ngọc Minh Đức nhấn mạnh: “Nhiệm vụ còn đè nặng trên vai chúng ta. Chúng ta, hay con cháu chúng ta, phải cùng nhau giải thể chế độ Cộng Sản, giành lại tự do cho đất nước.”

Ông gọi Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ là biểu tượng của tinh thần yêu chuộng tự do của người gốc Việt.

“Chúng ta phải cho thế giới biết rằng miền Nam Việt Nam từng là một đất nước tự do và người Việt Nam yêu chuộng tự do” ông nói tiếp.

Có người cho rằng tượng đài là biểu tượng của tinh thần Việt.

“Tại chỗ này, tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ này là nơi cháu nhận ra là mình là người gốc Việt,” anh Lê Nguyễn Hoài Tín, ở Santa Ana, chia sẻ.

Anh Tín từng chán công việc phải chở ông ngoại đến đây sinh hoạt. Rồi sau khi tham gia sinh hoạt cộng đồng, anh dần dần nhận ra cội rễ Việt Nam đã ở trong máu mình tự bao giờ rồi.

Anh nói: “Bây giờ, mỗi lần đến tượng đài này, cháu biết mình là người gốc Việt chứ không phải là người Mỹ biết nói vài câu tiếng Việt.”

Ông Hồ Ngọc Minh Đức, chủ tịch Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, từng có mặt từ những ngày đầu tranh đấu cho tượng đài 20 năm trước. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ còn lôi cuốn được sự hiện diện của những người thuộc sắc dân khác.

Ông “Bull Dog” Jesse Gonzales, ở Santa Ana, đến thực hiện một nghi thức của người da đỏ trước bàn thờ tổ quốc để tưởng niệm những chiến sĩ VNCH và Hoa Kỳ đã bỏ mình trong cuộc chiến tại Việt Nam.

“Tôi bị thương ba lần ở Việt Nam để bảo vệ tự do, nhưng nhiều chiến hữu của tôi đã mãi mãi nằm xuống. Hôm nay tôi muốn vinh danh họ và muốn đóng góp một cái gì đó ở tượng đài tự do này,” ông Gonzales nói.

Ông hãnh diện nói: “Tôi từng là lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ở Việt Nam.”

Một cựu chiến binh Thủy Quân Lục Chiến khác là ông Ralph F. Yore, ở Westminster, nói: “Tôi đến đây để nhớ về những chiến hữu từng nằm gai nếm mật bên tôi ở Việt Nam mà tôi không bao giờ có thể gặp lại được. Đời lính vốn bấp bênh nhưng lại cũng vĩnh viễn.”

Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ còn là một biểu tượng mang giá trị tinh thần cho giới trẻ.

Ông Hồ Ngọc Minh Đức kể: “Chính tại chân tượng đài này, một thanh niên mới ở Việt Nam qua cho tôi hay chính cậu ta và gia đình, gồm mẹ và anh chị em, từng oán trách cha cậu là đi theo lính ‘ngụy’ làm chi để gia đình phải khổ sở. Cậu nói: ‘Qua đây cháu mới biết tại sao cha cháu lại là quân nhân và những khổ sở cùa gia đình cháu là quá nhỏ so với bao người khác.’”

Ông “Bull Dog” Jesse Gonzales làm nghi thức “American Eagle” trước bàn thờ tổ quốc tại buổi lễ. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Ông tiếp: “Cậu ấy khóc ngay tại đây và nói: ‘Bây giờ cháu mới hãnh diện vì cha cháu. Cha cháu đã cầm súng để bảo vệ tự do cho miền Nam Việt Nam.’”

Ông hạ giọng: “Cậu hỏi tôi: ‘Tại sao ở Việt Nam người ta không cho tụi cháu biết diều này?’”

Ông nói hùng hồn: “Tượng đài này không là biểu tượng cho công sức của chúng tôi mà chính là sự nhắc nhở ý nghĩa tự do cho con cháu chúng ta.”

Với mỗi người, tượng đài mang một ý nghĩa khác nhau.

Cô Sofia Đoàn, ở Huntington Beach, chia sẻ: “Trước đây, cháu từng nghĩ rằng ông bà cháu và bạn bè chỉ đến đây thương tiếc chế độ VNCH vì họ không thể hội nhập vào xã hội bên này. Nhưng sau khi về quê cha ở Đà Nẵng, cháu hiểu rằng tình quê hương đất nước là có thật và rất thiêng liêng. Là con người, không ai quên được quê hương.”

Cô thêm: “Với cháu, ngày Tết và Tháng Tư Đen là hai ngày rất Việt Nam. Phải là người gốc Việt mới thấm thía được cảm nhận này. Tượng đài này giúp cháu khẳng định điều đó.”

Anh Andrew Trương, ở Westminster, nói: “Lúc trước cháu chở ba cháu tới đây dự lễ tưởng niệm 30 Tháng Tư. Bây giờ ba cháu chết rồi và hôm nay cháu tới đây để tưởng niệm ngày mất VNCH thay cho ba cháu.”

Ông Phan Nghiệp Quân, cư dân Garden Grove, nói: “Mỗi năm, cứ đến ngày mất nước là tôi cùng bạn bè lại thấy đau lòng trước nỗi mất mát quá lớn lao. Đau lòng quá vì mối hận này không thể nào báo trả được. Năm nay tôi 86 tuổi và tôi không xứng đáng được phủ cờ tổ quốc khi qua đời.”

Hướng về lá cờ vàng, ông tiếp: “Nhờ tượng đài này, mình thấy đỡ tủi hơn nhiều lắm.”

Trong số dân cử có mặt tại buổi lễ có đại diện Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn (Địa Hạt 36) và Nghị Viên Westminster Carlos Manzo (Địa Hạt 2).

Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ vẫn âm thầm vượt mọi khó khăn suốt 20 năm qua để bảo vệ tượng đài cho người Việt hải ngoại.

Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ được khánh thành lúc 11 giờ sáng Chủ Nhật, 27 Tháng Tư, 2003. [đ.d.]

Liên lạc tác giả: [email protected]

Nhậu xỉn, du khách Úc ở Indonesia trần truồng rượt đánh dân địa phương

ACHE, Indonesia (NV) – Một du khách người Úc có thể ngồi tù và bị quất roi sau khi bị cáo buộc nhậu xỉn rồi trần truồng rượt đánh dân địa phương ở Indonesia, theo UPI hôm Thứ Bảy, 29 Tháng Tư.

Anh Bodhi Mani Risby-Jones, 23 tuổi, cư dân Noosa, Úc, bị bắt hôm Thứ Năm trên đảo Simeulue ở tỉnh Ache.

Anh Bodhi Mani Risby-Jones có thể ngồi tù tối đa năm năm và bị quất 40 roi. (Hình minh hoạ: Marvin Recinos/AFP via Getty Images)

Anh Risby-Jones bị cáo buộc vừa trần truồng chạy quanh ngôi làng gần khu nghỉ mát Lantik Moonbeach Resort vừa rượt đánh dân địa phương.

Anh còn bị cáo buộc xô chiếc xe gắn gắn máy trúng ông Edi Ron, ngư dân địa phương, làm ông bị thương. Ông Ron phải khâu 50 mũi và bị gãy xương.

Bà Eri Saljuana, vợ ông Ron, báo cáo anh Risby-Jones với cảnh sát, và dân làng đe dọa thiêu rụi khu nghỉ mát sau khi sự việc xảy ra.

Anh Risby-Jones xin lỗi, cho biết lúc đó anh “giống như bị ma ám.”

“Với tất cả những ai tôi đã bất kính và làm tổn thương, tôi thành thật xin lỗi, xin thứ lỗi cho tôi,” anh cho hay trong thông báo được gia đình anh công bố.

Anh Risby-Jones còn xin lỗi vì “làm xấu hổ” nước Úc, đồng thời mẹ anh tỏ mong muốn xin lỗi bà Saljuana.

“Lúc đó, tôi cảm thấy như không phải là tôi, giống như bị ma ám,” anh nói với đài ABC của Úc.

Tỉnh Ache sử dụng một vài điều khoản của luật Hồi Giáo, khác với luật ở hầu hết nơi khác của Indonesia.

Theo luật ở Ache, tội say xỉn hoặc ngoại tình có thể bị phạt bằng cách quất roi trước công chúng.

Theo dự trù, anh Risby-Jones sẽ ra tòa tuần tới, và nếu bị kết tội, có thể ngồi tù tối đa năm năm và bị quất 40 roi. (Th.Long) [đ.d.]

Phía trước là làng

LTS: Nhật báo Người Việt mở mục ‘Bạn đọc viết’ nhằm mời gọi quý thân hữu ‘cùng làm báo’ với Người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, hồi ức, kiến thức, kinh nghiệm,… về đời sống và xã hội. Để tham gia, quý bạn đọc vui lòng gởi email: [email protected]

Hạ Âu

Buổi trưa, đường làng vắng lặng. (Hình minh họa: Nguyễn Bá Trạc)

Ông Cư về làng sau năm mươi năm xa cách. Ông đi cùng con trai và vợ chồng con rể. Cậu con rể người Pháp, nói tiếng Việt bập bẹ. Cả ba dừng taxi trước cổng làng rồi đi bộ. Buổi trưa, đường làng vắng lặng. Có tiếng người mẹ ru con làm ông Cư không cầm được nước mắt. Tiếng ru như xói vào tâm trí ông, gợi nhớ về ông bao nhiêu là kỷ niệm:

Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Năm đó, làng đói lắm, mẹ ông ôm ba đứa con nhỏ đi tìm nhà dì Mùi tá túc. Cha ông đi làm ăn xa đã lâu không tin tức. Ba mẹ con vừa đi vừa tìm miếng ăn dọc đường, đồ ăn mang theo đã hết mà đường đến nhà dì Mùi còn xa. Rồi mẹ ông phải gửi ông, anh cả của hai người em mới lên ba và hai tuổi để dễ bề xoay sở. Hôm đó, cả ba đều đã đói lả, họ vào một ngôi nhà nọ trông có vẻ khá giả xin ăn. Chủ nhà, sau khi cho họ ăn thì nhận cu Tỵ (tên thủa nhỏ của ông Cư) ở lại. Năm đó, ông mười tuổi.

Cái đói năm Ất Dậu 1945 đã làm gia đình họ chia đàn xẻ nghé. Năm 1954, cha mẹ nuôi của ông di cư vào nam và năm 1975 thì ông di cư sang Mỹ. Năm nay, lần đầu tiên ông về lại quê nhà. Cơ duyên cho chuyến về quê này đến từ một buổi gặp mặt Kiều bào. Lần đó, ông cùng con gái tham dự buổi gặp mặt của đại sứ quán Việt Nam ở Pháp. Con gái ông lấy chồng người Pháp. Thỉnh thoảng có mời ông sang chơi, ông là người thân của khách mời nên cũng là khách mời hôm đó.

