Từ ‘Lá Thư Pleime’ đến ‘Theo Cánh Gió Bay’

SAN JOSE, California (NV) – Nhắc đến địa danh Pleime có lẽ không ai sinh trưởng thời VNCH là không biết, vì tại nơi đó một trận chiến mang tầm chiến lược kéo dài suốt 38 ngày đã xảy ra. Địa danh Pleime còn đi vào thơ ca, âm nhạc như câu hát “Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại. Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về. Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime, Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã…” trong ca khúc “Kỷ Vật Cho Em” của Phạm Duy phổ nhạc từ thơ Linh Phương.

Riêng “Lá Thư Pleime” là một bài thơ cũng gắn với địa danh Pleime nhưng có số phận kỳ lạ hơn. Bài thơ này vốn là lá thư bình thường do Thiếu Úy Nhảy Dù Lê Anh Thái viết tại cứ địa Pleime, thư viết đã xong nhưng chưa kịp gửi đến người bạn thì Thiếu Úy Thái phải chuyển quân đến Quảng Trị để tái chiếm Cổ Thành. Thiếu Úy Lê Anh Thái tử trận tại đó vào ngày 8 Tháng Bảy, 1972.

Khi đơn vị đưa linh cữu Thiếu Úy Thái về lại gia đình, thì thân sinh ông là ông Lê Văn Tuyến tìm được lá thư vừa mộc mạc hồn nhiên vừa thấm đẫm mùi khói súng chiến trường của con trai mình. Xúc động nghẹn ngào, ông Tuyến liền chuyển tâm tư con trai thành một bài thơ mang tên “Thư Pleime.”

Vốn là một thi sĩ và soạn giả khá nổi tiếng với bút hiệu Anh Tuyến, ông đã đặt mình vào thân phận con trai, để sáng tác vài chục bài thơ khác mang nặng tâm tư tình cảm của tuổi trẻ miền Nam lúc ấy như phố thị Sài Gòn, chiến trường, rồi tình yêu, tuổi trẻ, các băn khoăn trước cuộc đời.

Kèm theo đó là tâm tư của ông khóc con trai và một người con nuôi khác của ông là Thiếu Úy La Vĩnh Khâm, phục vụ chung một đơn vị với Thiếu Úy Thái tại Tiểu Đoàn 1, Pháo Binh Dù, và cũng tử trận tại Cổ Thành Quảng Trị, sau Thiếu Úy Thái đúng một tuần. Thi sĩ Anh Tuyến gom lại in thành tập thơ với nhan đề “Theo Cánh Gió Bay.”

Sau 47 năm, tập thơ ấy vừa tái xuất bản và ra mắt cộng đồng người Việt vào trưa Chủ Nhật, 30 Tháng Sáu, 2019, tại Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương, thành phố San Jose, Bắc California.

Cố Trung Úy Lê Anh Thái. (Hình: Gia đình cung cấp)

“Theo Cánh Gió Bay” vốn là một ý trong bài “Thư Pleime” nguyên văn như sau:

“Tao được thơ mày cả tháng nay
Hành quân liên tiếp suốt đêm ngày
Lưng không rời giáp, tay rời súng
Liên lạc thì không có máy bay

Tao vẫn luôn luôn nhớ tụi mày
Nhớ Sài Gòn đẹp nắng vàng hây
Nhớ đường Lê Lợi ngập hoa nắng
Nhớ ngõ Tam Đa tà áo bay

Pleime suốt tháng mưa dầm dề
Mày ơi, thèm quá khói cà phê
Thèm tô phở tái thơm chanh ớt
Thèm rót bọt đầy một cốc bia

Sài Gòn mày vẫn xem phim chưởng?
Băng nhựa còn thu nhạc Khánh Ly?
Những chiều thứ bảy còn đi nhót?
Hay lén ông già nhậu whisky?

Hôm qua thằng Tiến dẫn quân ngang
Giữa rừng gặp bạn mừng hơn vàng
Ôm nhau, hai đứa cười ha hả
Râu tóc bù xù như cái bang

Mày nghĩ, đã lâu không được tắm
Hành quân liên tiếp giữa rừng già
Ăn thì gạo sấy nhai qua bữa
Tối ngủ nằm sương lạnh cắt da

Hôm qua địch pháo giữa ban ngày
Tao bị thương xoàng ở bả vai
Mảnh đạn còn ghim trong thớ thịt
Mày đừng có nói mẹ tao hay

Mẹ tao chỉ muốn tao quanh quẩn
Lính kiểng châu thành, lính phất phơ
Mày nghĩ, tụi mình như cánh gió
Ai đi nhốt gió được bao giờ?

Những đêm biên cảnh sống xa nhà
Cũng thấy đôi lần nhớ xót xa
Cũng có đôi lần tao muốn khóc
Muốn về thăm mẹ… thế nhưng mà…

Thôi nhé, thư sau tao viết tiếp
Trực thăng đã đáp trong vòng đai
Tản thương lính đã đưa lên đủ
Tao viết thơ này vội gởi ngay.”
(Thiếu Úy Lê Anh Thái)

Vợ cố Trung Úy Lê Anh Thái bế cô Lê Anh Ngọc Thùy bên quan tài. (Hình: Gia đình cung cấp)

Cách đây vài tháng, trên mạng xã hội và nhiều trang blog đột nhiên xuất hiện bài thơ “Lá Thư Pleime” kèm theo tấm hình Thiếu Úy Lê Anh Thái oai hùng trong bộ quân phục đứng bên cạnh khẩu trọng pháo. Khi tuần báo Saigon Nhỏ chọn đăng bài thơ và tấm hình rất đẹp đó thì liền nhận được email của một độc giả là ông Lê Anh Thượng, em ruột Thiếu Úy Lê Anh Thái, ông Thượng cũng là một cựu sĩ quan VNCH hiện sống tại Seattle, tiểu bang Washington.

Trong email, ông Lê Anh Thượng có nói rõ lại hoàn cảnh ra đời của bài thơ, ông ngỏ ý tìm và xin chuộc lại từ ai đó còn giữ tập thơ xưa, vì ngoài việc là một di vật, tập “Theo Cánh Gió Bay” “còn là những vần thơ kỷ niệm của một thời hoa niên, tuổi trẻ đi học, vào đời, tình yêu, đời lính của những người trai miền Nam VNCH thập niên 1960” (nguyên văn).

Ông Lê Anh Thượng cho biết mở đầu tập thơ này là bốn câu trong bài “Khóc Con:”

“Lê Anh Thái, La Vĩnh Khâm
Hai đứa theo nhau cách một tuần
Mũ Đỏ đoàn quân còn dũng tiến
Hỡi ơi sao gãy cánh thiên thần…”

(Anh Tuyến)

Cũng theo ông Lê Anh Thượng, Thiếu Úy La Vĩnh Khâm là người đã bị lính bắn tỉa Cộng Sản Bắc Việt bắn chết khi Thiếu Úy Khâm cùng niên trưởng Út Bạch Lan (Trương Văn Út) đứng trên trận địa để bàn tính chọn điểm chấm bắn pháo binh mà Út Bạch Lan có kể lại trong một bài viết. Khi hai anh em tử trận, cả hai được vinh thăng thành trung úy. Được biết cố Trung Úy Lê Anh Thái đã được trao tặng năm Anh Dũng Bội Tinh, nhiều bội tinh khác và sau khi đền nợ nước được chính phủ truy tặng Bảo Quốc Huân Chương

Sau đó, ông Lê Anh Thượng gửi cho tuần báo Saigon Nhỏ thêm vài bài thơ và gần đây, thật bất ngờ, ông gửi thiệp mời đến dự buổi ra mắt tập thơ “Theo Cánh Gió Bay” tại San Jose. Vì không thể tham dự được, chúng tôi đành kiếu lỗi nhưng vẫn để ý theo dõi sự kiện này.

Nhờ mạng xã hội, chúng tôi tình cờ thấy được tấm hình cũ, trong hình là người thiếu phụ mới 19 tuổi, đầu đội khăn sô, ôm trong lòng đứa con gái mới hai tháng tuổi đứng trước quan tài có bức chân dung cố Trung Úy Lê Anh Thái.

Quang cảnh buổi ra mắt sách. (Hình: Gia đình cung cấp)

Cũng qua mạng xã hội, chúng tôi làm quen được với cô con gái duy nhất ấy của cố Trung Úy Thái là cô Lê Anh Ngọc Thùy, hiện đang định cư tại San Jose. Cô đang tất bật chuẩn bị cho việc ra mắt tập thơ của ông Anh Tuyến (tức ông nội cô).

Được biết, toàn bộ số tiền bán tập thơ này đã được trao lại hết cho nhóm Văn Thơ Lạc Việt để gửi về Việt Nam cứu trợ các anh thương phế binh VNCH. Buổi ra mắt tập thơ cũng trùng vào ngày giỗ 47 năm của cố Trung Úy Thái.

Kết thúc buổi ra mắt, qua điện thoại, cô Thùy cho chúng tôi biết: Buổi ra mắt tập thơ thành công vượt mong đợi, hội trường 120 chỗ chật cứng người tham dự, trong số đó có nhiều cựu chiến binh binh chủng Nhảy Dù, một số đồng đội cũ của cha cô, đặc biệt có Trung Tá Mũ Đỏ Bùi Đức Lạc, tác giả cuốn “Cơn Uất Hạ Lào.”

Tập thơ này tuy không đầy đủ như ấn bản ban đầu nhưng cũng dày khoảng 80 trang với vài chục bài thơ. Những tập thơ bản gốc cùng với bản kẽm gia đình cô cũng phải hủy bỏ không dám chứa trong nhà. Mãi gần đây, có một người bà con đã gửi tặng lại một tập thơ họ còn lưu giữ được (tuy đã bị mối mọt và rách mất một số trang) suốt hơn 44 năm cất giấu.

Cô Thùy cho biết với tình trạng bị o ép trong nước, người lưu giữ tập thơ không dám phổ biến, còn tại Mỹ gia đình cô có thể làm điều đó cách long trọng. Có được việc này, theo cô trước hết là do công của ông bà Nguyễn Cao Thái (còn gọi là Thái NC), một người yêu văn thơ quân đội thời VNCH, chính ông Thái đã gợi ý cho cô để xuất bản tập thơ này. Buổi ra mắt cũng không thể thành công nếu không có sự hỗ trợ của nhóm Văn Thơ Lạc Việt, ông Liêm bên nhà xuất bản Clover Leaves, Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương và nhiều người khác.

Từ Seattle, ông Lê Anh Thượng cho biết ông đã đến San Jose tham dự buổi ra mắt tập thơ và là diễn giả chính, vì hơn ai hết ông hiểu rõ người cha của mình. Trong tập thơ đáng chú ý còn là bài thơ “Thương Ca Cho Thùy” mà thi sĩ Anh Tuyến viết cho đứa cháu mồ côi là cô bé Thùy.

Cũng theo ông Thượng, khi thi sĩ Anh Tuyến xuất bản tập thơ năm 1972, số tiền bán đã được cha ông trích ra 50% mang đến Bộ Tư Lệnh Nhảy Dù trao tặng cho cô nhi quả phụ của Gia Đình Mũ Đỏ, 50% còn lại được ông Anh Tuyến gửi vào ngân hàng, để dành cho cô Thùy, nhưng đến biến cố 30 Tháng Tư, 1975, khi cộng quân cưỡng chiếm miền Nam số tiền đó bị mất sạch.

Đúng như tựa đề tác phẩm, việc tái xuất bản tập thơ hệt như cánh gió mà cố Trung Úy Nhảy Dù Lê Anh Thái đã nương theo, bay từ trận địa Pleime, qua Cổ Thành Quảng Trị và đáp đến cộng đồng người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ. (Uyên Vũ)



Thương ca cho Thùy 
(trích đoạn)

Cha nó là lính chiến
Đi trận đã chết rồi
Mẹ nó còn thơ dại
Mới mười chín tuổi đời
Lấy gì nuôi con côi?
Tuổi tôi đã năm mươi
Phong sương đã mấy độ
Nước mắt cạn khô rồi…

Cha nó là lính chiến
Tuổi hãy còn thư sinh
Nó rất yêu hòa bình
Nhưng đã cầm tay súng
Nó rất ghét chiến tranh
Nhưng đã vào cuộc chiến!
Nó chết tóc còn xanh
Nó chết, đời đang đẹp
Nó chết vì Tổ Quốc
Nó chết vì hòa bình…
(Anh Tuyến, 1972)

Thi sĩ, soạn giả Anh Tuyến, tên thật là Lê Văn Tuyến, sinh năm 1923 tại Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Là thành viên của Văn Bút VNCH và Văn Bút Quốc Tế. Ông bắt đầu viết năm 20 tuổi (1943) và gây chấn động trong văn đoàn với vở kịch dã sử “Thâm Cung,” tác phẩm này đã được công diễn tại Long Xuyên, Chợ Mới, Lấp Vò, Cần Thơ, Sa Đéc vào những năm 1945-1947 để giúp đồng bào miền Bắc trong nạn đói năm 1945. Năm 1961, tập thơ “Tổ Ấm” của ông đoạt giải “Văn Chương Thi Ca Toàn Quốc.”  