Làng Bè của ông nằm bên sông Mã, sở dĩ có tên làng Bè vì nhiều người trong làng làm nghề buôn bè. Hàng năm, sau những vụ mùa, họ rủ nhau lên miền ngược mua cây luồng kết thành bè rồi theo dòng sông Mã về xuôi. Làng Bè ít ruộng và phần lớn là ruộng xấu. Dân làng phần lớn ít học, cha ông cũng vậy, hơn mười tuổi đã biết đi bè. Lần đó, ông đi đã mấy tháng mà không về nhà, mẹ con ông phải dắt díu nhau lên nhà dì Mùi kiếm miếng ăn cho qua trận đói. Dì Mùi là chị gái của mẹ. Dì lấy chồng xa nhà, một gia đình gia thế có của. Số dì Mùi sướng. Mẹ ông hay nói thế. Ông ngoại có mẹ, hai dì và một cậu. Dì Mùi là con gái thứ, mẹ là con út. Năm 18 tuổi, dì Mùi ra thị xã bán hàng cho một chủ tiệm buôn người cùng làng. Cơ duyên đưa đẩy, gặp dượng Thân rồi nên duyên chồng vợ. Dượng Thân là người có học, bạn với con trai chủ nhà nơi dì Mùi làm thuê. Dì Mùi không đẹp nhưng có duyên lại hát hay, biết đọc, biết viết. Hôm đó, thấy dì Mùi đọc sách, dượng Thân bắt chuyện làm quen rồi tặng dì Mùi tập thơ của dượng. Họ tỏ ra tâm đầu ý hợp rồi nên duyên chồng vợ. Nhà dì Mùi ở làng Xuân Thi, một nửa làng là dân công giáo. Dượng là nhà thơ, nhà giáo, dạy ở trường huyện. Tập thơ đầu tay của dượng có tên Mơ Trưa…, dày 99 trang in hơn 90 bài thơ. Bài thơ mà ông Cư nhớ nhất là bài Mơ Trưa nói về một mong ước…

Cái đói năm Ất Dậu 1945 đã làm gia đình họ chia đàn xẻ nghé. (Hình minh họa: VN Express)

Sau này, ông Cư mới hiểu đó là lòng yêu nước thầm kín của dượng Thân gửi gắm vào thơ. Cái đói năm Dậu, nhiều người nhớ, nhưng với cậu bé Cư ngày đó, in đậm vào tâm trí ông là hình ảnh một đứa trẻ mới sinh nhìn người qua lại như van xin, nhưng không ai cưu mang nó được. Ai cũng đang lo cho bản thân mình. Nghe nói, sau này nó chết mà ánh mắt thì như xoáy vào những người đã bắt gặp nó. Về sau, cứ mỗi lần thấy trẻ con ăn xin là ông Cư cho tiền, dù đó là ai. Ông nói với con cháu: – Người ăn xin, dù thật hay giả đều là bất đắc dĩ. Về nhà mới, cậu bé Cư chăn trâu và được đi học. Gia đình này hiếm muộn. Họ tin rằng: “Nếu có con nuôi thì sẽ không hữu sinh vô dưỡng nữa.” Nên khi gặp mẹ con nhà cậu bé Cư, họ đặt vấn đề xin Cư làm con nuôi. Cũng may là Cư được người khác xin làm con nuôi, không thì cả ba mẹ con đều chết đói. Sau dịp đó, mẹ Cư có mấy lần đến thăm con, thấy con có cuộc sống tốt, thêm vào đó bà đã cam kết cho hẳn con, nên dù thương con thắt ruột cũng không thể chuộc con lại được. Cha mẹ nuôi của Cư sinh thêm một trai hai gái. Năm 1954, trước cải cách ruộng đất, để tránh bị đấu tố, họ dắt nhau di cư vào nam. Khi đi, Cư không kịp gặp mẹ và các em.

-Cây đa làng này bao nhiêu tuổi, ba?

Tiếng hỏi của cậu con rể làm cụ Cư trở về với thực tại. Năm đó, Cư cùng bạn chơi dưới gốc cây thì có một anh đến treo lên ngọn cây một lá cờ đỏ. Sau đó, anh bị bắt và bị xử ngay dưới gốc cây. Quanh gốc cây, bao kỷ niệm ùa về mà nhớ nhất là những lần chơi trận giả. Hai bên chia phe rồi ẩn nấp, ai gọi đúng tên đối phương thì người đó bị loại ra cuộc chơi, cứ thế, bên thắng là bên có người cuối cùng không bị phát hiện đúng danh tính hoặc nơi ẩn nấp.

-Cây đa này bao nhiêu tuổi, ba?

Cậu rể hỏi thêm lần nữa khiến cụ Cư dứt hẳn dòng hồi tưởng.

-Ba cũng không biết, chỉ biết khi lớn lên thì nó đã sừng sửng rồi.

Cây đa cách họ hai trăm mét nhưng đã thấy rõ mồn một. Bên gốc cây vắng bóng người. Họ nghỉ chân dưới gốc cây. Đường vào làng đã thay đổi nhiều, chỉ có cây đa là còn nguyên dáng cũ. Buổi trưa mùa xuân, trời se se lạnh. Họ tranh thủ ăn lót dạ. Tiếng gà gáy trưa gần đó. Một người đàn bà xuất hiện. Chị ta đi lại gần cây đa. Cụ Cư nhìn kỹ, một thanh nữ. Trời lạnh nhưng vẫn mặc váy, đi giày cao gót.

-Chị ơi, cho hỏi chút ạ?

-Vâng, bác cứ hỏi.

-Nhà ông Định gần đây không ạ?

-Bác hỏi Định nào? ở đây có ba người tên Định bác ạ.

-Là tôi hỏi ông Định khoảng hơn năm mươi tuổi.

Định mà ông Cư vừa nhắc là em giữa của ông Cư. Năm 1945, Định ba tuổi. Hai anh em sau dó không còn gặp nhau. Cụ Cư (Tỵ) thì còn nhớ em, nhưng em thì không còn nhớ anh được nữa. Cậu em út thì càng không.

Nhà ông Định ở cuối làng. Một mảnh vườn trồng rau và cây ăn trái như nhiều gia đình khác. Con sông Mã cách nhà hơn năm trăm mét. Những chiếc bè nằm bên bến. Nghề cũ của làng vẫn còn, ông Cư thầm nghĩ. Một người đàn ông dắt xe máy ra cổng thì gặp họ. Người dẫn đường giới thiệu: – Đây là anh Định mà bác cần tìm còn đây là ông Cư…

-Định, em đó ư? Anh là Tỵ đây mà…

Những dòng nước mắt không thể ngăn được chảy dàn dụa trên khuôn mặt đã nhiều nếp nhăn của ông Cư. Họ không nói được nhiều chỉ cầm tay rồi ôm nhau mà khóc. Hai người con của ông Cư nhìn họ không khỏi bồi hồi. Trong nhà, vợ con ông Định cũng đã kịp ra chứng kiến mà chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra. Giây phút bịn rịn cũng qua. Họ vào nhà. Một ngôi nhà gỗ xây kiểu mới. Trên bàn thờ là di ảnh của ba người. Ông Cư nhận ra bố, mẹ và ảnh của chính mình. Tấm ảnh của ông Cư chụp trước lúc vào Nam năm 1954, năm đó ông 19 tuổi, trước khi đi, như linh cảm điều gì, ông đã kịp gửi về cho mẹ. Tấm ảnh được nhanh chóng gỡ xuống.

-Mẹ mất hai mươi năm rồi anh ạ.

Trước khi mất, mẹ vẫn ấy náy là không biết anh có thực đã mất không? Năm 1975, bố mẹ có vào Nam tìm con nhưng thông tin nói, Cư vượt biên bị đắm tàu và mất ngoài biển. Họ đã lập bàn thờ cúng người đang còn sống.

-Sao bây giờ anh mới về?

Ôg Cư trở thành sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. (Hình minh họa: Nguyễn Đức Cung)

Nhiều nguyên nhân lắm em ạ. Vào Nam năm 1954, ông Cư trở thành sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Chuyện của họ cứ chắp nối trong nỗi niềm nghẹn ngào, mãi đến hơn năm giờ chiều thì mới tạm dứt. Lần này anh về làng, ngoài thăm anh em bà con, thắp hương tổ tiên ông bà cha mẹ ra thì anh còn có dự định gì nữa không? Định hỏi ông Cư khi hai người di dạo quanh làng.

-Anh tính thế này, anh sẽ xây lại nhà thờ ông bà để em ở nhà hương khói. Ngoài ra, anh định viết một cuốn sách có tựa đề là: “Phía trước là làng.” Tự truyện em ạ. Có câu nói của một danh nhân như thế này: cái đích đến của những người ra đi là quê nhà. Anh đi đã bao nhiêu năm rồi, thỉnh thoảng anh nằm mơ về làng, tỉnh dậy lại bồi hồi. Bây giờ, anh đã về rồi nhưng làng trong anh vẫn còn có khoảng cách…

Ông Cư trả lời mà không biết mình đang đi trên con đường năm xưa ông cùng mẹ dắt díu nhau đến nhà dì Mùi nhờ cứu đói… đã bao nhiêu năm rồi, cái trận đói lịch sử đó vẫn còn ám ảnh ông.

‘Những Tù Khúc Tháng Tư’ tưởng niệm Tháng Tư Đen

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Viện Việt Học, Westminster, vừa tổ chức buổi văn nghệ chủ đề “Những Tù Khúc Tháng Tư” vào Chủ Nhật, 16 Tháng Tư, gần dịp 48 năm ngày Sài Gòn thất thủ, miền Nam Việt Nam bị rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt, 30 Tháng Tư, 1975 – 30 Tháng Tư, 2023.

Ban văn nghệ Việt Việt Học đồng ca bài “Chuyến Tàu Về Nam” của Việt Long tại buổi văn nghệ “Những Tù Khúc Tháng Tư” ở Viện Việt Học, Westminster. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Cô Nguyễn Kim Ngân, giám đốc Viện Việt Học, cho biết: “Nhân kỷ niệm lần thứ 48 ngày 30 Tháng Tư sắp đến, chúng tôi xin giới thiệu đêm văn nghệ đặc biệt, qua chủ đề ‘Những Tù Khúc Tháng Tư,’ để tưởng niệm dân quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) từng bị giam cầm và có một số đã chết trong các trại tù Cộng Sản, sau ngày miền Nam Việt Nam bị mất.”

“Đây cũng là dịp để bày tỏ và lòng biết ơn của các thế hệ tiếp nối đối với những người đã một thời vì đại cuộc cùng đứng chung trong một chiến tuyến để bảo vệ nền tự do, dân chủ cho đồng bào miền Nam Việt Nam,” cô Kim Ngân chia sẻ thêm.

Theo ban tổ chức, biến cố đau buồn của dân tộc vào cuối Tháng Tư, 1975, mang đến sự mất mát, đau lòng của dân tộc, vì hơn nửa triệu người đã bị Cộng Sản đưa vào các trại tập trung rộng lớn trên khắp ba miền đất nước. Các thân phận tù nhân không có bản án, không ghi rõ ngày về. Rồi cũng từ những trại tù đó, những “Tù Khúc” được ra đời theo năm tháng buồn trôi. Và ban tổ chức gọi những dòng nhạc đó là “Những Tù Khúc Tháng Tư.”

Điều hợp chương trình với cô Kim Ngân là cựu tù Tạ Quang Hoàng. Ông là một nhân chứng tại trại tù ở Nam Hà, Bắc Việt.

Nhà văn Tạ Quang Hoàng đã xuất bản vài quyển sách. Sách của ông đúc kết nhiều tù khúc, nhiều truyện kể từ trại tù Nam Hà. Những tác phẩm này được do những tù binh lúc còn bị giam cầm ở những trại tù của Cộng Sản Việt Nam sáng tác.

Ca sĩ Hương Thơ trình diễn bài “Người Tù Khổ Sai” của Nguyễn Văn Tấn. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Ông nói: “Những ‘Tù Khúc Tháng Tư’ gồm những ca khúc để cho các anh em tù nhân sống trong trại tập trung được bày tỏ sự uất hận của họ, nhưng cũng tạo những niềm vui của thân phận tù đày, đồng thời cũng cho các anh có hy vọng, một niềm tin vào sự tranh đấu cuối cùng của lẽ phải. Thế nên, cũng từ những tù khúc này, anh em đã an ủi, nhắc nhở nhau về việc giữ gìn sức khỏe để vượt qua những khó khăn trong cảnh tù đày.”

Chương trình mở đầu với bài “Anh Ở Đây” của Thục Vũ (cựu Trung Tá Vũ Văn Sâm), qua tiếng hát của Ngọc Quỳnh. Bài nhạc có nội dung bày tỏ tình yêu thương của những bạn tù dành cho gia đình và người thân.

Bài “Mưa Buồn Long Giao” được phổ thơ của thi sĩ Hà Thượng Nhân, cựu giám đốc Đài Phát Thanh Quốc Gia, dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến, cơ quan chính thức của Quân Đội VNCH. Bài thơ này được nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, một nhạc sĩ nổi tiếng trước 1975, chuyên soạn những bài thánh ca và hùng ca, soạn thành ca khúc. Cả hai nghệ nhân này đều mang cấp bậc trung tá VNCH.

Bài “Mưa Buồn Long Giao” được tiếp nối chương trình qua tiếng hát Chế Tùng.

Quý Hà bùi ngùi xúc cảm khi hát bài “Thành Phố Lá Me Xanh” qua những ca từ “Không bao giờ quên được thành phố thân yêu/Hàng me xanh phủ mãi bao con đường/Trời gió rắc lá me rơi trên tóc/Bối rối tơi bời, lộng lẫy như ngàn hoa bướm… “

Cô Nguyễn Kim Ngân (trái), giám đốc Viện Việt Học, và cựu tù Tạ Quang Hoàng tại buổi văn nghệ “Những Tù Khúc Tháng Tư” ở Viện Việt Học, Westminster. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Nhạc sĩ Trần Lê Việt, cũng là một tù nhân, soạn bài nhạc này vào năm 1980 tại trại tù Vĩnh Quang (Vĩnh Phú), qua nỗi buồn của tác giả nhớ về hình ảnh của những hàng cây me trên đường phố Sài Gòn. Khi đến trại tù Z30B, Xuân Lộc, tác giả đã cùng những bạn tù đã soạn nhiều ca khúc, và họ đã lén lút thành lập Nhóm Hát Tù Ca.

“Tâm Sự Người Lính Biệt Động Quân” của Vũ Cao Hiến, qua phần tứ ca bao gồm Quý Hà, Ái Liên, Ngô Hoàng Oanh, và Ngọc Quỳnh, ghi lại hình ảnh hành quân của những người lính trẻ Biệt Động Quân với chiếc ba lô và cây súng, canh giặc ngày đêm bên chiến hào. Từ tiền tuyến, đôi khi những người lính trẻ nhớ về đôi mắt người yêu tại hậu phương xa xôi lắm.

Những bài tiếp nối cũng từ những cựu tù nhân sáng tác tại trong tù như những bài: “Nhớ Không Gian” của Vũ Cao Hiến (Ngô Hoàng Oanh hát), “Chiều Yên Bái” của Chung Tử Bửu (Ái Liên hát), “Người Tù Khổ Sai” của Nguyễn Văn Tấn (Hương Thơ hát), “Chúa Nhật Của Người Tù” của Trần Ngọc Phong (Lâm Dung hát), “Đôi Giày Dũng Sĩ” của Nguyễn Hồng (Trần Tuấn Hải hát), “Xin Làm Cỏ Biếc Vướng Chân Em Đi” thơ Hà Thượng Nhân, nhạc Vũ Đức Nghiêm (Bùi Khanh hát), và “Cơn Mưa cam Lộ” của Vũ Cao Hiến (Chế Tùng hát).

Ngoài ra, có những bài nhạc không do tù nhân soạn, nhưng cũng xuất phát từ lòng ray rứt, đau khổ của họ, và họ đã chia sẻ những nỗi uất hận đó cho những nhạc sĩ sáng tác thành ca khúc.

Dòng nhạc của nhạc sĩ Phan Văn Hưng được xuất hiện sau 1975, tác giả đã sáng tác nhiều bài nhạc được xem như loại nhạc “Căm Phẫn Ca” nói lên nỗi đau thương của quê hương, dân tộc.

Chế Tùng hát bài “Mưa Buồn Long Giao,” thơ Hà Thượng Nhân, nhạc Vũ Đức Nghiêm. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Bài nhạc “Nếu Em Nghe Bài Hát Này” do nhạc sĩ Phan Văn Hưng soạn, phỏng theo thơ của Nam Dao, cũng là người bạn đời của nhạc sĩ. Lời bài thơ là của người tù gởi về cho vợ mình trong cơn hấp hối tại trại tù. Lâm Dung đã nức nở trong những ca từ: “Nếu em nghe qua bài hát này/Thì anh đã khuất theo rặng đường mây/Nếu em nghe những lời giã từ/Thì xin đôi mắt ngưng đọng mùa thu…”

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn đã đóng góp nhiều sáng tác văn học nghệ thuật dưới dạng tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch nói, bút ký. Tác phẩm “Áo Mơ Phai” của ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật VNCH 1973. Sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975, ông bị đi tù hết 10 năm qua nhiều trại tù.

Bài “Hãy Thắp Cho Nhau Một Ngọn Đèn” do nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn sáng tác từ trại tù gởi về cho vợ của mình, như một lời nhắn nhủ với gia đình và các bạn tù, hãy sống với ý chí phấn đấu trong mọi hoàn cảnh. Ca sĩ Hương Thơ hát bài này với âm thanh đệm đàn guitar của Phạm Tú.

Ngoài tiết mục ca nhạc, nhà thơ Nguyên Dzuy, cũng là một cựu tù, đọc bài thơ “Tù Khúc Điểm Nhạc Tháng Tư Đen:” “Tù nhân khốn khổ bốn phương trời/Khúc nhạc bi ai lạnh buốt người/Điểm lại tù đày lòng uất hận/Nhạc rừng trỗi dậy đưa hồn nước/Tháng Tư năm ấy nhớ muôn đời/Tư liệu khổ sai tù tập thể/Đen màu tang tóc khổ buồn rơi.”

Bài “Hai Hàng Cây So Đũa” thơ của nhà báo Nguyên Huy, nhạc của Trọng Minh, được trình bày qua tiếng hát Minh Hòa.

Minh Hòa kể lại: “Khoảng năm 1980, nhiều trại tù miền Bắc được dời về miền Nam. Bài nhạc này là được viết từ trại tù Z30A, Long Khánh. Lúc đó, tôi là vợ của tù nhân Nguyễn Chí Việt cùng những người phụ nữ khác đi trên chiếc xe Lambro chở khách để mang thực phẩm cho thân nhân của mình đang bị ở tù. Hai bên đường vào trại tù này có hai hàng cây so đũa. Lúc đó, vợ của tù nhân Nguyên Huy có mang hai đứa con lên thăm anh trong trại tù. Sau đó anh Nguyên Huy mới sáng tác bài thơ ‘Hai Hàng Cây So Đũa,’ và người bạn tù là nhạc sĩ Trọng Minh đã soạn bài thơ này thành ca khúc.”

Minh Hòa trình bày “Những Hàng Cây So Đũa,” thơ Nguyên Huy, nhạc Trọng Minh. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Bài nhạc “Thăm Nuôi” kể lại câu chuyện của người con gái đi thăm anh ruột mình trong trại tù, thì gặp một tù nhân trẻ cũng là bạn tù của anh. Rồi từ cơ duyên nào đó, họ đã yêu nhau và trở thành đôi vợ chồng khi chàng được ra khỏi tù. Người cựu tù may mắn có được người vợ trẻ đẹp đó chính là nhạc sĩ tù ca Nguyễn Văn Tấn. Ông đã đóng góp cho chương trình văn nghệ đặc biệt này hai bài nhạc “Thăm Nuôi” và “Người Tù Khổ Sai,” được ông sáng tác lúc còn ở trại tù Nam Hà.

Bài nhạc “Thăm Nuôi” tiếp tục chương trình với tiếng hát của Trần Tuấn Hải.

“Chuyến Tàu Về Nam” của Việt Long, tức cựu tù Nguyễn Chí Việt, cựu đại úy Nhảy Dù. Tác giả viết theo kỷ niệm của chuyến tàu đưa những tù nhân được trả tự do đi từ miền Bắc về miền Nam, và ông cũng là một trong những cựu tù đó. Khi đến miền Nam, tàu dừng tại trạm để cho khách trên tàu mua thức ăn. Khi biết được trên tàu chở những tù nhân được thả về, mấy em nhỏ bán hàng rong cho họ thức ăn mà không lấy tiền, vì trong số các em này có nhiều em là con cháu của những cựu quân nhân VNCH.

Hoạt cảnh thứ hai là có một ông tật nguyền với đôi nạng gỗ. Người đàn ông này là cựu chiến sĩ VNCH bị mất một chân trên chiến trận. Ông biết trên chuyến tàu này chở toàn những cựu sĩ quan của VNCH, trong đó, có thể có những đơn vị trưởng của mình ngày xưa. Cựu chiến sĩ thương phế binh VNCH bỏ đôi nạng trên tay và đứng thẳng một chân, rồi đưa tay chào kính những tù nhân đó. Cho đến khi chuyến tàu khuất dạng thì người thương phế binh mới bỏ tay xuống.

Cựu tù nhạc sĩ Nguyễn Văn Tấn và vợ. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Cũng từ những bối cảnh cảm động đó, cựu tù Nguyễn Chí Việt đã soạn ra ca khúc “Chuyến Tàu Về Nam” và lấy bút hiệu Việt Long là tên con trai mình. Bài nhạc này do toàn ban văn nghệ Việt Việt Học đồng hát, kết thúc chương trình.

Trong số đồng hương đến dư, cựu tù Trần Chương Lương, tức nhà thơ Tha Nhân, kể lại với phóng viên nhật báo Người Việt: “Chúng tôi bị các cán bộ giữ tù cho biệt danh là ‘500 Thằng Lười’ trong trại tù Cây Cầy A, thuộc tỉnh Tây Ninh. Sở dĩ chúng tôi có biệt danh này là lúc chúng tôi đi tù, mà cộng sản còn gọi là đi cải tạo. Thật ra họ đâu cải tạo chúng tôi được, và chỉ bắt anh em chúng tôi đi làm công tác lao động để phục vụ cho các cán bộ trại tù mà thôi. Nhưng vì anh em chúng tôi đi lao động không hết mình, và nhiều khi chúng tôi còn chống đối, nên họ mới đặt cho chúng tôi biệt danh là ‘500 Thằng Lười.’”

Cựu tù Phạm Gia Đại, một trong những tù nhân cuối cùng sống trong cảnh tù đày 17 năm, với những đau thương, mất mát suốt những năm dài, đã ghi lại tất cả những gì ông trải qua trong cuốn hồi ký “Những Người Tù Cuối Cùng,” xuất bản năm 2011.

Ông tâm tình với nhật báo Người Việt: “Mỗi lần Tháng Tư trở về thì tôi cảm thấy bồi hồi, xúc động và đau đớn khi nhìn thấy đất nước của chúng ta quá bi đát và chịu nhiều khổ nạn, không biết đến bao giờ thì chấm dứt những khổ nạn đó. Nhưng dù sao, chúng ta cũng cầu nguyện Ơn Trên, một ngày nào đó, chúng ta sẽ được trở lại quê hương mình để xây dựng lại nền tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam.”

Đông đảo đồng hương tham dự buổi văn nghệ “Những Tù Khúc Tháng Tư” tại Viện Việt Học, Westminster. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Theo ban tổ chức, có thể từ những ‘Tù Khúc Tháng Tư’ sẽ tạo nên dòng nhạc tù. Những dòng nhạc tù khác với những dòng nhạc ngoài đời, vì những bài tù ca nói lên những uất ức, những phản kháng nào đó, được xuất hiện trong một không gian và thời gian nhất định.

Không gian là các trại tù, còn thời gian là vào khoảng Tháng Sáu, 1975 cho đến Tháng Năm, 1992, tức là lúc chỉ còn 20 người tù cuối cùng, trong đó có Tướng Lê Minh Đảo. Có thể sau này, có những tù khúc khác được ra đời, bởi vì một số cựu tù được về với gia đình, nhớ lại những sự đau lòng, mất mát, uất hận lúc còn ở trong tù, rồi soạn thành ca khúc. [đ.d.]