Năm 1970, ông cùng một số văn thi sĩ đại diện Văn Bút VNCH tham dự Đại Hội Văn Chương Châu Á tại Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Bắc. Thi sĩ Anh Tuyến được một số tác phẩm khảo cứu văn học chọn đưa vào sách như một tác gia tiêu biểu. Năm 1966, ông gia nhập làng sân khấu cải lương và viết kịch bản cho đoàn Thanh Minh-Thanh Nga với nhiều vở tuồng nổi tiếng, ông còn soạn nhiều vở kịch xã hội, kịch thơ và kịch vui khác (in tại bìa sau tập thơ “Theo Cánh Gió Bay” vừa tái bản).


[jwplayer 48SBO2vL]

Phê ma túy, con trai dùng xăng đốt chết mẹ ruột ở Bà Rịa-Vũng Tàu

BÀ RỊA-VŨNG TÀU, Việt Nam (NV) – Người dân xã Xuyên Mộc, huyện Xuyên Mộc, bị “sốc” khi phát hiện thi thể nạn nhân chỉ còn là đống tro, bên cạnh là những khúc xương chưa kịp cháy hết.

Báo Người Lao Động ngày 13 Tháng Tám, 2019, dẫn tin từ Phòng Cảnh Sát Hình Sự Công An tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết đã khởi tố, bắt giam Nguyễn Thiên Ân (27 tuổi, trú huyện Xuyên Mộc) để tiếp tục điều tra về tội “Giết người.” Nạn nhân là bà Nguyễn Thị G. (65 tuổi), mẹ ruột của Ân.

Theo điều tra, sáng 10 Tháng Tám, Ân sử dụng ma túy đá tại nhà ở xã Xuyên Mộc (huyện Xuyên Mộc). Đến 10 giờ tối cùng ngày, Ân tiếp tục sử dụng ma túy lần nữa rồi vào phòng riêng xem phim trên mạng Internet.

Sau khi ngừng xem phim, đi ra phòng khách uống nước thì Ân gặp mẹ mình. Trong lúc đang phê ma túy bị ảo giác, Ân nhìn bà G. nhưng lại tưởng là chiếc áo đang bay giữa nhà nên chạy vào phòng tìm gậy sắt đánh vào vùng đầu bà G., khiến nạn nhân ngã xuống sàn nhà, bên cạnh chiếc xe gắn máy.

Chưa dừng lại, Ân dùng bật lửa đốt bà G., sau đó nghiêng chiếc xe gắn máy mở nắp bình xăng tiếp tục châm lửa. Để lửa cháy lớn hơn, Ân gom hết quần áo, đồ đạc, bình gas trong nhà ném vào đóng lửa đang cháy lớn. Đồng thời, Ân dùng rựa đập phá đồ đạc trong nhà rồi ngồi cố thủ.

Đến khoảng 3 giờ sáng 11 Tháng Tám, người anh trai ở gần phát hiện nhà mẹ mình bị cháy chạy đến xem nhưng bị Ân cầm rựa đuổi chém.

Anh trai Ân đến công an xã trình báo vụ việc. Khi Công An xã Xuyên Mộc xuống vây bắt Ân, dập đám cháy thì phát hiện xác bà G. đã bị lửa thiêu hết chỉ còn lại vài khúc xương chưa kịp cháy thành than. Qua kiểm tra nhanh, công an phát hiện Ân dương tính với chất ma túy. (Tr.N)

[jwplayer NoZwDAxk]

Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH ghi đến ngày 11 Tháng Tám, 2019

Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH
(Disabled Veterans and Widows Relief Association)
Non Profit Corporation No. 3141107 EIN: 26-4499-492
P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799
Điện thoại: (714) 837-5998, (714) 371-7967, (714) 553-3478, (714) 553-5790, (714) 482-7656, (714) 788-4753
email: [email protected]
Website: www.camonanhtb.com, www.1giadinh1thuongphebinh.net

Mạnh Thường Quân:

-Ô.B. Lâm Quốc Bửu & Minh Tiêu, Los Angeles, CA $100.
-Ô.B. Lê Thị Minh Trang, Bowling Green, KY $100.
-Ô.B. Trần Vinh Đức, Bloomington, IN $100.
-Ô.B. Trần T. Đào, Garden Grove, CA $100.
-Ô.B. Nguyễn Trọng Tường, Alexandria, VA $100.
-Ô. Lê N. Thanh, Fort Worth, TX $100.
-Ô.B. Lê M. Trang, Bowling Green, KY $100.
-Phạm Đào (West Union), Portland, OR $200.
-Bà Beckman Quyên, Zeeland, MI $200.
-Huỳnh Family, Philadelphia, PA $200.
-Trần Lý Lê, Garland, TX $200.
-Trần Khiêm Thương, Riverdale, GA $200.
-Ô. Phan Văn Ken, Warner Robins, GA $210.
-Ô. Phan M. Hoàng, Fairview Park, OH $300. (Còn tiếp)

Thương phế binh VNCH đã được giúp đỡ:

-Trần Hòa, Khánh Hòa, SQ:72/401656. Cụt tay phải.
-Ngô Văn Hạnh, Khánh Hòa, SQ:69/403622. Bị thương ở bụng.
-Nguyễn Văn Chung, Bình Thuận, SQ:47/249752. Mờ hai mắt, bán thân bất toại.
-Bùi Đình Trọng, Bình Định, SQ:43/203942/NQ. Cụt chân trái.
-Đào Xuân Mai, Ninh Thuận, SQ:204306/NQ. Mù mắt trái.
-Trần Hữu Tín, Ninh Thuận, SQ:75/111139/B1/ND. Cụt chân phải.
-Lê Cẩm Lăng, Bình Định, SQ:67/408993/TÚ/ĐPQ. Cụt chân trái.
-Bùi Kim Tiền, Bình Định, SQ:404281/CLQ. Cụt tay phải.
-Nguyễn Lót, Phú Yên, SQ:67/407852/HS/ĐPQ. Cụt chân phải.
-Trần Ngọc Biểu, Ninh Thuận, SQ:71/400459/B2/CLQ. Cụt chân trái.
-Trần Văn Hòa, Ninh Thuận, SQ:74/403604/HS/CLQ. Cụt tay phải.
-Trần Phúc, Bình Định, SQ:49/372797/B2/ĐPQ. Cụt chân phải.
-Trịnh Chua, Bình Định, SQ:249846/NQ. Cụt một chân.
-Hồ Lượm, Ninh Thuận, SQ:59/411587/B2/CLQ. Cụt chân phải.
-Huỳnh Văn Minh, Bình Định, SQ:74/124601/B2/ND. Liệt tay chân trái.
-Nguyễn Văn Thìn, Bình Định, SQ:39/293150/B1/ĐPQ. Mù mắt phải. Bị thương ở đầu.
-Nguyễn Bào, Bình Thuận, SQ:7 01737/B2/CLQ. Cụt chân phải.
-Lê Cầu, Phú Yên, SQ:755146/TS1/CLQ. Cụt chân phải.
-Lê Dinh, Phú Yên, SQ:50/354051/B1/ĐPQ. Cụt chân phải. Gãy chân trái.
-Phạm Văn Tân, Phú Yên, SQ:50/477998/HS1/ĐPQ. Cụt chân trái.
-Huỳnh Long, Phú Yên, SQ:255653/NQ. Cụt chân trái.
-Võ Đầy, Bình Thuận, SQ:64/400192/B1/CLQ. Cụt tay trái.
-Nguyễn Tấn Phúc, Ninh Thuận, SQ:60/140910/ĐU/CLQ. Cụt chân phải.
-Nguyễn Phẩm, Phú Yên, SQ:70/412516/B1/CLQ. Cụt tay phải.
-Phan Văn Sơn, Bình Định, SQ:40/260538/TS/ĐPQ. Cụt chân phải.
-Trương Văn Tài, Phú Yên, SQ:46/435748/TS/CLQ. Cụt chân trái.
-Võ Văn Bình, Bình Định, SQ:116617/B2/TQLC. Cụt chân trái.
-Nguyễn Văn Hùng, Ninh Thuận, SQ:72/512792/HS/ND. Cụt chân phải.
-Ngô Bá Cấy, Phú Yên, SQ:74/146332/B1/ND. Cụt chân phải. (Còn tiếp)

[jwplayer ADrw6DGj]

Kiến, Chuột và Ruồi

Tác giả Nguyễn Quang Lập

Cái chuồng bò vẫn còn trơ ra đó!

Bạt của Lê Thanh Phong

Xin bắt đầu từ những ký ức vụn để đến với “Kiến, chuột và ruồi”.

Những mẩu chuyên rất vụn của Nguyễn Quang Lập quăng tưng tửng lên các trang văn của anh đã thu hút lượng bạn đọc rất lớn. Bạn đọc say với những mẩu chuyện vụn của Lập, và tuồng như, anh đã phát hiện được thị hiếu thẩm mỹ của bạn đọc, để từ đó định hình một lối viết mới, tạm gọi là “phong cách ký ức vụn”.

Và Nguyễn Quang Lập đã sử dụng phong cách này cho tiểu thuyết “Kiến, chuột và ruồi”. Từ đầu đến cuối tiểu thuyết, không có đoạn văn nào dài, đoạn nào cũng vài chục chữ. Đoạn nào dài lắm chỉ trên 100 chữ. Với bạn đọc hiện đại, cách viết văn chia từng đoạn ngắn này rất phù hợp vì dễ đọc, không chán, nhất là khi đọc trên các thiết bị công nghệ.

Văn phong của “Kiến chuột và ruồi” giản dị, gần gũi. Tác giả sử dụng nhiều ngôn ngữ đời thường, văn nói quen dùng. Kể chuyện những năm 50 của thế kỷ trước nhưng văn phong hiện đại. Chữ nghĩa dung dị, không tả cảnh tả tình mất thời gian, không đại ngôn, không triết lý cao siêu, không dông dài lý luận. Bạn đọc bị các loại tiểu thuyết đại ngôn, đại tư tưởng làm cho mệt mỏi và lắm khi sợ hãi. Cho nên, cách khai mở cho tiểu thuyết hiện đại bằng con đường đơn giản ít khoa trương có lẽ cũng rất cần. Mỗi thời đại, văn hóa đọc khác nhau, người thời nay không cần răn dạy, họ có nhiều công cụ và tri thức để tự dạy mình. Triết lý ẩn trong những câu chuyện, bạn đọc sẽ tự tìm thấy và tự khai ngộ. Nhà văn không nên áp đặt triết lý cho người đọc như một thứ thần quyền mà người đọc là thần dân. Đây là một điểm thành công của tiểu thuyết “Kiến, chuột và ruồi”của  Nguyễn Quang Lập.

Câu thuần triết lý như: “Đánh thức tính nhân văn trong con người chính trị thật khó như đơm đó ngọn tre nhưng không phải không có những ngoại lệ” rất hiếm trong tiểu thuyết “Kiến, chuột và ruồi”. Thay vào đó, Nguyễn Quang Lập rất chú trọng xây dựng nhân vật. Nhân vật của Lập được ký họa bằng ngôn ngữ rất tài hoa. Nét nào ra nét đó, chỉ cần một đoạn văn ngắn mấy chục chữ là xong. Đặc biệt là nhân vật ác như “Thủ trưởng”, “Đội trưởng”. Lối đặc tả bằng vài nét bút như đường dao cực bén rất gây ấn tượng, găm vào đầu người đọc ngay, không phai được.

Một lũ quan lại ngu dốt, lật lọng và độc ác gồm Thủ trưởng, Trần Ngô Đống tiên sinh, Đội trưởng, lão kéo xe lôi làm phó chủ tịch thị trấn nhưng đọc chữ không thạo, được tác giả viết một cách rất đơn giản, không cay độc, có khi rất hài hước, nhưng rõ nét đến tận cùng, thối tha đến tận từng tế bào.