Quan hệ tình dục bằng miệng gây ra ‘dịch’ ung thư họng ở Mỹ

WASHINGTON, DC (NV) – Quan hệ tình dục bằng miệng là yếu tố lớn nhất làm bệnh ung thư họng gia tăng ở Mỹ, bác sĩ cho hay, theo tạp chí People hôm Thứ Sáu, 28 Tháng Tư.

Bác Sĩ Hisham Mehanna, giáo sư Viện Khoa Học Hệ Gene và Ung Thư thuộc đại học University of Birmingham ở Anh, cho biết, ung thư hầu họng (oropharyngeal cancer), một loại ung thư họng, “tăng nhanh” trong 20 năm qua. Ông Mehanna gọi tình trạng này là “dịch” ở cả Mỹ lẫn Anh.

Quan hệ tình dục bằng miệng gây ra “dịch” ung thư họng ở Mỹ và Anh. (Hình minh họa: Womanizer Toys/Unsplash)

Hầu họng là phần giữa của họng và phía sau mũi.

“Với ung thư hầu họng, yếu tố chính gây rủi ro là số lượng bạn tình trong đời, nhất là quan hệ tình dục bằng miệng,” ông Mehanna viết cho báo mạng The Conversation. “Người nào có ít nhất sáu bạn tình quan hệ tình dục bằng miệng thì rủi ro mắc ung thư hầu họng cao gấp 8.5 lần người không quan hệ tình dục bằng miệng.”

Theo Trung Tâm Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC), 70% ca ung thư hầu họng ở Mỹ là do virus HPV (human papillomavirus) gây ra.

HPV là bệnh lây lan do quan hệ tình dục phổ biến nhất. Mỗi năm, Mỹ có thêm 3 triệu ca HPV. Nhiều người vẫn sống mà không bao giờ biết họ bị HPV, nhưng với một số người, HPV có thể gây ra ung thư.

Từ năm 2015 tới 2019, ở Mỹ, số ca ung thư hầu họng liên hệ với HPV tăng mỗi năm 1.3% ở nữ và 2.8% ở nam, theo Hội Ung Thư Hoa Kỳ.

Mặc dù người bị HPV thường “khỏi bệnh hoàn toàn,” nhưng có người bị triệu chứng trầm trọng, Bác Sĩ Mehanna cho hay.

“Một số người không thể loại bỏ căn bệnh này, có lẽ do hệ miễn dịch bị sai sót gì đó,” ông Mehanna giải thích. “Với những bệnh nhân đó, virus này có thể sinh sản liên tục, rồi qua thời gian, xâm nhập ngẫu nhiên DNA của họ và có thể làm tế bào bị ung thư.”

Thông thường, phải mất nhiều năm sau khi nhiễm HPV thì bệnh nhân mới bị ung thư, CDC lưu ý. CDC cho biết họ cũng chưa rõ một mình HPV đủ gây ung thư hầu họng không, hay những yếu tố khác – như hút thuốc – kết hợp với HPV gây ra ung thư này. (Th.Long) [đ.d.]

Nội chiến Việt Nam: Cộng đồng tỵ nạn & câu chuyện 48 năm lưu vong

Nội chiến Việt Nam: Cộng đồng tỵ nạn & câu chuyện 48 năm lưu vong
Sau 48 năm, nhìn lại biến cố 30-4, Lê Bích Trâm phỏng vấn hai vị Giáo sư Tiến sĩ Tường Vũ (giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu về Người Mỹ gốc Việt và Khoa Trưởng Chính Trị Học tại đại học University of Oregon) cùng với Tiến sĩ Alex-Thái Đình Võ (Trung Tâm Việt Nam Học, đại học Texas Tech University). Những câu hỏi ray rứt xưa và nay: Chiến tranh Việt Nam có phải là nội chiến; tại sao Nam Hàn còn, mà miền Nam Việt Nam mất; sự bức tử của QLVNCH; cộng đồng người Mỹ gốc Việt có nên “hoà hợp hoà giải” với Đảng CSVN hay không; tương lai nào cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt…

Đi bốc mộ chồng – Thơ đpthơ

Đi bốc mộ chồng – Thơ đpthơ

Anh tù biệt giam vì anh thua trận/ Chẳng có thư từ cũng chẳng có tin. (Hình: Triết Trần)

Thân tặng những thiếu phụ có chồng bị tù tội
chết trong các “trại tù cải tạo” sau 30-04-1975

Anh tù biệt giam vì anh thua trận
Chẳng có thư từ cũng chẳng có tin
Anh chết mấy năm hôm nay tin báo
Đi nhận xác chồng chắc chỉ nhận xương

Một đời vì nước hy sinh
Bị vùi bị dập chôn bìa rừng sâu
Hôm nay em đến mộ anh
Em bốc mộ anh em mang anh về
Gần vợ gần con anh hết cô đơn

Gió ngừng không thổi lúc chạm xương anh
Cây lá lặng buồn như đang cầu nguyện
Đây tấm thẻ bài anh giữ cho em
Em úp lên ngực tìm hơi ấm cũ
Của anh ngày trước anh chuyền sang em

Dế ở dưới mộ dế lên
Sao dế ở lại dế ở chung quanh
Nhìn em dế bỗng gáy to
Nghe như quân nhạc lính mình ngày xưa
Tiễn người vị quốc vong thân
Em không còn ngửi thấy mùi đất chôn
Sao em ngửi thấy hơi anh
Ở trong gió rừng quanh quẩn bên em
Hay anh hiển linh anh về
Rượu em không có sao mà lại say
Rừng già trong cõi rừng sâu
Sao em lại thấy căn nhà mình xưa

Fountain Valley 04/21/2023


LTS: Nhằm mục đích tạo thêm tình thân ái giữa bạn đọc và tòa soạn, nhật báo Người Việt trân trọng kính mời quý bạn đọc, thân hữu tham gia “Vườn Thơ Người Việt,” bằng tất cả mọi thể loại thơ. Xin gửi về địa chỉ email: [email protected], hoặc “Vườn Thơ Người Việt” 14771 Moran Street, Westminster, CA 92683


 

Napoli có thể giành danh hiệu ở sân nhà mang tên Maradona

NAPLES, Ý (NV) – Câu lạc bộ bóng đá Napoli của Ý có thể có cơ hội giành chức vô địch Serie A đầu tiên kể từ những ngày Diego Maradona khoác áo đội, trước người hâm mộ vào Chủ Nhật này tại sân nhà, được đặt theo tên của cầu thủ tiêu biểu nhất của câu lạc bộ, theo AP, ngày 28 Tháng Tư.

Liên Đoàn Bóng Đá Ý thông báo vào Thứ Sáu rằng trận đấu của Napoli với đối thủ khu vực Salernitana ban đầu dự kiến vào Thứ Bảy sẽ được diễn ra vào lúc 3 giờ chiều Chủ Nhật, 30 Tháng Tư.

Cầu thủ Giacomo Raspadori của Napoli ghi bàn thắng đầu tiên trong trận đấu với Juventus tại sân vận động Allianz Stadium, Turin, Ý, hôm 23 Tháng Tư. (Hình minh họa: Valerio Pennicino/Getty Images)

Điều đó có nghĩa là nếu đội nhì bảng Lazio không thắng Inter Milan trong trận đấu trước đó trong ngày, Napoli sẽ giành chức vô địch với sáu vòng đấu còn trống nếu thắng trên sân nhà.

Việc lên lịch trình được thực hiện theo yêu cầu của chính quyền ở Naples nhằm duy trì an toàn công cộng trong thành phố, bằng cách tập trung các lễ kỷ niệm ban đầu bên trong sân vận động trong trường hợp đội chủ nhà có danh hiệu.

Maradona đã dẫn dắt Napoli hai lần duy nhất đoạt chức vô địch Serie A năm 1987 và năm 1990 tại nơi trước đây được gọi là Stadio San Paolo.

Sân vận động đã được đổi tên thành Stadio Diego Armando Maradona khi siêu sao bóng đá thế giới người Argentina qua đời hai năm rưỡi trước.

Napoli bước vào cuối tuần với 17 điểm trước Lazio.

Ngoài ra, trận đấu tiếp theo của Napoli tại Udinese đã được chuyển từ Thứ Ba sang Thứ Năm.

Stadio Diego Armando Maradona là sân vận động lớn thứ tư tại Ý, sau các sân San Siro ở Milan, sân Stadio Olimpico ở Rome, và sân San Nicola ở Bari.

Tại Thế Vận Hội Mùa Hè 1960, Stadio Diego Armando Maradona là nơi diễn ra các trận bóng đá vòng loại.

Hiện nay, sân này được sử dụng chủ yếu cho các trận bóng đá và là sân nhà của câu lạc bộ Napoli.

Lối chính vào sân vận động Stadio Diego Armando Maradona, Naples, Ý, có hình cố danh thủ Maradona. Napoli có thể đoạt chức vô địch Serie A tại sân này vào Chủ Nhật. (Hình: Carlo Hermann/AFP via Getty Images)

Được xây dựng năm 1959, sau đó nâng cấp toàn bộ hồi năm 1989 để chuẩn bị cho World Cup 1990. Năm 2018, sân vận động này được nâng cấp một lần nữa.

Stadio Diego Armando Maradona có sức chứa chính thức là 60,240 chỗ ngồi, nhưng sau này mở rộng thêm và có thể chứa được gần 90,000 người xem bóng đá. (KV) [đ.d.]

Mỹ rút khỏi Hiệp Hội Quyền Anh Quốc Tế do Nga lãnh đạo

COLORADO SPRINGS, Colorado (NV) – Quyền Anh Hoa Kỳ, cơ quan quốc gia quản trị môn thể thao này trong nước, vừa chấm dứt tư cách thành viên của Hiệp Hội Quyền Anh Quốc Tế (IBA) do Nga lãnh đạo vào Thứ Tư, 26 Tháng Tư, do tổ chức này không giải quyết được các vấn đề mà Ủy Ban Olympic Quốc Tế (IOC) của IBA đã xem xét, theo đó công nhận bị đình chỉ vào năm 2019, theo CNN Sports.

USA Boxing, từng là thành viên của IBA và các tổ chức tiền thân của nó từ năm 1946, thông báo kế hoạch đăng ký làm thành viên của World Boxing, một liên đoàn ly khai được thành lập ở Thụy Sĩ vào đầu tháng này.

Ryan Garcia (trái) đấu quyền anh với võ sĩ Gervonta Davis tại T-Mobile Arena, Las Vegas, Nevada, hôm 22 Tháng Tư. (Hình minh họa: Al Bello/Getty Images)

“IBA không tuân theo sứ mệnh đã nêu của mình là thúc đẩy, hỗ trợ và quản trị môn thể thao quyền anh trên toàn thế giới,” ông Mark McAtee, giám đốc điều hành USA Boxing, viết trong một lá thư gửi cho các thành viên. “(IBA đã) coi thường Hiến Pháp, chính sách và quy trình đã công bố của chính mình, đã công khai bất chấp phán quyết của Tòa Án Trọng Tài Thể Thao (CAS), và đã liên tục thất bại trong việc ưu tiên nhu cầu của các võ sĩ.”

IOC đã đình chỉ IBA vào năm 2019 sau khi một báo cáo bị xử phạt về hoạt động thể thao của IBA khuyến nghị rằng tổ chức này bị đình chỉ quyền tổ chức giải đấu quyền anh tại Thế Vận Hội 2020 vì “sự nghiêm trọng đang diễn ra của các vấn đề trong lĩnh vực tài chính, quản trị, đạo đức, trọng tài và phán xét.”

Và hệ quả là một nhóm đặc nhiệm của IOC đã điều hành vòng loại cho Olympic Tokyo 2020, với bối cảnh tương tự sẽ diễn ra tại Thế Vận Hội Paris 2024.

CNN đã liên lạc với IOC để xin bình luận nhưng không nhận được trả lời ngay lập tức.
USA Boxing quyết định không cử bất kỳ vận động viên nào tham dự giải vô địch thế giới năm 2023 do IBA tổ chức vì một số lý do, bao gồm “sự tham gia của các vận động viên dưới những lá cờ bị trừng phạt” và “tuyên bố sai sự thật và phóng đại từ lãnh đạo IBA.”
Các vận động viên Nga và Belarus được phép thi đấu dưới lá cờ của họ tại giải vô địch thế giới dành cho nữ ở New Delhi, Ấn Độ, vào Tháng Ba và sẽ có thể thi đấu tại giải nam ở Tashkent, Uzbekistan, vào Tháng Năm.

IBA hôm Thứ Năm, 27 Tháng Tư, thừa nhận trong một thông cáo báo chí cái mà họ gọi là “sự từ chức” của USA Boxing khỏi tổ chức, nói rằng hành động này “làm tổn thương tất cả các chi nhánh của họ, những người giờ đây sẽ không thể tham gia các cuộc thi thành viên của IBA hoặc chi nhánh” và “tước quyền cộng đồng quyền anh nói chung khỏi thi đấu cùng nhau.”

Quyền Anh Thế Giới, một liên đoàn quốc tế mới, đã được thành lập vào ngày 13 Tháng Tư, mà theo họ nói là một hành động nhằm cố gắng bảo vệ vị thế của quyền anh như một môn thể thao Olympic. Theo nhiều báo cáo, ông Tyson Lee, chủ tịch USA Boxing, và ông Matthew Holt, lãnh đạo quyền anh của Anh, đều nằm trong hội đồng tạm thời của tổ chức này.

Nữ võ sĩ Saltanat Medenova (phải) của Nga đấu với nữ võ sĩ Emma-Sue Greentree của Úc trong một trận quyền anh do IBA tổ chức tại New Delhi, Ấn Độ, hôm 17 Tháng Ba. (Hình minh họa: Arun Sankar/AFP via Getty Images)

Tổ chức này cho biết họ có kế hoạch tổ chức bầu cử chủ tịch thường trực và các thành viên hội đồng quản trị vào Tháng Mười Một.

IBA cũng mô tả Quyền Anh Thế Giới là một “tổ chức lừa đảo” khi tổ chức này ra mắt, trước khi gửi đơn khiếu nại chính thức tới Đơn Vị Liêm Chính Độc Lập Quyền Anh (BIIU) chống lại những người liên quan đến việc thành lập tổ chức này. BIIU được mô tả trên trang web của IBA là “đơn vị hoạt động độc lập chịu trách nhiệm giải quyết tất cả các vấn đề về đạo đức và kỷ luật.” (KV) [đ.d.]

3 công nhân nhà máy Volkswagen ở Tennessee bị xe tông, 1 người chết

CHATTANOOGA, Tennessee (NV) – Ba công nhân nhà máy Volkswagen ở Chattanooga, Tennessee, bị xe tông trên lối đi bộ ngay bên ngoài nhà máy sáng sớm Thứ Bảy, 29 Tháng Tư, theo AP.

Một trong ba công nhân này thiệt mạng, một người bị thương nặng và người còn lại bị thương không nguy hiểm tính mạng, điều tra viên cho hay.

Logo Volkswagen tại nhà máy chính của hãng này ở Wolfsburg, Đức. (Hình minh họa: Yann Schreiber/AFP via Getty Images)

Cảnh sát chưa biết lý do chiếc xe nêu trên lạng ra khỏi đường rồi lao lên lối đi bộ trong khu vực xung quanh nhà máy khoảng 5 giờ 40 phút sáng Thứ Bảy, Sở Cảnh Sát Chattanooga ra thông báo cho biết.

Volkswagen cho hay không công nhân nào khác gặp nguy hiểm, và hãng xe hơi Đức này quyết định dừng sản xuất tại nhà máy sau tai nạn.

Giới chức chưa công bố danh tánh ba nạn nhân cũng như tài xế chiếc xe đó. Cảnh sát đang điều tra sự việc. (Th.Long) [đ.d.]

Vài tuần sau mưa lớn và tuyết, California bắt đầu mùa cháy rừng

LOS ANGELES, California (NV) – Chỉ khoảng năm tuần sau trận mưa lớn và tuyết rơi cuối cùng của mùa Đông mưa kỷ lục vừa qua, lính cứu hỏa phải đối phó với đám cháy rừng lớn nhất California từ đầu năm nay ở vùng đồi gồ ghề phía Đông Los Angeles hôm Thứ Sáu, 28 Tháng Tư, theo Reuters.

Kể từ khi bùng lên hôm Thứ Tư, đám cháy Nob thiêu rụi khoảng 200 mẫu bụi cây cỏ trong Rừng Quốc Gia San Bernardino, và tính tới tối Thứ Năm, lính cứu hỏa chế ngự được 25%, Cơ Quan Bảo Vệ Rừng Hoa Kỳ (USFS) loan báo.

Nhiều cơ quan phối hợp đối phó đám cháy rừng trong Rừng Quốc Gia San Bernardino ở Big Bear, California, hôm 27 Tháng Tư. (Hình: Facebook US Forest Service)

Đám cháy Nob không gây nguy hiểm tức thì cho khu dân cư vì xảy ra trên vùng đồi cao ở sâu trong rừng, bà Lyn Sieliet, phát ngôn viên USFS, cho hay. Nguyên nhân đám cháy đang được điều tra.

Đám cháy này vẫn còn nhỏ so với những đám cháy rừng dữ dội ở California mấy năm gần đây, thiêu rụi hàng trăm ngàn mẫu, tàn phá cả cộng đồng, và khiến cư dân di tản hàng loạt.

Tuy nhiên, đám cháy Nob là đám cháy rộng 100 mẫu trở lên đầu tiên trong năm 2023, báo hiệu mùa cháy rừng có thể khốc liệt mùa Hè và mùa Thu năm nay. Mấy tuần qua, chuyên gia cảnh báo mưa nhiều hồi mùa Đông làm cây cỏ mọc um tùm nhưng tới mùa Hè sẽ chết khô, biến thành thảm nhiên liệu khổng lồ cho cháy rừng.

Tuy nhiên, mưa nhiều cũng làm tăng độ ẩm trong bụi cây, làm cây cối khó bị cháy hơn vào đầu mùa cháy rừng.

Tính tới Tháng Tư năm ngoái, tức sau ba năm hạn hán khắc nghiệt, California có trên một chục đám cháy rừng lớn, theo nhật báo The Los Angeles Times, dẫn dữ liệu Cơ Quan Cứu Hỏa và Bảo Vệ Rừng California (CalFire).

Đám cháy Nob ở San Bernardino County xảy ra giữa lúc nhiều khu vực vùng thấp miền Trung California chuẩn bị đối phó với rủi ro lũ lụt do tuyết trên núi Sierra Nevada tan nhanh.

Theo chuyên gia khí tượng, thời tiết đang nóng lên, làm tuyết tan nhanh sau khi đợt bão mùa Đông gây ra mưa lớn và tuyết dày ở California từ cuối Tháng Mười Hai năm ngoái tới cuối Tháng Ba năm nay. (Th.Long) [đ.d.]

Sở Thuế IRS tuyển đặc vụ không ngại ‘dùng vũ lực chết người’

WASHINGTON, DC (NV) – Sở Thuế IRS loan báo cần tuyển đặc vụ không ngại “dùng vũ lực chết người” nếu cần, lương có thể gần $95,000 một năm.

Điều Tra Hình Sự, ban công lực IRS, đang tuyển đặc vụ khắp nước Mỹ có thể kết hợp “kỹ năng kế toán với kỹ năng công lực để điều tra tội ác tài chính,” theo thông báo tuyển dụng trên trang web IRS.

Đặc vụ IRS được quyền mang súng. (Hình minh họa: Kena Betancur/AFP via Getty Images)

“Đặc vụ là nhân viên công lực có tuyên thệ, được huấn luyện ‘theo dõi tiền bạc,’” IRS cho hay.

Đặc vụ có nhiệm vụ điều tra tội ác tài chính, như rửa tiền, trộm cắp danh tánh liên quan tới thuế, và tài trợ khủng bố, IRS cho biết. Đặc vụ là nhân viên duy nhất của IRS được phép mang và sử dụng súng.

Đặc vụ phải làm việc ít nhất 50 giờ một tuần, luôn trực điện thoại ngay cả khi nghỉ phép và cuối tuần, và phải mạnh khỏe để có thể “ứng phó hiệu quả với tình huống nguy hiểm tính mạng,” theo IRS.

Đặc vụ sẽ phải thi hành lệnh bắt người, lục soát, và “những nhiệm vụ nguy hiểm khác.” Nhưng quan trọng nhất, họ phải được mang súng hợp pháp, IRS cho hay.

Đặc vụ phải sẵn sàng bảo vệ bản thân và người khác “tránh bị tấn công bất kỳ lúc nào và không báo trước, cũng như sử dụng súng trong tình huống nguy hiểm tính  mạng” và không ngại “dùng vũ lực chết người” nếu cần.

Theo thông báo trên USAJobs.gov, trang web tuyển dụng của chính phủ, IRS cần tuyển 360 đặc vụ ở tất cả 50 tiểu bang, lương từ $52,921 tới $94,228 một năm.

Đặc vụ phải là công dân Mỹ từ 21 tới 37 tuổi. (Th.Long) [đ.d.]

30 Tháng Tư: Nhớ trại tị nạn Pulau Besar

Nguyễn Văn Dũng

Sau cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn 1954-1975, miền Bắc đã thắng miền Nam, đất nước đã đổi màu cờ. Khoảng 125,000 người đã di tản khỏi Việt Nam vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, và hầu hết sang Mỹ.

Một năm sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, xã hội miền Nam tương đối chưa bị kềm kẹp, kiểm soát, chưa thiếu thốn nhiều nên rất ít nghe ai nói đến vượt biên. Cũng có lẽ khái niệm vượt biên quá mới nên không ai biết nhiều về cách tổ chức cũng như hành trình vượt biên hoặc nghe nói có các trại tị nạn cho người Việt Nam nói riêng và người Việt, Miên, Lào, nói chung tại Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Hồng Kông…

Bức ảnh chụp vào những năm cuối thập niên 1970 khi 162 thuyền nhân Việt Nam đến được bờ biển Malaysia trên một chiếc thuyền nhỏ và nhiều người đã kiệt sức sau những ngày lênh đênh trên biển. (Hình minh họa: K. Gaugler/AFP via Getty Images)

Đến năm 1977 thì lác đác nghe nói có người vượt biên và đến năm 1978 bắt đầu đi đến đâu cũng nghe bàn tán vượt biên. Đến năm 1979 thì bắt đầu có việc vượt biên bán chính thức cho người Việt gốc Hoa.

Ghe tị nạn đầu tiên gồm 47 người Việt Nam đến bờ biển Malaysia vào Tháng Năm, 1975 và những người này lần đầu tiên được gọi là thuyền nhân (boat people). Malaysia chính thức hợp tác với Liên Hiệp Quốc để thành lập các trại tị nạn cho người Việt Nam như Pulau Besar, Pulau Tengah, Pulau Bidong, Kota Bharu, Kuantan, Sarawak, Sabah và tại thủ đô Kuala Lumpur. Tổng cộng Malaysia cưu mang khoảng 250,000 thuyền nhân tị nạn Việt Nam trong giai đoạn này.

Nếu ngày nay coi bản đồ Google Maps tìm Pulau Besar có thấy vài chỗ cùng tên. Trại tị nạn Pulau Besar thực sự nằm trong đất liền chỉ cách một con sông nhỏ không sâu, có thể lội qua làng bên cạnh dễ dàng. Làng dân Malaysia bên kia sông thường gọi là làng Merang và xa hơn nữa là xã Tengah cũng như tỉnh Terengganu.