Nếu tách ra các nhân vật như Kiểm Hát, Tiên sinh Trần Ngô Đống, anh Tư, anh Cả, chị Hiên, vợ Phạm Vũ… thành từng chuyện cũng là những “ký ức vụn” theo phong cách văn chương Nguyễn Quang Lập, đọc rất thú vị và có không ít điều để nghiền ngẫm.

Cho dù nhân vật nào, độc ác tới đâu, hung dữ đến mấy, bi kịch của con người và xã hội dù thật đau đớn, thì trong tiểu thuyết không thiếu những đoạn văn hài hước, ngôn ngữ chân quê Quảng Bình trở thành đặc sản Nguyễn Quang Lập không nhầm lẫn với ai khác. Những đoạn văn đó làm người đọc bật cười thích thú, nhưng ẩn giấu đằng sau tiếng cười là những cay đắng, suy tư.

Nguyễn Quang Lập đặc tả một đám dân bị nhồi sọ, bị biến thành bầy cừu, bị lên đồng tập thể với giọng văn trào phúng nhưng càng đọc càng xót xa. Ví dụ như đám rước của anh Tư, trẻ con cũng bị nhồi sọ, nhắm mắt hô đả đảo và muôn năm. Để sau này chỉ biết đấu tố, hò hét giết người theo đám đông. Lúc đó, họ hoàn toàn mất đi nhận thức cá nhân. Con người bị tước đoạt đi cái tôi cá nhân để tàng hình vào tập thể gọi là quần chúng từ khi còn là đứa trẻ.

Tuyến nhân vật trong tiểu thuyết đơn giản, không đan chéo nhiều không gian và thời gian khác nhau nên người đọc dễ “quản lý” nhân vật.  Nhân vật “tôi” dẫn dắt câu chuyện, làm “trạng sư” phân tích hết tâm lý của từng nhân vật, phán xét cái công án thời đại qua độc thoại của chính mình. Nhân vật ấy là cậu bé trước khi trồi ra ở cửa mình của mạ chỉ thấy cái chuồng bò và cái háng của bà đỡ.

Cảm tưởng tiểu thuyết “Kiến, chuột và ruồi” là một tự truyện, hình như phần lớn nhân vật đều là nguyên mẫu của chính gia đình, làng xóm của tác giả, không cần phải hư cấu thêm nhiều. Nếu không phải vậy thì cũng là những nguyên mẫu  có thực ở ngoài đời.  Và cuộc sống làng quê của tác giả chính là nguyên liệu, chất liệu cho tiểu thuyết. Cái làng đó, cái chuồng bò đó là điển hình cho mọi làng quê, thôn xóm của xã hội miền Bắc một thời và hơn thế.

Thị trấn Kô Long trong “Kiến, chuột và ruồi” chật hẹp, ngột ngạt hơn cái làng Vũ Đại của Nam Cao từng xây dựng. Ở làng Vũ Đại, cùng lắm chỉ có một gã say hay phá phách và một lão Bá Kiến gian manh. Còn thị trấn Kô Long của Nguyễn Quang Lập, không phải là một gã say mà ngược lại, có nhiều thằng tỉnh táo, khôn ngoan, mưu chước, thủ đoạn và độc ác.

Trong cái không gian bức bí của thị trấn Kô Long, có một cái chuồng bò của ông chủ tịch Phạm Vũ còn tối tăm hơn. Cái chuồng bò hôi hám như vậy, mà con người phải sống, phải chịu đựng, phải làm nơi trú ẩn cho chính mình. Vợ và con chủ tịch Phạm Vũ không dám phản kháng, chỉ biết vâng theo lệnh ông để sống chui rúc trong cái chuồng bò.

Về phía chủ tịch thị trấn Kô Long – ông Phạm Vũ – thừa biết cái chuồng bò là bẩn thỉu nhưng ông vẫn bắt vợ con sống. Bởi vì ông cũng biết rất rõ, chỉ trung thành với cái chuồng bò đó ông mới chứng minh được thành phần bần cố nông của mình. Ba chữ “bần cố nông” chính là tấm giấy thông hành cho ông trèo cao hơn. Phạm Vũ không dám từ bỏ cái chuồng bò, ông khư khư bám vào nó cho dù vợ con ông quá khốn khổ, quá chán ngán, quá sợ hãi mùi tanh hôi và sự gớm ghiếc của nó. Nhưng mà Phạm Vũ đã đúng, hiểu theo nghĩa chức tước tạm thời, từ cái thành phần đặc biệt bần cố nông và trung thành với chuồng bò, ông ngoi lên tới chức chủ tịch tỉnh.

“Kiến, chuột và ruồi” cũng là một câu chuyện kể về sự kiện cải cách ruộng đất của thị trấn Kô Long, được lột tả qua hai nhân vật là Phạm Vũ và bà Mai. Chủ tịch Phạm Vũ khi bị bắt giam trong xà lim, trong bóng tối, ông lần tay xuống nền nhà và mò mẫm ra dòng chữ “Tôi bị oan”. Khi có ánh sáng, trên khắp bốn bức tường của nhà ngục chi chít ba chữ “Tôi bị oan”. Tất cả những người đi qua xà lim này chỉ ghi lại được ba chữ đó trước khi bị “Đội trưởng” hành hình bằng một mệnh lệnh là đập vỡ ống thuốc lào. Hết.

Số phận và mạng sống con người phụ thuộc hoàn toàn vào một tay “Đội trưởng” vô học và tàn ác cùng sự lên đồng a dua của một đám quần chúng mê muội. Bà Mai đã bị giết chết man rợ đến con chó Ba Đốm của bà cũng phải phẫn nộ. Con Ba Đốm lao lên như tỏ thái độ phản kháng hành động giết người và để được chết cùng với chủ.

Đọc tiểu thuyết “Kiến, chuột và ruồi” của Nguyễn Quang Lập có cảm giác bị hụt hẩng. Hình như sau hơn 170.000 chữ,  nhà văn chưa vẽ bức tranh trọn vẹn của thời đại. Bởi vì,  không chỉ thị trấn Kô Long với cái chuồng bò những năm 50, mà còn cả một giai đoạn mấy chục năm về sau với những cái chuồng bò khác.

Nhưng không, bữa ăn văn chương chỉ đến thế, đủ để suy tư và đau buồn. Cái khái quát nhất từ thị trấn Kô Long chật hẹp chính là luôn có một lũ gian ác khoác áo đạo đức giả khắp nơi. Người làm quan có chút thiên lương như chủ tịch Phạm Vũ, nếu không đạo đức giả được thì sẽ thần kinh, và rồi chỉ làm được cái việc diễn thuyết dông dài vô bổ và bắt ruồi.

Đi theo con đường bám riết cái chuồng bò mà chủ tịch Phạm Vũ chọn, thì trên đầu luôn có một bóng ma rùng rợn, ám ảnh đến nỗi mỗi lần nghe đến là Phạm Vũ chảy cả nước đái. Bóng ma đó là một ông “Thủ trưởng” độc ác và dối trá. Bên cạnh ông ấy luôn có một sát thủ giết người không gớm tay là  “Đội trưởng” với cây dao phay man rợ sẵn sàng xuống tay theo mệnh lệnh của Thủ trưởng. Nỗi ám ảnh đó ngày nay vẫn nguyên xi.

“Kiến, chuột và ruồi”, cái tựa như truyện ngụ ngôn. Có thể đúng, nhưng không phải ẩn dụ để rút ra bài học làm người đơn giản như thường thấy của ngụ ngôn.

Hãy nhìn một cái chuồng bò, gồm những thứ dơ bẩn nhất, hèn mạt nhất, gớm ghiếc nhất, phá hoại nhất, đó là kiến, chuột và ruồi; và tự hỏi có nên thiêu hủy nó như ông Kiểm Hát đã làm để gia đình ông chủ tịch Phạm Vũ có cơ hội được ở trong một căn nhà mới.

Vẫn còn đó cái chuồng bò với những đàn kiến, lũ chuột và bầy ruồi.

Sách có bán tại các tiệm sách địa phương, tại tòa soạn Nhật Báo Người Việt hoặc trên online www.nguoivietshop.com

Nguoi Viet Shop
Mua sách trên Người Việt Shop

Trung Quốc không cho hai chiến hạm Mỹ cập bến Hồng Kông

HỒNG KÔNG (NV) – Trong lúc đang có các cuộc biểu tình ở Hồng Kông, các giới chức chính quyền Trung Quốc đã bác bỏ yêu cầu của Mỹ là cho hai chiến hạm Hải Quân Mỹ ghé bến này trong ít tuần nữa để thủy thủ đoàn được đi bờ.

“Chính quyền Trung Quốc bác bỏ yêu cầu cho hai chiến hạm USS Green Bay và USS Lake Erie được ghé bến Hồng Kông trong thời gian vài tuần lễ tới đây,” theo lời Trung Tá Nate Christensen, phó phát ngôn viên của Hạm Đội Thái Bình Dương, nói với CNN hôm Thứ Ba, 13 Tháng Tám.

Chiếc dương vận hạm đổ bộ USS Green Bay dự trù cặp bến Hồng Kông hôm 17 Tháng Tám và chiếc tuần dương hạm USS Lake Erie dự trù sẽ ghé nơi này trong tháng tới.

“Hải Quân Mỹ từ lâu nay vẫn thường xuyên có các chuyến ghé bến Hồng Kông tốt đẹp và chúng tôi mong đợi là điều này vẫn sẽ được tiếp tục. Chúng tôi đề nghị quý vị liên lạc với phía chính quyền Trung Quốc để có thêm tin tức về lý do vì sao họ bác bỏ yêu cầu được ghé Hồng Kông,” theo Trung Tá Christensen.

Đây không phải là lần đầu tiên phía Trung Quốc bác bỏ yêu cầu cho chiến hạm Mỹ ghé Hồng Kông.

Năm 2018, Bắc Kinh hủy bỏ vào giờ chót một chuyến ghé thăm Hồng Kông của chiến hạm Mỹ sau khi Bộ Quốc Phòng Mỹ rút lại lời mời Trung Quốc tham dự cuộc thao diễn hải quân quốc tế vì Trung Quốc đưa hỏa tiễn ra đảo nhân tạo họ xây dựng ở Biển Đông, nơi có tranh chấp với các quốc gia láng giềng.

Các giới chức Trung Quốc trong thời gian qua cáo buộc Mỹ và các chính quyền khác đã hậu thuẫn cho phía tranh đấu đòi tự do dân chủ ở Hồng Kông, sau khi có các cuộc biểu tình bùng ra để phản đối dự luật dẫn độ.

Phía Mỹ nói không hề can dự vào vấn đề này.

Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Ba gửi tweet nói: “Tin tình báo của chúng ta cho biết Trung Quốc đưa quân đến biên giới với Hồng Kông. Mọi người nên bình tĩnh và an toàn.” (V.Giang)

[jwplayer 48SBO2vL]

Samuel L. Jackson tham gia dự án làm lại phim ‘Saw’

HOLLYWOOD, California (NV) – Dự án làm lại bộ phim về trinh thám và tội phạm nổi tiếng của hãng Lionsgate có tên “Saw” vừa công bố nam diễn viên Samuel L. Jackson chính thức góp mặt, cùng với tài tử Chris Rock.

Trong phần mới này, nam diễn viên Chris Rock sẽ vào vai vị cảnh sát thám tử điều tra về hàng loạt vụ án mạng động trời mà không tìm ra hung thủ. Tài tử Samuel L. Jackson vào vai người cha của Chris Rock. Trong khi đó, nam diễn viên Max Minghella, được biết đến qua vai bộ phim “The Handmaid’s Tale” của hãng phim trực tuyến Hulu và đạo diễn bộ phim “Teen Spirit,” cũng sẽ góp mặt trong dự án lần này.

Ngoài ra, nữ diễn viên Marisol Nichols, được biết đến qua bộ phim “Riverdale,” sẽ đóng vai cảnh sát trưởng trong “Saw.”

Hai nhà làm phim Mark Burg và Oren Koules tiếp tục là nhà sản xuất chính cho “Saw.” Bên cạnh đó, dự án lần này sẽ do đạo diễn Darren Lynn Bousman thực hiện.