Không biết rõ ngày thành lập trại tị nạn Pulau Besar nhưng đến Tháng Tám, 1978 thì Malaysia chính thức không cho nhập trại nữa. Những thuyền nhân Việt Nam mới đến sẽ qua đảo Pulau Bidong cạnh đó và ở ngoài khơi xa đất liền hơn. Từ Pulau Besar có thể nhìn thấy Pulau Bidong nếu trời trong.

Khởi đầu chính quyền Malaysia muốn di chuyển tất cả thuyền nhân tị nạn từ Pulau Besar sang Pulau Bidong nhưng gặp chống đối dữ dội của mọi người trong trại nên cuối cùng Malaysia hủy bỏ chuyện này. Tất cả thuyền vượt biên mới tới sẽ sang thẳng Pulau Bidong. Nghe nói có một số thanh niên tình nguyện tạm thời sang đảo Pulau Bidong thiết lập lều trại tại trại tị nạn mới nơi mà hoàn toàn hoang vu không người ở trước đây. Cuối cùng trại Pulau Bidong cũng chính thức đóng cửa ngày 30 Tháng Mười, 1991.

Không có tài liệu nào nói rõ ngày thành lập trại Pulau Besar nhưng nghe đồn ghe tị nạn đầu tiên đến làng Merang là một gia đình bác sĩ Việt Nam cùng năm đứa con. Sau đó gia đình này được sang định cư tại Úc.

Trại tị nạn Pulau Besar cũng như hầu hết các trại khác tại Đông Nam Á thời bấy giờ, có một ban điều hành trại dưới hình thức tự trị do người Việt Nam tình nguyện hay được đề cử làm việc. Ban điều hành gồm trưởng trại, phó trưởng trại, trưởng ban an ninh, trưởng ban thông tin, trưởng ban cứu trợ, ban thông dịch, ban thể thao cùng bốn hoặc năm trưởng khu A, B, C, D… Do đó ban điều hành trại tị nạn Pulau Besar là toàn dân tị nạn Việt Nam tự đứng lên điều hành trại. Tuy vậy nhà cầm quyền địa phương cũng có quyền không bằng lòng với người nào đó trong ban điều hành người Việt Nam.

Tôi nhớ rõ ngày đó khoảng 10 giờ 30 phút tối, loa phóng thanh từ ban thông tin cho biết một phó trưởng trại người Việt gốc Hoa tên Chí bị cách chức ngay lập tức các chức vụ, phó trưởng trại và trưởng ban an ninh.

Anh Chí này khoảng 35-40 tuổi, đi cùng ghe với tôi, nguyên là thông dịch viên tiếng Anh trong QLVNCH. Có lẽ anh bênh vực người Việt Nam trong trại nên làm các sĩ quan cảnh sát Malaysia không bằng lòng.

Ôi thân phận của những người mất nước là như vậy.

Người trong trại Pulau Besar là toàn dân tị nạn Việt Nam, hoàn toàn không có cảnh sát, lính hay nhân viên Malaysia, hoặc ngay cả nhân viên Liên Hiệp Quốc ở trong trại. Khoảng năm 1978, khi tôi đang sống ở đó, trại có khoảng chừng 6,000 đến 7,000 người. Tổng số thuyển nhân từng ở trại Pulau Besar không có con số chính thức nhưng tôi nghĩ cũng khoảng 12,000 đến 13,000 người.

Trại không có hàng rào dây kẽm như hình ảnh trên báo chí ở trại tị nạn Thái Lan. Một mặt là biển mặt kia là con sông nhỏ chia cách với làng Merang. Vì số người trong trại ngày càng nhiều nên khoảng Tháng Năm, Tháng Sáu, 1978 trại chính thức bị biệt lập, không được tự do đi lại làng Merang bên cạnh nữa.

Trước đó tôi thường thấy nghệ sĩ Văn Phụng và nghệ sĩ Châu Hà thường ngồi chơi trong các quán nước của người Malaysia trong làng Merang. Dân làng hiền lành chất phác, đời sống thoải mái, đầy đủ như trong các làng quê Việt Nam thời 1960. Trong quán nước ven hè họ thường để dĩa trứng luộc trên bàn, ăn xong đếm vỏ trứng tính tiền. Mấy anh chàng người Việt láu cá, bóp nát vỏ trứng liệng ra ngoài vườn để bớt số trứng đã ăn. Người Việt mình thì thông minh láu cá vặt. Cũng thỉnh thoảng nghe nói có vụ dân làng bị mất gà vịt hay ngay cả dê nữa. Thuyền nhân tị nạn Việt Nam ở đâu cũng vậy, cũng nhiều thành phần.

Tôi thường thấy dân làng nuôi khỉ hái dừa vì vùng này chỉ toàn dừa, không thấy trồng trọt rau xanh vì toàn là đất cát. Trước khi bị chính quyền Malaysia cấm qua sông để sang làng Merang, những người có tiền trong trại thường sang làng mua gà vịt và các đồ dùng cùng nhu yếu phẩm khác. Sau ngày bị cấm thì cũng có một số buôn lậu buổi tối lội sang sông mua đồ mang về trại.

Trong trại Pulau Besar, ngoài trụ sở của ban điều hành, ngay giữa trại có một nhà thờ và một chùa. Thỉnh thoảng buổi chiều sau khi ăn xong, tôi lang thang đi qua chùa, cũng vào thắp nhang khấn tùm lum cầu mong có tên trong danh sách đi Mỹ. Không hiểu ai mua nhang để đầy trước cửa chùa. Chùa thì không đông đúc nhưng hầu như lúc nào cũng có hương khói và người trong đó. Còn nhà thờ thì ít thấy ai trong đó và thường dành cho các phái đoàn dùng để phỏng vấn. Ngoài ra còn có một nhà bằng tôn khá lớn xa trụ sở của ban điều hành, có lẽ dùng như trung tâm sinh hoạt cộng đồng nhưng không thấy dùng đến bao giờ có lẽ vì xa trung tâm 300m-400m.

Phía sau văn phòng ban điều hành là sân khấu có tivi được bật mỗi tối cho mọi người xem. Nơi đây cũng là nơi phát thư cũng như ngân phiếu của gia đình, thân thuộc từ các nước khác gửi đến cho người trong trại. Những thư này đều dùng địa chỉ của một linh mục người ngoại quốc và vị linh mục này sẽ mang thư vào phát tại trại. Riêng ngân phiếu gửi qua linh mục đều được chuyển tận tay cho người nhận.

Chưa bao giờ nghe ai phàn nàn mất chi phiếu được gửi qua địa chỉ của linh mục. Vị linh mục này là ân nhân của thuyền nhân Việt Nam và là một Bồ Tát trong trại tị nạn. Khi tôi mới vào trại đang lớ ngớ đi loanh quanh trong trại thì được nhiều người chỉ “đi lăng bác thì phía này, đi lấy củi thì phía kia.” Tôi thực sự ngớ ra không hiểu gì. Mấy hôm sau mới biết một khu chỉ có các bụi cây nhỏ còn khu vực đốn củi là rừng thưa các cây tràm to bằng bắp chân thường thấy dùng làm cột chống khi đổ sàn xi măng.

Có lần tôi một mình xách dao vào rừng đốn được một cây thẳng rất đẹp hùng dũng vác về trại. Vì đi trên nền cát nên rất mệt, vác chừng 100m nặng quá không đi nổi nữa. Có một đám thanh niên cũng đang đi tìm cây đốn. Tôi gọi lại cho nửa khúc cây, họ rất mừng lấy dao đốn một nửa. Tôi vác về được một đoạn nhưng nặng và mệt quá không đi nổi nữa. Thấy có vài người đi vào rừng tôi gọi và cho một nửa khúc cây. Cuối cùng tôi vác khúc củi về lều đủ dùng cho ba, bốn ngày. Vào những tháng cuối tôi đi kiếm củi cùng với đám thanh niên chuyên chài lưới ở Việt Nam. Chúng tôi đi rất xa và bó cây vào từng bó rồi chuyển theo đường sông, đốn nhiều cây và vận chuyển nhẹ nhàng hơn một chút.

Khi mới nhập trại nhiều người hỏi thăm “đi mình ên hả?” Tôi chưa hề nghe chữ này hồi nào. Sau đó mới được giải thích nghĩa là “đi một mình.” Ngoài ra trong trại cũng hay hỏi nhau “phái đoàn Mỹ xù chưa?” Thật tình tôi chưa nghe chữ này hồi ở Sài Gòn nhưng cũng đoán được.

Thỉnh thoảng có các ông đại diện cho Liên Hiệp Quốc đến để nhận các đơn xin các nước như Tây Đức, Thụy Sĩ, New Zealand, Bỉ… Những người đi các nước này đều có thân nhân đang cư trú tại đó bảo lãnh. Ngoài ra có bốn phái đoàn Mỹ, Pháp, Úc, và Canada thường xuyên vào trại để phỏng vấn.

Trong thời gian hình như khoảng trước Tháng Năm, 1978, phái đoàn Mỹ chỉ chấp nhận ai có thân nhân tại Hoa Kỳ mới được nộp đơn. Trong thời gian này các quân nhân và nhân viên sở Mỹ vẫn không được đi Mỹ. Trong ghe của tôi có hai chị là nhân viên sở Mỹ và hai anh cựu sĩ quan QLVNCH cũng bị phái đoàn Mỹ từ chối. Sau đó hai anh phải đi Pháp. Sau đó khoảng Tháng Sáu, 1978, Quốc Hội Mỹ thay đổi điều kiện để được vào Hoa Kỳ gồm cả quân nhân và những nhân viên sở Mỹ cũng như diện mồ côi con bà phước cũng được nộp đơn. Thỉnh thoảng có phái đoàn Pháp đến thì có loa thông báo ai muốn đi Pháp thì lên nộp đơn và phỏng vấn.

Một lúc sau lại thông báo ai muốn Pháp xù thì lên nộp đơn. Thế là rất nhiều người không có thân nhân bên Mỹ, không phải cựu quân nhân, không làm sở Mỹ ùn ùn lên nộp đơn để được phái đoàn Pháp đóng dấu từ chối mà không cần qua giai đoạn phỏng vấn. Sau khi Pháp và các phái đoàn khác từ chối thì Mỹ sẽ đương nhiên nhận. Cũng có khi có phái đoàn khác như Thụy Sĩ đến nhận những người thuyền nhân tị nạn ngay cả không có thân nhân tại nước này.

Khoảng năm 1978, khi tôi đang trong trại thường nghe tin đồn nên khai thụt tuổi để được đi học hay được ưu tiên trợ cấp xã hội khi đến Mỹ. Tuy vậy đa số không thể khai thụt tuổi vì ngày tháng năm sinh sẽ khác với lời khai của thân nhân bảo lãnh. Nhiều người mang theo căn cước hay bằng cấp cũng không thể khai khác trong giấy tờ được. Do đó chỉ một số người không mang theo giấy tờ hay không có người thân bảo lãnh là có thể khai thụt tuổi. Nhưng sau này tất cả mọi người mới biết chuyện khai thụt tuổi là sai lầm.

Trại Pulau Besar được Liên Hiệp Quốc thông qua chính quyền Malaysia cung cấp thực phẩm tương đối đủ dùng so với các trại tị nạn tại Thái Lan. Mỗi tuần một hay vài lần đều có thuyền của Malaysia mang thực phẩm đến và ban điều hành trại tự phân phát cho mọi người. Ban đầu họ phân chia các thùng thực phẩm theo khu. Sau đó các khu trưởng sẽ phân chia thực phẩm theo danh sách gia đình.

Có lần mì gói với tiêu chuẩn mỗi người một gói để ăn sáng. Gạo thì từng bao đóng sẵn 20kg hay 25kg gì đó. Nghe nói có gia đình dư gạo mang đi đổi gà trong làng. Còn cá thì toàn là cá nục tươi lớn bằng ba ngón tay chứa trong thùng gỗ. Cá bắt tại khu biển đó nên cũng nhiều. Nhiều khi nghe ban thông tin loan báo ra bờ lãnh cá nhiều gia đình không thèm đi lấy vì ăn hoài ớn quá. Nhiều khi sau khi tính toán và chia cá cho các gia đình mà vẫn còn dư cá vì nhiều người không muốn lãnh cá. Trưởng khu lại chia thêm cho những gia đình có mặt tại đó. Có lần phải chia đến đợt ba mới hết cá vì thật tình ai cũng ớn quá. Bữa nào trời lất phất mưa mà phát cá thì tha hồ lãnh cá. Trong lều tôi các chị đúng là dân Sài Gòn thứ thiệt chỉ làm cá chiên và cá kho xì dầu. Sau này mỗi lần lãnh cá nhiều tôi làm cá tại bờ biển và về lều chỉ băm nhỏ làm chả cá. Tuy mới lạ nhưng thiệt tình cũng không ngon hơn hai món trước bao nhiêu.

Họ còn phát dầu ăn, còn rau chỉ có bắp cải và cải bắp thảo. Ngoài ra thỉnh thoảng còn được phát gà làm sẵn và thùng thịt bò Úc. Khi loa loan báo ra bến lãnh thịt bò thì cả trại nhốn nháo, mang cưa mang búa để lãnh thịt bò. Khi mới tới trại lần đầu tiên tôi rất ngạc nhiên khi thấy nhiều người mang theo cưa, dao và búa. Lúc đó mới biết thùng thịt bò Úc dài gần gấp đôi thùng mì và đông lạnh rất cứng phải dùng các dụng cụ kia mới chia ra nhỏ được.

Đến việc chia gà thì thật là buồn cười. Nếu tôi nhớ không lầm thì cứ bốn hay năm người một con gà không cần biết trẻ hay già. Lúc mấy tháng đầu thì gà tương đối bằng nhau nhưng sau đó có lúc có con lớn như gà tây có con nhỏ bằng hai nắm tay.

Do đó khi móc gà ra khỏi bao mà người ta thấy nhỏ quá bèn quay mặt làm lơ không nhận. Sau đó thấy con gà lớn họ mới nhận làm chuyện phân phát gà rất khó khăn và lâu lắc. Sau đó có luật gọi tên có người thì người phát mới thò tay lấy gà, bốc trúng con nào chịu con đó. Thỉnh thoảng cũng có trứng gà. Ngoài ra các thứ cần thiết khác như dép, bàn chải, xà bông… đều phải tự mua.

Có lần tôi thấy người ta đang làm thịt một con khỉ lớn như một đứa trẻ. Lúc lột lông da trắng bóc. Nhiều khi thấy bẫy được kỳ đà vì vùng này đất cát có nhiều kỳ đà lớn như con cá sấu nhỏ. Có lúc tôi lang thang trong trại thấy người ta đang nướng thịt chó, chẳng hiểu họ kiếm đâu ra chó ở làng chung quanh hay mang từ ghe ở Việt Nam. Tôi cũng lần đầu tiên ăn thử một miếng thịt chó, có mùi vị là lạ.

Người tị nạn Việt Nam từ đảo Poulo Bidong, Malaysia, được đón nhận ở phi trường Roissy-Charles de Gaulle, Paris, Pháp, ngày 7 Tháng Bảy, 1979. (Hình minh hoạ: Binh/AFP qua Getty Images)

Có một kỷ niệm tôi làm nước mắm trong trại. Trong lều có anh Hải, một cựu sĩ quan QLVNCH, anh rất tháo vát, biết làm nhiều thứ. Có lần lãnh nhiều cá quá, anh bỏ thêm đầu cá mà người ta vất đi, xếp lớp chung với muối trong một xô nhựa lớn. Bên trên lọc tấm nylon. Sau khi bị phái đoàn Mỹ xù, anh phải đi Pháp. Gia tài xô cá bây giờ do tôi coi sóc. Để được hơn một tháng thì không hiểu sao có giòi bò chung quanh tấm nylon mặc dù tôi lau rửa tấm ny lon sạch sẽ. Mọi người trong nhà la quá chừng, nên tôi phải mang xô này ra vườn sau cho xa nhà. Mỗi chiều đều dội nước cho giòi bám ở ngoài rớt xuống đất. Tôi thấy trong xô vẫn sạch sẽ không có giòi.

Khoảng năm, sáu tháng sau tôi mở tấm nylon thấy cá vẫn còn nguyên nhưng khi đụng vào nó tự nát ra. Tôi lọc bớt xương, được một thùng nước như sình. Tôi mang đi nấu chín và dùng cát lọc được 2.5 chai nước mắm màu như nước trà. Để ra nắng một, hai hôm trở thành màu cánh gián.

Ăn rất ngon không thua gì nước mắm mua. Mới dùng được nửa chai thấy ngon, tôi khoe hàng xóm. Hôm sau thấy mất cả hai chai nước mắm mới làm treo trên mái nhà.

Aerogram là loại thư là một tờ giấy màu xanh lơ đã in tem sẵn. Người ta chỉ viết đầy mặt sau, gấp lại và đề địa chỉ người nhận ở ngoài. Giá rẻ hơn là mua tem. Trong trại tị nạn Pulau Besar người ta dùng loại này rất nhiều. Thứ này không thấy ở Việt Nam cũng như ở Mỹ. Sau này tôi mới biết thư từ gửi đi thường bị mất do khi có người xuất trại, lính Malaysia tịch thu tất cả thư từ để ngoài giỏ xách. Những thư này do người trong trại đưa tay cho người xuất trại. Lúc tôi đi nhiều người cũng gửi nhưng đến bến tàu Malaysia bị tịch thu hết, trừ những thư đã bỏ trong vali từ trước.

Khi ở trong trại Pulau Besar tôi thường nghe loa kêu tên danh sách các thuyền nhân tị nạn sẽ đi đệ tam quốc gia vào giờ nào đó. Tôi có hỏi thì được biết đệ nhất quốc gia là ám chỉ Việt Nam, còn đệ nhị quốc gia là quốc gia mình đang tạm trú như Malaysia, Thái Lan, Indonesia… Và đệ tam quốc gia là nước mà mình chọn đinh cư sau này. Khi đệ tam quốc gia là các nước khác ngoài bốn nước chính như Mỹ, Úc, Pháp, Canada thì chỉ lác đác một hai gia đình hay vài người chấp nhận đi. Lần tôi xuất trại, Malaysia gọi một lúc ba danh sách gần 500 người xuất trại cùng một lúc.

Khi xuất trại, mọi người từ các trại khác tập trung ở trại chuyển tiếp ngay Kuala Lumpua để khám sức khỏe và chờ ra phi trường. Thủ tục này tốn chừng một tuần đến 10 ngày. Nếu ai bị bệnh hoa liễu mà trong trại thường gọi là bị máu dơ thì phải ở lại chừng một, hai tháng cho đến khi uống thuốc hết bệnh. Trường hợp tôi họ mang danh sách cho xuất trại quá trễ sau khi chuyến máy bay đã đi rồi nên phải chờ đợi bên Mỹ mua vé trở lại. Tại trại chuyển tiếp ở Kuala Lumpua có nhà thầu nấu ăn nên ăn uống khá ngon. Quần áo chăn mền rất dư thừa không thiếu thốn như ở trại.

Trong thời kỳ vượt biên của các thuyền nhân Việt Nam, Malaysia cưu mang khoảng 254,000 người trong tổng số hơn 800,000 người tại các trại tị nạn Đông Nam Á kéo dài suốt 20 năm từ 1975 đến 1995. Ngoài ra, cũng theo thống kê của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, có từ 200,000 đến 400,000 thuyền nhân Việt Nam vùi thây dưới biển cả hay rừng sâu núi thẳm ở các biên giới Thái Lan-Cambodia-Việt Nam. Chương trình tị nạn Việt Nam chấm dứt vào năm 1995 đánh dấu một giai đoạn đen tối của dân tộc. [đ.d.]

Ghi chú:
Tọa độ chính thức của trại tỵ nạn Pulau Besar http://wikimapia.org/#lang=en&lat=5.532526&lon=102.941530&z=14&m=w&search=pulau%20besar
Thuyền nhân Việt Nam: https://en.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_boat_people#:~:text=A%20total%20of%20more%20than,statistics%20see%20Indochina%20refugee%20crisis)

Ông Hòa Lan, cha 500 đứa con, bị buộc ngưng hiến tinh trùng vì sợ loạn luân

AMSTERDAM, Hòa Lan (NV) – Tòa án Hòa Lan hôm Thứ Sáu, 29 Tháng Tư, bắt buộc một ông 41 tuổi ngưng hiến tinh trùng sau khi đã làm cha của 500 tới 600 đứa con khắp thế giới, theo CNN.

Ông Hòa Lan này bị cấm hiến thêm tinh trùng cho phòng mạch, tòa phán quyết. Ông có thể bị phạt 100,000 euro ($110,000) mỗi lần vi phạm.

Thụ tinh trong ống nghiệm. (Hình minh họa: Luca Sola/AFP via Getty Images)

Tòa cũng bắt buộc ông viết thư gửi phòng mạch ở ngoại quốc yêu cầu hủy bất kỳ tinh trùng nào của ông mà họ đang giữ, ngoại trừ số tinh trùng để dành cho những người đã có con nhờ tinh trùng của ông.

Tòa ra phán quyết này sau khi một tổ chức nộp đơn kiện dân sự, đại diện quyền lợi của những đứa con sinh ra nhờ tinh trùng của ông và những người Hòa Lan đã sử dụng tinh trùng của ông.

Họ tranh luận rằng việc ông này tiếp tục hiến tinh trùng là vi phạm quyền riêng tư của những đứa sinh ra nhờ tinh trùng của ông, vì chúng gặp trở ngại khi lập gia đình do lo sợ vô tình loạn luân.

Vụ ông này hiến tinh trùng hàng loạt bị lộ ra năm 2017 và ông bị cấm hiến tinh trùng cho các phòng mạch làm thụ tinh nhân tạo ở Hòa Lan, nơi ông đã làm cha cho hơn 100 đứa.

Tuy nhiên, ông này vẫn hiến tinh trùng ra ngoại quốc, trong đó có Cryos, ngân hàng tinh trùng Đan Mạch hoạt động khắp thế giới.

Ông còn ghi danh hiến tinh trùng trên mạng, đôi khi dùng tên khác, theo nhật báo Algemeen Dagblad ở Hòa Lan. (Th.Long) [đ.d.]

Cộng Hòa có đủ ‘gan’ tách Trump để thắng 2024?

Cộng Hòa có đủ ‘gan’ tách Trump để thắng 2024?

Theo Washington Post, cựu TT Donald Trump đã khiến đảng Cộng hòa phải trả giá bằng hai cuộc bầu cử. Họ không nên để thua thêm một cuộc bầu cử nữa mới hiểu được điều này.

5 người ở Texas bị bắn chết vì than phiền hàng xóm nổ súng ồn ào

CLEVELAND, Texas (NV) – Một ông ở Texas vác súng trường sang nhà kế bên xả súng vô gia đình hàng xóm, làm năm người thiệt mạng, gồm đứa bé 8 tuổi, sau khi gia đình này yêu cầu ông ngưng bắn súng bên sân nhà ông vì nhà họ có trẻ em đang ngủ, cảnh sát loan báo hôm Thứ Bảy, 29 Tháng Tư, theo AP.

Chiều tối Thứ Bảy, Sở Cảnh Sát San Jacinto County cho hay họ vẫn đang tìm nghi can Francisco Oropeza, 38 tuổi, sau vụ xả súng trong đêm ở thị trấn Cleveland, cách Houston khoảng 45 dặm về hướng Bắc.