Samuel L. Jackson sinh năm 1948, là nam diễn viên gạo cội và là nhà sản xuất phim nổi tiếng ở Hollywood. Hầu hết các bộ phim mà ông tham gia đều có doanh thu cao, giúp ông là một trong những tên tuổi được nhiều hãng phim săn đón.

Trong năm nay, khán giả gặp lại Samuel L. Jackson qua vai diễn điệp vụ Nick Fury trong cả ba phim của Marvel, bao gồm “Captain Marvel,” “Avengers: Endgame,” và “Spider-Man: Far From Home.”

Hiện tại, ông đang quay cho hai bộ phim là “Afro Samurai” và “The Last Dragon.”

Dự án làm lại “Saw” là do tài tử Chris Rock đề nghị. Các câu chuyện trong series trinh thám này từng giúp cho hãng Lionsgate kiếm gần $1 tỷ doanh thu toàn cầu. Bộ phim gần nhất có tên “Jigsaw,” phát hành năm 2017, nói về tên sát thủ máu lạnh nhưng cực kỳ thông minh Jigsaw Killer, đạt $100 triệu doanh thu.

Hãng Lionsgate hứa hẹn phần mới của “Saw” sẽ có cốt truyện hấp dẫn với các tình tiết cân não và phần kết sẽ gây nhiều bất ngờ cho khán giả.

Phim dự tính ra rạp 23 Tháng Mười, 2020. (N.A)

[jwplayer uDS5gilz]

TT Trump trả lời về quy định hạn chế người nhập cư ‘quá nghèo’

Reuters cho biết những nhà phê bình cho rằng, quy định mới hạn chế những người nhập cư hợp pháp chỉ vì họ “quá nghèo” hay có thu nhập thấp là đi ngược lại với lý tưởng quốc gia được ghi tại Tượng Nữ Thần Tự Do: “Give me your tired, your poor, your huddled masses yearning to breathe free.”

 

 

 

Chuyên gia Biển Đông: Trung Quốc sẽ quần nát bãi Tư Chính và kéo giàn khoan vào

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Sau một tuần lễ tạm rút đi, tàu khảo sát địa chất của Trung Quốc Hải Dương 8 (Haiyang Dizhi 8) đã quay lại hoạt động tại vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam ở khu vực bãi Tư Chính.

Trên trang Twitter của ông Ryan Martinson, giáo sư của trường Cao Đẳng Hải Chiến Hoa Kỳ, có những hình ảnh vệ tinh cho thấy vị trí tàu Hải Dương 8 đang có mặt trong vùng chủ quyền kinh tế của Việt Nam. Đi cùng tàu HD08 có ít nhất hai tàu hải cảnh hộ tống 33111 và 31302.

Hai tàu hải giám này có trang bị súng pháo 76 mm, theo tin từ ông Ryan.

Ngoài ra, cũng theo thông tin từ Twitter của ông Ryan, Trung Quốc thay thế tàu hải giám 35111 bằng tàu 45111 đến khu vực gần Lô 06.1, bể Nam Côn Sơn, phía Tây Bắc bãi Tư Chính, nơi hoạt động của giàn khoan Hakuryu 5 Nhật và công ty Rosneft Việt Nam B.V. (công ty con của công ty Rosneft của Nga.) Rosneft vừa gia hạn hoạt động cho giàn khoan Hakuryu 5 đến hết ngày 15 Tháng Chín, bất chấp yêu cầu của Bắc Kinh là phải dừng hoạt động.

Trung Quốc không từ bỏ tham vọng độc chiếm Biển Đông 

Động thái mới nhất này của Trung Quốc thật ra đã được các chuyên gia nghiên cứu Biển Đông dự đoán trước. Trả lời nhật báo Người Việt hồi đầu Tháng Bảy, Tiến Sĩ Hà Hoàng Hợp, chuyên gia nghiên cứu cao cấp thỉnh giảng tại Viện Nghiên Đông Nam Á (ISEAS) ở Singapore, từng nói tàu Hải Dương 8 có thể sẽ rút lui, nhưng chỉ là tạm thời, vì nó cần tiếp ứng nhiên liệu, lương thực và cả nhân sự.

Tiến Sĩ Nguyễn Thành Trung, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế (SCIS) có trụ sở tại Sài Gòn, hôm 9 Tháng Tám trả lời BBC Việt Ngữ với quan điểm tương đồng. Ông nói rằng nhiều khả năng Trung Quốc sẽ quay lại. Và nếu quay lại, Trung Quốc được dự đoán sẽ mang theo tàu như Hải Dương 981, nghĩa là sẽ trở lại với các giàn khoan di động. Bởi vì Trung Quốc chắc chắn sẽ không từ bỏ tham vọng độc chiếm khu vực Biển Đông.

Sáng Thứ Ba, 13 Tháng Tám, từ Hà Nội, Tiến Sĩ Hà Hoàng Hợp nhận định với nhật báo Người Việt về động thái mới nhất của Trung Quốc. Ông nói: “Cái chính sách của Bắc Kinh là nó muốn khẳng định vùng đó là vùng tranh chấp, nó có quyền. Nhưng thật ra vùng đó không phải là vùng tranh chấp. Nó nằm gọn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam 200 hải lý. Vùng ở ngoài của nó cũng nằm lọt trong vùng thềm lục địa của Việt Nam tức là 350 hải lý tính từ đường cơ sở bờ biển.”

Tiến Sĩ Hợp khẳng định về mặt pháp lý quốc tế thì Trung Quốc không có gì ở đây cả. Nhưng Trung Quốc luôn khẳng định chủ quyền vì đã ngang nhiên vẽ ra đường lưỡi bò.

Nói về đường lưỡi bò, Tiến Sĩ sử học Trần Đức Anh Sơn, người có hơn 10 năm nghiên cứu về Biển Đông, hiện sống tại Đà Nẵng, từng phân tích rất chi tiết. Ông đưa ra những dẫn chứng lịch sử trong buổi phỏng vấn với nhật báo Người Việt: “Họ dựa trên một bản đồ, được Bạch Mi Sơ là một quan chức của chính quyền của Trung Hoa Dân Quốc, lúc chưa tách khỏi Trung Hoa đại lục, lập ra. Ông này lập ra một bản đồ dựa trên bản đồ của người Anh và dịch tên gọi của các đảo trong Biển Đông chủ yếu do người phương Tây đặt tên, và chuyển các tên đó thành tiếng Trung Quốc.”

“Trên bản đồ này, ông ta xác định một vùng nằm giữa Biển Đông bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam và vạch một đường hình lưỡi bò, gồm 11 đoạn, rồi cho rằng những gì hiện diện bên trong đường 11 đoạn này là thuộc về Trung Hoa Dân Quốc. Sau đó các học trò của ông này tiếp tục cũng cố bản đồ đó, trình lên chính phủ Trung Hoa Dân Quốc năm 1947,” ông nói.

“Khi cuộc chiến tranh giữa Quốc Dân Đảng với Trung Quốc Cộng Sản kết thúc năm 1949, đảng Cộng Sản Trung Quốc thắng lợi, nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời, họ tiếp tục kế thừa những kiến thức này của Trung Hoa Dân Quốc. Tuy nhiên họ cũng không quan tâm lắm bởi vì lúc đó Trung Quốc là một nước có thủy quân rất yếu. Trong lịch sử họ đã có khoảng 400 năm từ thời cận đại đến thời hiện đại thực hiện chính sách ‘quay lưng lại với biển.’ Họ là tránh biển, chủ yếu tập trung vào lục địa,” ông dẫn chứng.

Ông nhấn mạnh: “Cho đến năm 1953, thủ tướng Trung Quốc mới bắt đầu quan tâm đến đường 11 đoạn. Có lẽ vì tình hữu nghị với chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, cùng hệ thống tư tưởng Cộng Sản nên ông ta đã bỏ hai đoạn trong vịnh Bắc Bộ, biến bản đồ 11 đoạn thành bản đồ 9 đoạn.”

Hai tàu hải giám của Trung Quốc vẫn ở Bãi Tư Chính. (Hình: Ryan Martinson)

Yêu sách của Bắc Kinh 

Như thế, việc Bắc Kinh cho tàu Hải Dương 8 quay trở lại bãi Tư Chính, bất chấp lên án của quốc tế, phản đối của Việt Nam đang nói lên điều gì?

Tiến Sĩ Hà Hoàng Hợp phân tích: “Hai năm nay Trung Quốc có đề nghị với ASEAN đàm phán để đưa ra Quy Tắc Ứng Xử ở Biển Đông (COC) có tính chất ràng buộc pháp lý. COC họ đưa ra gần đây nhất gồm có ba đòi hỏi cực kỳ vô lý.”

Theo ông, đòi hỏi thứ nhất là không được đưa công ước về luật biển 1962 của Liên Hiệp Quốc vào trong COC đó.

Đòi hỏi thứ hai là tất cả các nước ASEAN không được để cho một nước khác, tức là nước bên ngoài khối vào tập trận hay làm gì khác. Tất cả những việc như tập trận hay hoạt động chung về quân sự ở trong Biển Đông thì phải được sự đồng ý của tất cả các bên.

Đòi hỏi thứ ba là không có một nước nào để cho một nước ngoài khu vực đó được phép khai thác hay hoạt động khai thác trong vùng nếu không được sự cho phép của các nước còn lại.

“Ba đòi hỏi này hoàn toàn trái với luật pháp quốc tế, tức là nó bất chấp tất cả những quyền của các nước ASEAN, đặc biệt là bốn nước tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông,” ông nhấn mạnh.

Có một sự kiện cần phải nhắc lại, vào Tháng Bảy vừa qua, Bắc Kinh đã yêu cầu Việt Nam phải rút giàn khoan Hakuryu 5 Nhật Bản đang thăm dò dầu khí ở gần lô 06.1, bể Nam Côn Sơn.

Tiến Sĩ Hợp cho biết khi đó, Bắc Kinh đã từng đe dọa là nếu giàn khoan Hakuryu 5 không ngưng hoạt động thì “sẽ có chuyện” nhưng không nói là chuyện gì. Và lúc đó, tàu thăm dò của Trung Quốc đã vào bãi Tư Chính cùng với một nhóm tàu hải cảnh.

“Trung Quốc muốn khẳng định chủ quyền trên thực địa mà Trung Quốc sẽ không bao giờ có. Thứ hai, nó vào để thăm dò sau đó nó tiến hành khai thác. Tàu này không phải chỉ ra lấy dầu đâu, mà nó thay nhân sự, bổ sung thêm máy móc, lấy lương thực, nước ngọt và quay vào. Không chắc nó ở đây lâu, sẽ có một tàu to hơn sẽ đến. Tàu đấy sẽ cùng với Hải Dương 8 quần nát khu vực Bãi Tư Chính. Và cuối cùng là nó sẽ kéo giàn khoan vào để khai thác,” ông khẳng định.

Tiến Sĩ Hà Hoàng Hợp cho biết, theo dự đoán của ông, nếu tiếp tục những diễn biến này, thì phần nhiều sẽ xảy ra trận hải chiến, mà Trung Quốc sẽ là bên nổ súng trước.

Một nhận định rất ngắn gọn nhưng không kém phần sắc bén của ông Ryan Martinson khi đưa lên Twitter ngày 12 Tháng Tám cho biết, gần đây có rất nhiều quan tâm đến các hoạt động khảo sát biển của Trung Quốc tại Đông Nam Á. Điều quan trọng chúng ta cần phải nhớ là tham vọng hàng hải của Bắc Kinh là “toàn cầu.” Điều này đang xảy ra ngay tại Biển Đông. (C.Lynh)

[jwplayer 48SBO2vL]

Quán Văn – Kỳ 366

Con kên kên!

Đoàn Xuân Thu

Kevin Carter, một phóng viên nhiếp ảnh, sanh ngày 13 Tháng Chín, năm 1960, tại Johannesburg, South Africa (Nam Phi) ở khu toàn người da trắng, trong một gia đình trung lưu.Thời thơ ấu, ông thường thấy cảnh sát truy bắt những tội phạm người da đen gần nơi ông sinh sống.

Gia đình của ông theo đạo Công Giáo, đầu óc cởi mở, không thành kiến nên có lần ông đặt câu hỏi là: “Tại sao thân phụ và thân mẫu ông lại rụt rè yếu đuối trong việc đấu tranh chống tệ phân biệt chủng tộc đang bao trùm trên đất nước Nam Phi?”

Tốt nghiệp trung học, Carter bỏ ngang Đại Học Dược Khoa, không ra trường để làm dược sĩ mà tình nguyện gia nhập và phục vụ binh chủng Không Quân trong 4 năm. Năm 1980, ông chứng kiến một người hầu bàn da đen bị bức hiếp, bị xúc phạm, bị chửi bới. Carter đứng lên cương quyết bảo vệ người da đen nầy. Hâu quả những đồng đội hùa nhau đánh đập ông một trận thừa sống thiếu chết. Thế là ông đào ngũ.

Năm 1983, chứng kiến cuộc đánh bom ở Church Street ở Pretoria, Kevin Carter quyết định trở thành một nhà báo làm cho tờ Johannesburg Star, chuyên săn hình ảnh về sự tàn bạo của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đang xảy ra trên đất nước của ông.

Kevin Carter là người đầu tiên chụp ảnh ghi lại những cuộc treo cổ, hành hình công khai những người Nam Phi da đen vào giữa thập nên 1980. “Tôi kinh hoàng khi chứng kiến những việc họ làm. Và khi bức hình kinh khủng nầy được người dân Nam Phi bàn tán xôn xao lúc ấy, tôi nghĩ rằng chứng kiến những hành động kinh hoàng nầy phải được ghi ảnh lại.”

Kevin Carter.

Tháng Ba, năm1993, Liên Hiệp Quốc tin rằng những bức ảnh thê thảm về nạn đói kinh hoàng sẽ đánh động lương tâm nhân loại để loài người có thể chung tay góp thêm tài lực hầu cứu trợ những người dân khốn khổ đó. Kevin Carter chọn cơ hội làm phóng viên nhiếp ảnh tự do, tường trình về nhưng vấn nạn của nhân loại. Ông đến Nam Sudan đang chìm đắm trong cuộc nội chiến và nạn đói đang hoành hành trên đất nước miền Trung vùng Đông Phi nầy.

Và bức ảnh gây xúc động “The vulture and the little girl” (Con kên kên và em gái nhỏ) diễn tả một em gái nhỏ vì đói cúi gặp mình xuống mặt đất; trong khi một con kên kên đứng chực chờ gần bên đợi ăn xác gầy đói của em. Tờ The New York Times in bức ảnh vào ngày 26, Tháng Ba, năm 1993, làm chấn động lương tâm con người trên toàn thế giới. Hàng trăm độc giả đã gởi thư hoặc gọi vào The New York Times để tìm biết số phận của em gái nhỏ nầy sau đó ra sao? Tòa soạn, một lần rất hiếm hoi, đã trả lời là: “Sau khi con kên kên bị đuổi đi, em bé gái không biết có đủ sức để đến được nơi phân phát thực phẩm chống đói của cơ quan cứu trợ Liên Hiệp Quốc hay không?”

Câu trả lời của ban biên tập tờ The New York Times đã gây phản ứng rất dữ dội từ độc giả. Một số người nói rằng Kevin Carter, phóng viên ảnh đã chụp bức ảnh này, là vô nhân đạo! Tại sao không bỏ máy ảnh của mình ra để chạy đến giúp em gái khốn khổ nầy? (Sự thực là trong vài ngày đó, Kevin Carter đã đến những ngôi làng đầy  người chết đói. Lính Sudan có trang bị súng ống đầy đủ ngăn không cho ông can thiệp; ngay cả khi ông quyết định giúp đỡ đứa bé, những người lính cũng không cho).

Bức ảnh “The vulture and the little girl.”

Tháng Tư, năm 1994, bức ảnh đoạt giải The Pulitzer Prize for Feature Photography, Kevin Carter bước lên đỉnh vinh quang! Cuộc tranh cãi về bức ảnh như bị giải thưởng danh giá nầy đổ dầu vào lửa, bùng lên ác liệt hơn. Là tác giả, Kevin Carter bị chấn thương trầm trọng về tâm lý! (Năm 2011, thân phụ của đứa bé khốn khổ trong ảnh cho biết thật ra đó là một bé trai tên là “Kong Nyong.” Em sau đó đã tìm đến được trung tâm giúp đỡ về thực phẩm của Liên Hiệp Quốc. Nhưng buồn thay năm 2007, em đã chết vì bị bệnh sốt Châu Phi.)

***

Ngày 24, Tháng Bảy, năm 1994, Carter lái xe trở về quê cũ của thời thơ ấu. Ông tự sát bằng cách nối ống xả khói từ chiếc xe bán tải của mình rồi từ giã cõi đời vì ngộ độc khí carbon monoxide khi chỉ mới vừa 33 tuổi. Thư tuyệt mạng để lại, Kevin Carter trăn trối: “Tôi thật sự thật sự rất tiếc. Nỗi đau của cuộc sống đè lên niềm vui đến mức niềm vui không tồn tại… chán nản… không có điện thoại… không trả được tiền mướn nhà… tiền giúp vợ cũ nuôi con… không tiền trả nợ… tiền!… Tôi bị ám ảnh môt cách dai dẳng bởi những ký ức sống động về giết chóc và xác chết… sự tức giận và đau đớn… về những đứa trẻ bị bỏ đói hoặc bị thương, của những kẻ cuồng sát bệnh hoạn một cách sung sướng, thường cảnh sát (lại) là những tên chuyên hành quyết giết người…” “Thôi tôi đi gặp Ken đây.”

Ngay cả lúc người bạn thân nhất, Ken Oosterbroek, bị bắn chết thì Carter cảm thấy người bị bắn phải là mình; vì lúc đó Carter không có mặt bởi ông đang bận trả lời phỏng vấn của báo chí về việc giành giải Pulitzer.

***

Mang măc cảm tội lỗi vì chứng kiến những cái chết tàn khốc của nạn nhân mà bất lực, không làm được gì để cứu họ. Đối phó với nỗi kinh hoàng do nghề nghiệp gây ra, Kevin Carter tìm đến cocaine và các loại ma túy khác để tìm quên vô số vụ giết người tàn bạo! Từ đánh đập, đâm chém, bắn giết. Và hành vi man rợ nhứt, Kevin Carter từng chứng kiến bọn ác đã quàng quanh cổ nạn nhân một chiếc lốp xe hơi chứa đầy dầu rồi châm lửa đốt.

Kevin Carter thường tâm sự với người bạn Judith Matloff, phóng viên chiến trường, về cảm giác tội lỗi khi mình không thể cứu được mà chỉ lo chụp ảnh họ khi họ đang bị giết.

***

Kevin Carter đã dành hết phần lớn cuộc sống của đời mình vào việc vạch trần sự tàn ác xấu xa của chủ nghĩa apartheid (phân biệt chủng tộc) và bây giờ – theo một cách nào đó – nó đã kết thúc, khi Nelson Mandela ra khỏi tù, sau 27 năm bị gian cầm, để trở thành tổng thống Nam Phi vào ngày mùng Mười, Tháng Năm, năm 1994, chỉ sau một tháng ngày Kevin Carter đoạt giải Pulitzer.

Và cũng nhờ bức ảnh đáng nhớ nầy về nạn đói, Sudan đã được cả thế giới biết đến. Carter cuối cùng đã để lại một dấu ấn không thể phai mờ trên lương tâm của cả Địa Cầu!

***

Thế giới bây giờ, chủ nghĩa dân túy hẹp hòi đang tràn lan khắp Địa Cầu như bịnh dịch. Các chánh trị gia mị dân đầy thủ đoạn, lợi dụng lòng ái quốc cực đoan của một số người, ngầm cổ võ, khuyến khích sự dửng dưng trước nỗi thống khố của con người. Ngay cả nước Úc nơi từng nổi tiếng bao dung mà nay cũng không thoát khỏi vòng xoáy khắc nghiệt, dã man đó. Thân phận của một người tị nạn, người đã từng chứng kiến biết bao là tội ác trong đời nhưng dẫu vậy bức ảnh do Carter chụp kia cũng khiến tôi cực kỳ xúc động!

Nên đêm nay, mùa Đông Melbourne,ngoài trời nhiệt độ xuống tới 5 độ C, lạnh buốt! Nhà được sưởi ấm, nhìn qua khung cửa sổ, trời đang lắc rắc mưa, tôi lại nghĩ đến những người cùng khổ của quê mình, quê người, của toàn thế giới, tôi viết một bài thơ:

“Thằng da trắng mập, chạy vòng vòng vì sợ mập.
Em da đen gầy còm lết đi tìm một miếng ăn
Con kên kên kiên nhẫn chờ em chết.
Khi tử thần quanh quẩn ở đâu đây!
Nhà nhiếp ảnh thản nhiên nhìn, tay bấm máy!
Thế giới gì tàn nhẫn vậy Chúa ơi?”

Già rồi! Tuyến lệ của tôi đã cạn lâu rồi nhưng có những nỗi đau đớn của đời người, biết bao nhiêu nước mắt cho đủ chớ?!

(Nguồn: Patrick Willay, [email protected])



60 năm nhìn lại: Cuộc di cư 1954 – vĩnh biệt Hải Phòng

Trùng Dương
(Kính dâng hương hồn cậu mợ, với lòng tri ân sâu xa)

Khi cuộc di cư 1954 diễn ra, tôi vừa lên 10 tuổi, đang sống với gia đình ở Hải Phòng, cái thành phố hải cảng đã trở thành chặng cuối cùng đối với hàng trăm ngàn người Việt miền Bắc muốn di cư vào Nam thay vì ở lại sống dưới sự cai trị hà khắc phi nhân bản của Việt Minh, tên gọi của những người Cộng Sản hồi ấy.

Cũng cái thành phố hải cảng này đã là nơi Bác Sĩ Trung Úy Hải Quân Mỹ Thomas A. Dooley, và vài quân nhân Mỹ đã làm việc trong suốt 11 tháng, từ giữa Tháng Tám, năm 1954, tới giữa Tháng Năm, năm 1955, để giúp dân tị nạn ổn định sức khỏe trước khi gửi họ lên tầu Mỹ di cư vào Nam. Kết quả của thời gian hoạt động này đã được Bác Sĩ Dooley ghi lại trong cuốn hồi ký “Deliver Us From Evil” (“Xin cứu chúng tôi khỏi mọi sự dữ, ” trích từ một câu trong Kinh Lạy Cha của tín đồ Thiên Chúa Giáo) xuất bản vào năm1956 (*). Cuốn sách, mô tả, với sự quan tâm chân thực, xót xa của một vị lương y mới ra trường, những giao tiếp của ông với dân di cư từ các vùng quê đổ về, phần lớn là những giáo dân thuộc đạo Thiên Chúa, đói rách và bệnh hoạn, và nghe kể về những cảnh huống tàn bạo ngoài sức tưởng tượng mà những người dân quê phải gánh chịu do những người Cộng Sản cuồng tín gây ra.

Cha mẹ tôi không có ý định di cư vào Nam. Cha mẹ tôi nguyên là con nhà nông thuộc giới điền chủ. Ông bà cùng sinh ra vào khoảng năm 1910, và lớn lên ở làng Trình Xá, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông. Cha tôi là con trai duy nhất trong một gia đình gồm năm chị em. Ông học lực chỉ xong được bằng tiểu học, và với tí vốn liếng học thức đó, ông được bầu làm lý trưởng, hay xã trưởng, thời vua chúa xưa là hương mục, có trách nhiệm trông coi tài sản công và tư của làng. Hồi còn nhỏ tôi nghe mẹ tôi kể chuyện là, vì ông có máu mê cờ bạc, nên có cái triện để đóng dấu trên những giấy tờ sang nhượng ruộng đất bà nội tôi nắm giữ luôn, còn cẩn thận cuốn trong ruột tượng quấn quanh bụng suốt ngày đêm cho chắc ăn, để ông không tự do bán ruộng đất của gia đình. Do đấy, mỗi lần có ai tới xin ông lý trưởng đóng nhận một sang nhượng bất động sản nào đó, ông lại phải nói với mẹ cho mượn cái triện. Có lẽ cái say mê nhất của ông là xe hơi và máy móc mà những lần ra tỉnh chơi ông đã thấy, và có để ý theo dõi việc làm ăn của một ông chú của tôi, chủ một hãng xe đò ở Hà Nội.