Nghi can Francisco Oropeza. (Hình: San Jacinto County Sheriff’s Office)

Trong buổi họp báo tại hiện trường sáng Thứ Bảy, ông Greg Capers, cảnh sát trưởng San Jacinto County, cho biết nghi can dùng súng trường kiểu AR.

“Các nạn nhân đều bị bắn từ cổ trở lên, gần giống như xử tử,” ông Capers nói.

Lúc vụ xả súng xảy ra, trong nhà đó có 10 người và không ai khác bị thương ngoài năm người thiệt mạng, có lẽ đều là người Honduras, theo ông Capers. Trong số năm nạn nhân, cảnh sát thấy hai người nằm đè lên hai đứa trẻ.

“Hai phụ nữ Honduras nằm đè lên để cố bảo vệ hai đứa trẻ này,” ông Capers nói. Cảnh sát thấy tổng cộng ba đứa trẻ dính đầy máu trong nhà nhưng sau khi được đưa đi bệnh viện thì được xác định không bị thương, ông Capers thêm.

Hai người khác được kiểm tra tại hiện trường rồi được thả, ông Capers cho hay.

Vụ xả súng xảy ra sau khi gia đình này bước tới hàng rào yêu cầu nghi can ngưng bắn súng bên sân nhà ông ta, ông Capers cho biết. Nghi can, lúc đó đang say rượu, đáp lại rằng đó là nhà ông, ông muốn làm gì cũng được. Rồi một người trong gia đình đó quay phim được cảnh nghi can ôm súng trường tới cửa trước nhà họ, theo ông Capers.

Trong số năm nạn nhân có ba phụ nữ và một người đàn ông. Cảnh sát không công bố tên. Các nạn nhân từ 8 tới khoảng 40 tuổi, ông Capers cho biết.

Đến tối thứ bảy, ông Capers cho biết cảnh sát đang truy lùng nghi can với khoảng cách xa từ “10 đến 20 dặm.”

Ông nói nghi can Oropeza có thể có súng, nhưng tin rằng cảnh sát đã tịch thu được khẩu súng nghi can giết người.

Cảnh sát cũng tìm thấy quần áo và một điện thoại di động khi lục soát khu vực mà xung quanh là rừng. Tuy nhiên, những con chó họ sử dụng lại không đánh hơi được.

“Nghi can có thể ở bất cứ nơi đâu,” ông Capers nói.

Cảnh sát từng tới nhà nghi can trước đây, theo ông Capers. “Cảnh sát từng tới nói chuyện với ông về chuyện bắn súng trong sân nhà,” ông Capers cho hay.

Ông Capers nói vài người trong gia đình hàng xóm vừa từ Houston dọn tới trong tuần này, nhưng không biết họ có dự định ở đó không.

Số vụ xả súng ở Mỹ từ đầu năm tới nay lên mức kỷ lục: Ít nhất 18 vụ, mỗi vụ có bốn người thiệt mạng trở lên. Có hàng loạt lý do cho những vụ xả súng đó: Giết người rồi tự tử và bạo lực gia đình; băng đảng trả thù; xả súng ở trường học và trả thù nơi làm việc. (Th.Long) [đ.d.]

 

Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH ngày 23 Tháng Tư

Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH
(Disabled Veterans and Widows Relief Association)
Non Profit Corporation No. 3141107 EIN: 26-4499-492
Địa chỉ: P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799
Điện thoại: (714) 837-5998, (714) 842-7656, (714) 788-4753, (714) 371-7967, (714) 702-4725
Email: [email protected], [email protected]
Website: www.camonanh.org

Danh sách mạnh thường quân và thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa đã được giúp đỡ hằng tuần đến ngày 23 Tháng Tư, 2023.

Ân nhân và mạnh thường quân:

-Kiệt T. Trần, Huntington Beach, CA, $1,000
-Nguyệt Mai Trần, Toledo, OH, $1,000
-Nguyễn D. Thiều, Isle of Palms, SC, $1,000
-Nancy Blair, Westminster, CA, $20
-Hien Ngo Nguyễn, San Diego, CA, $20
-Kelvin T. Nguyễn, Ewa Beach, HI, $25
-Chieu Hoàng, San Diego, CA, $40
-Muội D. Lý, Newton, MA, $50
-Hung Lê, Garden Grove, CA, $50
-Nương X. Đồng, Marietta, GA, $50
-Phước Lê, Ashburn, VA, $50
-Duc M. Trần, Long Beach, CA, $50
-Nghĩa Trần, Norcross, GA, $50
-Lanh Nguyễn, Plano, TX, $50
-Hằng Nguyễn, San Jose, CA, $50
-Dien Phan, Saint Cloud, MN, $50
-Dau V. Nguyễn, Sacramento, CA, $55
-Network For Goodwill, Southfield, MI, $65
-Tường Nguyễn, Irvine, CA, $100. (Còn tiếp)

Thương phế binh và quả phụ đã được trợ giúp:

-Nguyễn Văn Quân (Nhơn), Trà Vinh, SQ: 482147/NQ. Cụt chân phải.
-Nguyễn Văn Quan, Sài Gòn, SQ: 76/129212/HS/CLQ. Cụt hai chân, mù mắt phải.
-Nguyễn Văn Quan, Tây Ninh SQ: 75/141291/B2/CLQ. Cụt tay, chân phải.
-Nguyễn Văn Quân, Tiền Giang, SQ: 55/N02677/NQ. Cụt chân phải.
-Nguyễn Văn Quan, Vĩnh Long, SQ: 56/M03409/NQ. Cụt chân trái.
-Nguyễn Văn Quang, An Giang, SQ: 206451/HS/CLQ. Cụt chân trái.
-Nguyễn Văn Quảng, Sài Gòn, SQ: 55/507023/B2/CLQ. Cụt chân trái.
-Nguyễn Văn Quang, Tây Ninh, SQ: 52/711750/HS/ĐPQ. Cụt hai chân.
-Nguyễn Văn Quay, Bến Tre, SQ: 62/001239/B2/CLQ. Cụt chân phải.
-Nguyễn Văn Quí, Trà Vinh, SQ: 48/387543/B1/ĐPQ. Cụt chân phải.
-Nguyễn Văn Quí, Vĩnh Long, SQ: 52/729777/B2/CLQ. Mù mắt trái.
-Nguyễn Văn Quới, Sài Gòn, SQ: 75/500662/HS/ĐPQ. Cụt chân phải.
-Nguyễn Văn Quy, Thừa Thiên, SQ: NQ.155411. Cụt chân trái.
-Nguyễn Văn Quyền, Vĩnh Long, SQ: 814269/NQ. Cụt chân trái.
-Nguyễn Văn Rơi, Sóc Trăng, SQ: 452564/NQ. Cụt tay trái.
-Nguyễn Văn Sá, Bình Dương, SQ: 71/115566/B1/CLQ. Cụt chân trái.
-Nguyễn Văn Sâm, Sài Gòn, SQ: 73/133981/HS/TQLC. Mù hai mắt.
-Nguyễn Văn Sáng, Bến Tre, SQ: 53/542449/HS/ĐPQ. Cụt chân phải.
-Nguyễn Văn Sang, Sóc Trăng, SQ: 72/909318/NQ. Cụt chân trái.
-Nguyễn Văn Sang, Tiền Giang, SQ: 43/255252/B1/ĐPQ. Cụt chân trái.
-Nguyễn Văn Sanh, Bà Rịa-Vũng Tàu, SQ: 63/129205/TS/CLQ. Liệt các ngón bàn tay trái.
-Nguyễn Văn Sanh, Kiên Giang, SQ: 443053/NQ. Cụt tay trái.
-Nguyễn Văn Sáu (Tít), Vĩnh Long, SQ: 849924/NQ. Cụt chân phải.
-Nguyễn Văn Sáu, Tiền Giang, SQ: 53/764518/B1/ĐPQ. Cụt chân phải.
-Nguyễn Văn Sáu, Trà Vinh, SQ: 67/815378/TQLC. Cụt chân phải.
-Nguyễn Văn Sáu, Vĩnh Long, SQ: 75/520571/B2/CLQ. Cụt tay phải.
-Nguyễn Văn Sĩ (Sỹ), Bình Dương, SQ: 71/106154/HS/CLQ. Cụt chân trái.
-Nguyễn Văn So, Bến Tre, SQ: 33/232421/HS1/ĐPQ. Cụt chân trái.
-Nguyễn Văn Sơ, Long An, SQ: 67/102496/B2/CLQ. ???. (Còn tiếp)

3 người chết ngạt trong hầm đào vàng bỏ hoang ở Đắk Nông

ĐẮK NÔNG, Việt Nam (NV) – Nhà chức trách tỉnh Đắk Nông vừa xác nhận ba thi thể được phát giác bên trong một hầm đào vàng bỏ hoang ở huyện Đắk Glong là các ông TAT, SST và LAT, từ 29 đến 41 tuổi.

Theo báo Tiền Phong hôm 29 Tháng Tư, cả ba nạn nhân đều là dân địa phương ở xã Quảng Hòa, huyện Đắk Glong.

Một khu lán trại khai thác vàng trái phép tại huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. (Hình: Ngọc Oanh/VNExpress)

Điều tra sơ bộ cho thấy ba ông nêu trên vào hầm đào vàng bỏ hoang để tìm kiếm phế liệu, vàng. Trong lúc chỉ mới chui vào hầm được khoảng 50 mét, do thiếu oxy, cả ba bị ngạt thở rồi chết.

Báo VNExpress cho biết thêm, khu vực mà ba người đàn ông thiệt mạng nằm trong rừng sâu, thuộc tiểu khu 1660 do công ty Lâm Nghiệp Quảng Sơn quản lý.

Dù tiểu khu này không có sóng điện thoại, việc đi lại khó khăn, nhiều người mang máy móc thô sơ vào dựng lán trại để khai thác vàng trái phép.

Theo giới chức Đắk Nông, việc khai thác vàng trái phép ở xã Quảng Hòa diễn ra từ năm 2010. Công an đã tổ chức nhiều đợt truy quét, xử lý, tuy nhiên sau đó các nhóm đào vàng tiếp tục quay lại khai thác.

Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Đắk Nông từng đề nghị huyện Đắk Glong đánh sập các hầm khai thác vàng, chặt đứt các tuyến đường dẫn vào khu lán trại khai thác, nhưng việc ngăn chặn không hiệu quả.

Liên quan tình trạng này, hồi Tháng Mười năm ngoái, phóng viên báo Lao Động thâm nhập tiểu khu 1660 và 1661 và tận mắt thấy một số lán trại, đường hầm là nơi trú ẩn của nhóm khai thác vàng trái phép.

Phía trong hầm có thiết bị, máy móc phục vụ việc đào, đãi vàng. Tại hiện trường, ngổn ngang xe gắn máy độ chế để đi rừng, máy nổ, máy bơm không khí vào trong hầm vàng, máy phát điện, máy nghiền quặng…

Trong một đường hầm, phóng viên nhìn thấy nhiều nồi niêu, chén bát, thực phẩm của nhóm khai thác vàng trái phép.

Một hầm đào vàng trái phép tại tỉnh Đắk Nông bị phong tỏa. (Hình: Tiền Phong)

Thời điểm đó, ông Phan Xuân Huệ, giám đốc công ty Lâm Nghiệp Quảng Sơn, phân trần rằng doanh nghiệp này có đặt trạm bảo vệ rừng nhưng chỉ có bốn người mà phải trông coi gần 5,000 hécta đất rừng nên quản lý không xuể.

Đó là chưa kể ngoài chuyện đào hầm khai thác vàng, khu vực này còn là điểm “nóng” về tình trạng người dân phá rừng, lấn chiếm đất làm nương rẫy. (N.H.K) [đ.d.]

Tin mới cập nhật