Tôi không nhớ ông bà quyết định dọn ra tỉnh vào năm nào, vì chỉ có ở tỉnh ông mới được thỏa mãn lòng say mê máy móc xe hơi, song căn cứ vào năm và nơi sinh, là tỉnh Sơn Tây, của các anh chị kế tôi, thì có lẽ vào khoảng năm 1940 hay trước đó đôi năm. Tóm lại trong đám anh chị em 11 đứa tụi tôi thì ba người đầu sinh ở quê, năm người, trong đó có tôi là thứ bẩy, ra đời ở Sơn Tây, và ba đứa em cuối cùng sinh ở Hải Phòng. Thoạt đầu cha tôi làm công cho người ta. Dần dà ông tậu được một cái xe chở hành khách, dạy anh Cả và vài người cháu trai đồng lứa học lái, sửa xe và đi theo làm lơ xe. Có lần, mẹ tôi kể, chiếc xe đò của ông bị quân đội Pháp trưng dụng đi sang tận bên Miên, Lào mà mẹ tôi không được tin tức gì tới hai tuần, cuối cùng ông vể kể chuyện bà mới hay. Ông làm ăn vất vả nuôi một bầy con lúc nhúc. Cũng nhờ sự chịu khó cần cù của ông mà hồi xẩy ra nạn đói năm 1945 giết chết cả triệu người miền Bắc, gia đình tôi lớn bé không có ai bị thiếu ăn cả.

Các thủy thủ trên tầu Hoa Kỳ USS Bayfield cầm biểu ngữ chào mừng đoàn người di cư.

Trí nhớ của tôi bắt đầu ghi nhận được là lúc gia đình tôi đã dọn xuống Hải Phòng, có lẽ vào cuối thập niên 1940. Nhỏ nên không biết gì về tình hình chiến sự sôi động hồi ấy, nhưng tôi nhớ có lần anh lơ xe hớt hãi chạy về giữa ban ngay, nói không ra hơi, báo với cha tôi, vỏn vẹn: “Ông ơi, xe bị mìn lật rồi!” Cha tôi lặng người chết đứng, mẹ tôi ngưng mọi việc đang làm thất thần nhìn cha tôi, trong khi lũ nhỏ chúng tôi biết đã tới lúc đi chỗ khác chơi.

Cha tôi, như nhiều người Việt khác, là người có khả năng sinh tồn mạnh mẽ, sẵn sàng vượt qua mọi trở ngại và bất hạnh của đời sống để lo cho gia đình. Vào các năm trước cái gọi là Chiến Thắng Điện Biên Phủ, rồi tiếp theo là việc ký kết Hiệp Định Genève vào mùa Hè năm 1954 giữa Pháp, chính phủ Bắc Việt của Hồ Chí Minh, Lào, Trung Cộng, Liên Xô và Anh (Hoa Kỳ từ chối không ký, còn chính phủ Nam Việt Nam không nằm trong những phe ký nên không chấp nhận hiệp định đình chiến này) được ký kết, cha tôi đã làm chủ một hãng xe chở hành khách gồm cả xe đò và xe nhỏ, hình như hiệu Citroen, không rõ tại sao gọi là xe lô-ca-xông, tôi đoán từ chữ “location,” ngược xuôi các tuyến đường Hà Nội-Hải Dương-Kiến An-Hải Phòng và Hải Phòng-Đồ Sơn, tôi nhớ đại khái thế. Hãng xe của cha tôi tên là Đông Bình, nên người ta hay gọi cha mẹ tôi là Ông Bà Đông Bình, chúng tôi là con Ông Bà Đông Bình. Tôi không bao giờ có dịp hỏi tại sao ông chọn tên đó, nhưng nghĩ có lẽ đó là do khao khát được nhìn thấy hòa bình trên dải đất dọc theo bờ biển Thái Bình Dương lâu nay chiến tranh triền miên này. Hai người anh họ con mấy bà bác ruột của tôi cũng mỗi người được cha tôi nâng đỡ tậu được một hay hai xe chở hành khách, tự đặt tên là Bắc Bình và Nam Bình. Tôi không rõ vì sao cha tôi không nghĩ tới việc mua bất động sản, mà suốt thời gian sống ở Hải Phòng ông thuê nhà chứ không mua. Tôi còn nhớ ngôi nhà chúng tôi ở trước khi di cư vào Nam là ở số 3 Ngõ Nghĩa Lợi, một đầu ngõ gặp đường Cát Dài, và đầu bên kia đụng một đường rầy xe lửa nằm bên cạnh một hồ sen mà hình ảnh vẫn còn in trong trí nhớ tôi, mà loài sen là hoa tôi rất thích. Không mua nhà đất có lẽ vì cha tôi thấy không cần thiết vì ông chắc chắn sẽ thừa hưởng nhiều ruộng đất để lại của bà nội tôi khi bà qua đời.

Vào những ngày trước khi kết thúc cuộc chiến mà sách vở gọi là Cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954) và nhiều người trong chúng ta cho là không cần thiết vì sau Đệ Nhị Thế Chiến đa số các nước thuộc địa đều lần lượt trước sau lấy lại được độc lập mà không cần đổ máu, tin dữ từ nhà quê ra: Bà nội tôi chết sau khi bị trúng một mảnh mọc chê vào đầu trong khi đang trốn dưới một cái phản gỗ vào một đêm nọ. Bà tôi chết khi được 84 tuổi, tuy già nua nhưng cụ còn khá minh mẫn. Mỗi lần nhớ đến bà nội thì tôi không thể không nhớ tới một lần về quê ăn Tết, tôi ở miết bên nhà ông cậu ruột vì ở đó có các người em họ cỡ tuổi tôi hay lớn hơn. Đến giờ đi ngủ, bà tôi lụm cụm tay xách cây đèn dầu tay chống gậy sang đón về nhưng tôi không chịu về. Tôi sợ những nét già nua nhăn nheo của bà một phần, nhưng sợ nhất là cái quan tài bằng gỗ sơn đỏ bà sắm sẵn để trong cái gian đầu nhà chuyên để chứa thóc gạo và các đồ lỉnh kỉnh khác.

Hiệp Định Genève được ký kết vào ngày 20 Tháng Bảy, năm1954, chia cắt Việt Nam làm hai, miền Bắc do Việt Minh cai trị, miền Nam sau đó trở thành một quốc gia mới. Người dân hai miền có 300 ngày để chọn nơi mình muốn sinh sống. Quê tôi là một trong những vùng được Việt Minh tiếp thu sớm nhất vào cuối năm 1954. Cha tôi quyết định gửi vợ chồng anh Cả và đứa con gái đầu lòng mới được mấy tháng về nhà quê sống. Cùng đi với anh chị Cả là anh Sáu, tôi và thằng em Chín. Như nhiều chủ gia đình Việt xưa, cha tôi ít khi giải thích lý do ông có một quyết định nào đó, hoặc có thì ông cũng chỉ bàn với anh Cả, vì khi viết bài này tôi hỏi chị Năm, người chị kế tôi, chị cũng nói không rõ tại sao cha tôi quyết định gửi một số con về quê ngay sau khi đình chiến. Tôi suy đoán là thứ nhất, anh Cả hồi ấy bị động viên, đã mặc đồ lính (tôi còn nhớ, mặc dù hồi ấy chỉ mới 9, 10 tuổi, đã trố mắt trước vẻ đẹp trai khác thường của ông anh trong bộ quân phục mầu rêu khít khao với thân hình và cái nón chào mào cùng mầu), có lẽ là bỏ ngũ về quê sống, có thể là do ý muốn của cha mẹ tôi vì lo cho cậu con cả. Ngoài ra, có thể cha tôi, cũng như đa số người Việt ở thành thị hồi ấy chưa biết gì về hậu quả của các cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu đã và đang diễn ra ở các làng quê nhưng chưa về tới làng tôi, nên ông gửi một số con về quê để tiện thể trông nom ruộng đất chăng.

Chúng tôi về quê sống được vài tháng vào cuối Hè và đầu Thu, thì một bữa chị Năm, hồi ấy mới 14 tuổi song tính nhanh nhẹn nên được cha tôi tin cậy giao phó việc đi đi về về đem tiền bạc và thông tin, được cha tôi gửi về bảo thu xếp về Hải Phòng để đi Nam. Để tránh nghi ngờ là có ý định đi Nam, có thể bị bao vây giữ lại, khi ra tới Hà Nội, lúc ấy cũng đã bị tiếp thu, chúng tôi phải giả bộ như sẽ sinh sống ở đó, bằng cách thuê một căn phòng nguyên là lớp học ở trong một nữ tu viện và trường học mà hầu hết nhân sự đã di cư, nằm trên đường Hai Bà Trưng, để ở ít tuần. Anh Sáu và thằng Chín thì đã theo chị Năm về Hải Phòng trước, còn tôi ở lại với gia đình anh chị Cả để giúp trông con cho chị. Để cho màn trình diễn có vẻ thực hơn, tôi còn được ghi danh đi học lớp ba hay tư ở một trường công tại đây. Tất nhiên vì là con nít nên tôi không được cho biết các mưu tính đó của các người lớn.

Khi chúng tôi chuẩn bị đi Hải Phòng thì tôi được người lớn dặn dò là nếu có ai hỏi đi Hải Phòng làm gì thì nói là đi thăm người nhà sắp đi Nam để khuyên họ ở lại, đừng đi Nam nữa vì nước nhà đã độc lập tự do. Ngoài ra, riêng tôi còn được giao thêm một việc nữa, đó là khi các cán bộ Việt Minh sắp khám đến chị Cả đang bế cháu bé thì tôi phải tìm cách… cấu vào đùi con bé thật mạnh để nó phải khóc ré lên và chị Cả sẽ đưa nó cho tôi bảo bế ra ngoài. Thế nhưng chính việc đó lại làm cho người nữ cán bộ khám chị Cả càng sinh nghi, túm tôi lại và lột lấy hai chiếc giầy trên chân con cháu, lôi ra và tịch thu hai cọc giấy bạc tiền Đông Dương còn mới tinh. Tuy thế, chúng tôi sau đó cũng được phép lên xe đi Hải Phòng, chỉ có mớ tiền ở lại. Của đi thay người, chị tôi ứa nước mắt suýt xoa tiếc của song tự an ủi. Lúc ấy chúng tôi hoàn toàn không biết tới những cảnh tìm đường vượt thoát vô cùng thương tâm của bao nhiêu ngàn con người muốn tìm đường tới Hải Phòng, một thành phố đang hấp hối song vẫn còn là nơi cho họ cái hy vọng tới được Đường Tới Tự Do – Passage to Freedom – như tên Chiến Dịch Đường Tới Tự Do do Hải Quân Hoa Kỳ đảm trách, bên cạnh Pháp và Anh lo phần chuyên chở người vào Nam bằng máy bay (**).

Nếu trong cuộc di cư 1975 và sau đó, câu hỏi của hầu hết người Việt ở Miền Nam, trong một cái xã hội vô vọng mà “đến cả cái cột đèn nếu biết đi thì cũng tìm cách đi,” là làm sao để đi; thì ở thời điểm 1954 tình thế phức tạp hơn, và câu hỏi lớn nhất của họ là nên đi hay ở. Trước hết, một trong những điều khoản của Hiệp Định Genève là hai năm nữa, vào năm 1956, sẽ có một cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước và người dân hai miền Nam Bắc tự định đoạt lấy thể chế chính trị thích hợp. Đây chính là điều đã, theo tôi, khiến nhiều người dân miền Bắc quyết định ở lại để chờ cái ngày không bao giờ đến đó, một phần cũng vì quá mệt mỏi với chiến tranh và muốn thấy hòa bình bằng mọi giá, và cũng vì tiếc của, bên cạnh ảnh hưởng bởi một chiến dịch tuyên truyền ráo riết của Việt Minh. Tuyên truyền và cả dọa nạt, nhất là đối với dân quê, rằng tầu “há mồm” của Mỹ sẽ đưa họ ra biển rồi mở cái cổng mồm đó và trút họ xuống biển, hoặc thủy thủ Mỹ sẽ nướng con nít ăn thịt nếu đến với họ, v.v… Và thứ hai là dạo ấy chỉ có một số ít nghe biết, chứng nhân thì lại càng ít hơn, được những cuộc tàn sát giết hại và đày đọa những người không cùng chính kiến của người Cộng Sản.

Cha tôi, tôi nghĩ, thuộc loại người đã quá mệt mỏi với chiến tranh, muốn tin vào cái viễn ảnh tổng tuyển cử năm 1956, và nhất là tiếc của, của do ông đã tốn bao mồ hôi nước mắt tạo dựng nên và đất đai mà ông tưởng là sẽ được thừa hưởng của bà tôi. Tuy vậy, ông cũng còn bán tín bán nghi, chưa quyết sẽ có di cư hay không. Và có lẽ để cho dễ dàng quyết định vào phút chót, cha tôi bảo anh Cả đem gia đình anh và một số các em vào Nam, trong đó có chị Ba, chị Năm, anh Sáu và tôi.

Nghe biết sẽ phải đi Nam với chúng tôi, chị Ba khóc lóc thú nhận đang yêu anh Tuấn và muốn được cha tôi chấp thuận cho lấy anh, mà gia đình anh Tuấn thì đã nhất định ở lại. Chị Ba là người đẹp nhất trong đám sáu chị em gái chúng tôi, và khá tân tiến: chị là người đầu tiên trong gia đình tôi đi uốn tóc, và chị còn học chơi đàn guitar nữa. Tôi hay ngồi xem chị gẩy đàn và hát bài “Dư Âm,” có lẽ là bài chị chọn để học đánh đàn, nên tôi rất nhớ bài đó vì nghe tới nghe lui. Cha tôi tất nhiên là rất tức giận vì bị đẩy vào một trường hợp khó xử: trước khi chấp thuận cho chị Ba lấy anh Tuấn, ông lại còn phải xin từ hôn với gia đình anh Nhân, là người đã làm đám hỏi với chị Ba, chỉ chờ ngày cưới. Việc chị Ba từ hôn vậy mà cũng thành một tin trên một tờ báo địa phương, tôi còn nhớ đã đọc được. Dù vậy, chị Ba cuối cùng cũng được toại nguyện: lấy chồng trong một đám cưới chạy tang rất đơn sơ, vì bên gia đình chồng đang có tang. Nghe nói chị bị mẹ chồng đối xử không tốt. Nhiều năm tháng sau đó, tôi được đọc mấy cái bưu thiếp chị gửi vào xin một chiếc xe đạp. Tôi không nhớ lời yêu cầu của chị có được đáp ứng. Chị đã qua đời vì bệnh tiểu đường cách đây gần hai thập niên.

Khác với đa số người di cư 1954 đáp tầu Mỹ, chúng tôi được di tản bằng máy bay do Pháp cung cấp. Đó là vào một ngày Tháng Ba, năm 1955, và đấy là lần đầu tiên tôi được đi máy bay, nên bụng dạ làm reo, ói lên ói xuống, ngồi trên xe GMC chở từ phi trường Tân Sơn Nhất đến nhà ông chú ở đường Phan Đình Phùng để tá túc tạm, tôi vẫn còn ói. Chúng tôi vừa mới ổn định chỗ ở tại một căn nhà gỗ, không có cầu tiêu riêng, thuê được ở bên Khánh Hội chưa được bao lâu thì có thư của cha tôi nói ông đã quyết định ở lại, bảo mấy anh em ở trong Nam tự lo liệu lấy. Tôi khóc sưng cả mắt, nghĩ từ đây sẽ không còn gặp lại cha mẹ và các em, nhất là Tám, cô em thua tôi hai tuổi song hai đứa rất gần nhau từ hồi nhỏ. Chị Năm mới 15 tuổi, phải khai gian lên hai tuổi để xin đi làm sau khi học lấy được cái bằng đánh máy, rồi sau đó vừa đi làm vừa đi học thêm tiếng Anh. Anh Cả thì mướn xe taxi chở khách, trong khi chị Cả đi buôn quần áo từ trong Chợ Lớn rồi thuê sạp ở chợ bán lại. Anh Sáu và tôi còn nhỏ, 12 và 10 tuổi, nên được đi học.

Tôi làm quen với đời sống của vùng đất mới có tên là Sài Gòn, thấy cái gì cũng lạ. Một vài chi tiết mà tôi thấy ngộ nghĩnh, nói lên đặc tính dễ dãi và xởi lởi của người Miền Nam: Đi mua đồ giá năm cắc, tức 50 xu, đưa tờ giấy một đồng, người bán hàng thản nhiên xé tờ giấy bạc làm đôi cái rẹt, đưa trả lại mình một nửa. Tôi thích lối làm bánh mì của miền Nam, đầy tính sáng tạo: ngoài thịt nguội hay ba tê còn có đồ chua, ngò và dưa leo, mà ở bên Mỹ bây giờ chúng ta gọi là Vietnamese sandwich.

Nhưng cái tôi thích nhất của miền Nam là vô số truyện bằng tranh, một loại sách không thấy ở miền Bắc, và những nhà cho thuê truyện, thay thế cho những thư viện công cộng không hiện hữu ở Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung. Miền Nam, từ đấy, mở ra không biết bao nhiêu là cơ hội, so với miền Bắc sau ngày bức màn tre buông xuống. Kể từ ngày bắt đầu cầm bút sáng tác, đặc biệt sau khi đọc cuốn sách “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của Hoàng Văn Chí (***), tôi thường cố thử hình dung mình sẽ ra thể nào nếu lớn lên ở miền Bắc. Có lẽ, giống như một nhà phê bình Miền Bắc nói vài năm trở lại đây, rằng nếu họ được sống ở miền Nam thì họ cũng sáng tác nên những tác phẩm đâu thua của văn nghệ sĩ của miền Nam, và ngược lại.

Thế rồi đùng một cái, lại có thư của cha tôi nói quyết định đi Nam. Lúc bấy giờ đã gần tới ngày Việt Minh tiếp thu Hải Phòng. Nhà của cha mẹ tôi cũng là nơi các người thân trong họ từ làng quê, mượn lý do “đi Hải Phòng khuyên người thân ở lại vì nước nhà đã độc lập tự do” để xin giấy thông hành di chuyển, tới ở tạm trong khi chờ ngày lên tầu đi Nam. Cha mẹ tôi chắc đã nghe không thiếu các thảm cảnh cải cách ruộng đất và địa chủ bị đấu tố và xử tử ở các vùng quê, bên cạnh các chuyện cấm đạo, giáo dân bị buộc đi học tập chính trị vào đúng lúc có Thánh lễ, các giáo sĩ bị tra tấn, hành hung. Một trong những chuyện kinh hoàng nhất là việc một ông linh mục bị Việt Minh đóng bẩy cây đinh xung quanh đầu giả làm mão gai, được vài giáo dân chở tới trại tạm trú ở Hải Phòng dưới sự điều động của Bác Sĩ Dooley để nhờ ông cứu chữa (****). Thấy không thể ở lại được nữa, cha mẹ tôi bán tống bán tháo tài sản để đi Nam, bằng lòng nhận vàng thay vì tiền mặt, hồi ấy là tiền Đông Dương có in hình ông Bảo Đại. Những gì không bán được hay muốn giữ lại thì giao cho chị Tý, đã ở với gia đình tôi được vài năm để nuôi em gái út của tôi, đi theo tầu Mỹ chở vào Nam, cùng với anh Tư và Út, cận ngày Hải Phòng đóng cửa. Tóm lại, gia đình tôi tổng cộng gần hai chục người thì chia nhau đi Nam thành bốn đợt, kể cả đợt chị Hai theo chồng lúc ấy có quốc tịch Pháp di cư vào Đà Nẵng trước mọi người trong gia đình.

Khi cha mẹ tôi đem vàng đi bán, định để mua một căn nhà để gia đình an cư và lo chuyện xây dựng lại cuộc đời thì khám phá ra là toàn vàng giả. Tôi có thể hình dung ra nỗi đau đớn của ông bà khi ở tuổi ngoài 40, chợt thấy hai bàn tay trắng, với một lũ con mà phần lớn còn nhỏ, tại một vùng đất lạ hoắc.

Dù vậy, tôi không hề nghe ông bà than phiền hay nuối tiếc đã bỏ mọi thứ để đem anh chị em tôi đi Nam. Tôi sẽ mãi mãi ghi ơn ông bà đã chọn lựa miền Nam làm nơi cho anh chị em tôi lớn lên, trong một không khí tự do dù là tương đối. Chỉ tiếc là 20 năm sau, chúng tôi lại phải đối đầu với thêm một lần bỏ cửa bỏ nhà ra đi tới những nơi còn xa hơn từ Bắc vào Nam, tuốt tận bên kia đại dương nghìn trùng. Và không đứa nào trong vài anh chị em chúng tôi đi thoát được khỏi Việt Nam vào những ngày cuối cùng của Tháng Tư, năm 1975, đã đem theo được cha mẹ già. Cha tôi không muốn đi, nói đã lớn tuổi, rằng ông không dính dáng gì tới chính quyền Cộng Hòa hay Mỹ, nên chẳng lo, và có lẽ cũng không muốn nhờ vả con cái. Mẹ tôi thì rất muốn đi khỏi Việt Nam, nhưng thấy cha tôi không muốn đi nên cũng lặng lẽ gạt nước mắt nhìn chúng tôi lần lượt biến mất khỏi cuộc đời bà.

Mẹ tôi mất khoảng một năm sau ngày Sài Gòn thất thủ, có lẽ vì bị tim. Cha tôi nể lời con cái bằng lòng đi Mỹ đoàn tụ vào đầu năm 1983, nhưng cũng chỉ sống được tám tháng thì qua đời, vì bệnh một phần, song có lẽ vì cảm thấy quá cô quạnh.

Cuộc di cư vĩ đại này có sự tham dự của 115 chiến hạm và các loại tầu lớn, nhỏ khác của Mỹ, và đã chuyên chở trên 310, 000 người trong số 800, 786 tổng số người di cư cho tới Tháng Năm, 1955, kể cả dân lẫn quân sự, từ Bắc vào Nam. Số còn lại do các cơ quan của chính phủ Việt, Pháp và Anh đảm trách, bằng phương tiện vừa tầu thủy vừa máy bay. Ngoài ra, có khoảng trên 40,000 người tự túc bằng các phương tiện riêng. Số người bị Việt Minh ngăn cản bằng mọi cách, kể cả đe dọa và hành hung, không cho tới được Hải Phòng để đáp tầu vào Nam ước tính lên tới nhiều chục ngàn người.

[TD, 2014/07]

Chú thích:

(*) Thomas A. Dooley, M. D. , Deliver Us From Evil – The Story of Viet Nam’s Flight to Freedom, New York: Farrar, Straus and Cudahy, 1956, có thể tải xuống toàn bộ cuốn sách tại https://archive. org/details/deliverusfromevi006715mbp. Cuốn sách đã được chính phủ Mỹ hồi ấy dùng vào chiến dịch tuyên truyền chống Cộng của thập niên 1950 và 1960. Cũng do đấy mà có nhiều người Mỹ, kể cả giới học giả thuộc phong trào chống cuộc chiến tại Việt Nam vào thập niên 1960, đã kết luận, hoặc để biện minh cho khuynh hướng chính trị hay hành động chống đối nào đó của mình, rằng ông Dooley đã thiên lệch vì làm việc cho cơ quan tình báo Mỹ CIA dạo ấy. Có lời phê bình còn độc địa hơn cho rằng những chuyện trong sách hoàn toàn bịa đặt cho chủ đích tuyên truyền của chính quyền Mỹ.

(**) Xem “60 Năm Cuộc Di Cư Lịch sử 1954, đọc ‘Chiến dịch Đường Tới Tự Do’” http://www. diendantheky. net/2014/07/trung-duong-60-nam-sau-cuoc-di-cu-lich. html

(***) Hoàng Văn Chí, Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, http://www. talawas. org/talaDB/showFile. php?res=9495&rb=08

(****) Deliver Us From Evil, trang 198; và “Viet Nam: The Lesson of Seven Nails, ” Time, 21 tháng 2, 1955, http://content. time. com/time/magazine/article/0, 9171, 892973, 00. html

Bản đồ về hành trình của mỗi chuyến tầu do Hải Quân Hoa Kỳ đảm trách chở người di cư từ Hải Phòng vào Sài Gòn trong cuộc di cư năm 1954-55. (Hình National Geographic, số tháng 6-1955)



Thơ Lê Minh Hiền

đại lục buồn

em có bao giờ buồn không em
có nghe mằn mặn buồn môi mềm
có nghe tiếng thở dài độc thoại
lặng người nhịp một tiếng con tim

em có bao giờ buồn không em
có lê đôi chân trần lối mưa
có quơ hai nhánh tay mòi mỏi
ước lúc buông mình xuống cội hoa

em có bao giờ buồn không em
mùa nguyên xuân đẹp chuyện hoang đường
mùa đông miên ấm nồng huyền thoại
lặt cánh Lụa Là: không… có… không…

em có bao giờ buồn không em
ta đi qua những tháng năm dài
nhớ một chút tình xưa đã mất
nên lời thơ có bao giờ vui

 

đời ta xưa ban mai lắt lơ
bây giờ là những chiều và khuya
vừa xếp vần thơ vừa muốn khóc
nhìn quanh nhìn quẩn chỉ có ta

đời ta dài suốt bước mộng du
cả một đại dương mặt sóng duềnh
trầm tích đáy sâu thành đại lục
ngàn năm đại thụ rễ quấn quanh
stanton california, june 25th 2019.

Yêu em con gái

Qua hạ thu
về anh nhớ ngất ngư
em như từ quá khứ
ôi buồn thẩn thơ là buồn
Nhớ em
hồn anh tuổi trẻ vui với muốn
đêm xưa đưa nhau về còn ức..

Bây giờ đã biết mùi đời
thì thật lạ kỳ:
muốn yêu thôi
chỉ yêu qua dáng yêu

Thương lắm
những em con gái xinh và
chân dài thon
ôi mông nở nét hoa thật phiền

Đêm nay anh
nghe hơi thở nhanh
từ những tế bào
ôi sao xanh mưa ngàn..
Stanton California, July fourth 2019

Tiếu Diện

Có chút gì
đang bình yên trôi
len lỏi nhẹ vào nơi đây hồn hoang

bây giờ khởi sự 7 giờ
đây đó đôi ba cơn gió chiều mát lạnh
đây đó không gian vũ trụ bốn mùa nắng sớm mưa khuya
đây đó thời gian tiếp tục làm thinh
trong rong ruổi cuộc hành trình
trên con đường thế kỷ tràng giang trăm bề phiền muộn

Chợt cùng với vệt hoàng hôn cuối cùng
có tiếng hát cất lên
lúc vơi lúc đầy
tiếng rất ngoan
hiền con gái
vàng hườm
nho nhỏ trong xanh
Tiếu Diện… Tiếu Diện ơi!
khuôn mặt ai ngày nào thật xinh
20 năm rồi không gặp
Cypress… Cypress*
những đêm hành lang đại học
những lớp English lâu rồi quên tên,
chỉ nhớ lớp English 100 cuối cùng
rồi ra trường mình xa nhau

…Hình như có mưa
đầu mùa khô hạn xác xơ…
rơi vô tình
vào mặt
buốt kim châm
kịp nhận ra
không còn nghe âm ba ngân vang
em
con chim sâu
không còn thấy vù vù lên xuống
trên mấy nụ hồng đang chìm vào đêm
mơ hồ có gì đó
không bình thường đang lạc loài

không còn nghe tiếng hát em
bóng tối
và nỗi cô đơn
dẫu biết em vẫn còn tồn tại đâu đây mà
sao xa hẳn
như tiếng hát em bay xa
theo mặt trời đỏ rực vào lòng đại dương đen

Sóng lòng chỉ cảm
không thấy
không ngừng xâm thực
bờ ta
trong quá khứ, hiện tại và ngày mai
Stanton California, June 27th 2019

*trường Community College Cypress in Stanton
* Lê Minh Hiền.
(Nguồn: [email protected])


Thơ Mặc Phương Tử

Giáp hạt mùa về

Giáp hạt mùa về
Thơm đất mới,
Mầm tươi một thoáng
Gió lên cao.
Cánh chim chở hạt mù sương đến,
Hương núi rừng
Về mộng dưới chiêm bao.

Giáp hạt mùa về
Nghe lá thức,
Trên cành
Còn trĩu giọt sương khuya.
Thênh thang lối cũ
Tình hoa cỏ,
Hạt bụi nằm nghe mỗi bước về.

Giáp hạt mùa về
Hoa đất nở,
Trăng bàng bạc sáng
Trời mênh mông.
Nghiêng nghiêng
Một chén quan hà rót,
Thành suối nguồn thơ tiếp nắng hồng.
(Nguồn: sangtao@org)



Thơ Giao Yên

Dòng Yên Tử
Há luận chuyện trò chim hoặc chóc
Hổ mang đến học tẩy trần duyên
Lâm vào khúc trúc như nhiên
Quay đầu thuần phục dòng Yên Tử đầy.

Ngao du
Nữa mai thân xác hoàn tro bụi
Vía đưa hồn thoát xác thân trơ
Lời kinh dạy trược trầm, thanh thướng
Tựu khí thanh đúc kết con đò
Tư tưởng tốc vi siêu tốc độ
Ðịu làn yến sáng dạo huyền cơ.

Ngẫm nghĩ
Nghĩ loài ăn cỏ sớm chiều
Trường trai mà chẳng ai kêu bằng thầy
Hiền từ sao bị phanh thây?
Nằm đất vướng dục còn đày đọa thân.

Sắp xong
Từng con sóng lục lên đường
Ðể mai cuồng nộ hết cuồn cuộn dâng
Thuyền nay tí tửng níu dòng
Kìa em sóng bạc sắp xong nhiệm kỳ.

Áo em xuân
Thướt tha thần thoại vô thường
Ðôi tà khép mở hoang đường lòng ta
Cuối sân đầu ngõ vào ra
Áo xuân em trút mù sa phía này.

Bên mái tranh chiều
Mái chiều sợi khói lừng lừng
Khói quan hà lại tập trung vào lòng
Thế rồi thời khó thong dong
Chắt chiu vài chữ đôi dòng giải khuây.

Ðủ rồi đó
Nói gì người cũng chia tay
Cho mình chưng hửng đắng cay tin người
Cho mình xí được thói đời
Phân bua thôi đã đủ rồi đó nghe!

Trời đổ
Gió lay lặt lá lìa cây
Lá vàng tập kết vàng đầy ngõ thuôn
Phóng tay giải phóng mưa nguồn
Ðất ơi! Trời đổ nỗi buồn còn nguyên.

Có kẻ
Nghèo thường liều mạng
Có kẻ chí mang
Ðã làm nên chuyện.

Khôn
Ðất khách mình lên nước
Về quê mình xuống nước
Khỏi uổng ghế xa lông
Chết chi tay tuột luốt
Oai hùng miệng là xong
Biệt đâu rồi cũng được
Mặc ếch nhái rêu rong
Có chi mình chạy trước.

Ðối cảnh trời đông
Cỏ còn tơi tả huống chi hoa
Bấc quét trời đông buốt lắm mà!
Ðôi cảnh lạnh lùng thôi chẳng nghĩ
Một nhành rong giạt biển bao la.

Tình buồn
Lòng em ủ nhánh trăng gay
Tình em gió thổi mây bay đoạn đành
Buồn len đến lấn thâm canh
Nén đau nghe nhột phong phanh sự tình.

Nắng hè đen nghịt
Dáng mơ nhón gót vào tâm thức
Rồi để mặc ta thấy thiệt tình!
Người để mặc ta trong biển nhớ
Dập dìu tư lự cứ linh tinh
Biệt ly nhuộm nắng hè đen nghịt
Ve cũng chia sầu gã quá tin!
Nhan sắc mỹ miều nhiều gã lụy
Nhiều tay o bế chẳng riêng mình
Nhân tình đâu phải là thê thiếp
Phụ bạc hề chi phải bất bình.



Thơ Trần Vấn Lệ

Thần Tượng

Tôi coi Nguyễn Công Trứ là một Thần Tượng.
Với tôi, Nguyễn Công Trứ là Công Trứ!
Ông có Công với Đất Nước!
Ông Trứ Danh!

Tôi ghi nhớ lời Ông nói:
“Thân còn chưa có, có chi Danh.”
Tôi biết có nhiều lúc Buồn Tênh
Ông cười…

Ông từng muốn mình hóa kiếp thành Cây Thông
mọc bên trời, cheo leo, gió thổi
Ông muốn có tri âm tri kỷ
Ông muốn có người nghịch ngợm leo trèo lên ông!

Không một cây thông
người ta đã đốn!
Nguyễn Công Trứ bây giờ ở đâu
trong đống tro than lổn ngổn?

Thế là đúng:
“Thân còn chưa có, có chi danh?”
“Tri ngã giả? Bất tri ngã giả?
Ta vẫn là Ta…”

…như nước Ta!
như quê Ta!
như cõi người Ta!
bao la bao la một Bãi Tha Ma!

Tôi không có lời nào xót xa
để nói về Nguyễn Công Trứ!
Tôi lật nhiều pho lịch sử
tìm thấy ông trong hai dòng nước mắt!

“Giang sơn một gánh giữa đồng”
là có thật!
“Thuyền quyên ứ hự, anh hùng nhớ chăng?”
quên rồi…

Nguyễn Du sống trước thời Nguyễn Công Trứ
từng thở ra hơi:
“Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường?”

Nguyễn Công Trứ vui? Nguyễn Công Trứ buồn?
Tôi chắp hai bàn tay, tôi lạy:
“Ơi Người thác có linh thiêng
giúp cho Tổ Quốc ba miền bình an!”

“Vinh danh Thượng Đế trên trời
Bình an dưới thế cho người nước Nam!”

Bầy Chim Sẻ Bay Rồi

Chim sẻ thật dễ thương, biết là ngày nóng quá,
chúng bay lên núi cả, chúng bay về rừng sâu…
Dù chúng bay đâu đâu, tối cũng về tổ ngủ…
khi lũ người tứ xứ/mơ hoài chuyến hồi hương!

Không nói đã rất buồn, nói, đoạn trường từng khúc…
Khi không mà tủi nhục, ai khiến dân Việt mình?
Xưa, có truyện Tân Thanh… nay có tình Cố Cựu!
Sáng sáng tiếng chim khứu/hót vang trong lồng son,
có người nghe… khóc ngon, có người cầm nước mắt!

Trời, Đông Tây Nam Bắc, mình, chỉ có Bắc Nam,
từ cái con sông Gianh/rồi tới dòng Bến Hải.
Sư cứ nói Sư phải,Vãi cứ nói Vãi hay…
bỗng dưng có một ngày… gọi là Ngày Giải Phóng!
Trời phương Nam, bong bóng… bay về đâu về đâu?

Tôi đang ngó bồ câu/gật gù trên mái ngói…
Tôi cầm tia nắng rọi/đâm vào trái tim tôi!

Máu tôi chảy có vòi. Con voi thấy đi tránh.
Cha mẹ mồ hoang lạnh/nước lũ cuốn trôi chưa?
Trời nắng, nóng, không mưa, nhớ ơi cây dừa lão,
nhớ chỗ đặt ông Táo, nhớ tiếng chuông Chùa buông…
Nhớ đám cỏ bên đường/nhớ màu sương lờn lợt…
Nguyễn Du trăm năm trước… bước bước vào trong thơ! (*)

Hồi hương… một giấc mơ! Thương Trời ơi Cố Quận…
Người, ống quần cầm, xắn… Người, nước mắt cầm, rơi!
Bầy chim sẻ bay rồi, tôi còn ai tâm sự?

(*) Thơ Nguyễn Du: Quê người cỏ lợt màu sương, đường xa thêm một bước đường một đau!
(Nguồn: Le tran; [email protected])

[jwplayer 48SBO2vL]

Mỹ hoãn tăng thuế quan lên một số hàng Trung Quốc, số khác được miễn

WASHINGTON, D.C. (AP) – Chính phủ Mỹ vừa loan báo sẽ hoãn tăng thuế quan lên các điện thoại di động, máy điện toán xách tay và một số mặt hàng khác sản xuất ở Trung Quốc, đồng thời cũng đưa một số món hàng ra khỏi danh sách bị tăng thuế.

Văn Phòng Đại Diện Thương Mại Mỹ hôm Thứ Ba, 13 Tháng Tám, cho biết việc tăng thuế quan 10% lên số mặt hàng trị giá khoảng $300 tỷ nhập cảng từ Trung Quốc sẽ vẫn diễn ra, nghĩa là hầu như tất cả mọi mặt hàng từ Trung Quốc nay sẽ đều bị đánh thuế quan, và sẽ khởi sự từ ngày 1 Tháng Chín.

Tuy nhiên, cơ quan này nói rằng sẽ hoãn tăng thuế quan cho tới ngày 15 Tháng Mười Hai, đối với một số mặt hàng, gồm cả điện thoại di động, máy điện toán xách tay, máy chơi game điện tử, một số món đồ chơi, màn hình máy điện toán, giày và quần áo.

Đồng thời, một số mặt hàng khác sẽ được đưa ra khỏi danh sách bị thuế quan, dự trên các tiêu chuẩn về “sức khỏe, an toàn, an ninh quốc gia và các yếu tố khác.”

Tin tức này giúp cho trị giá cổ phiếu của các công ty như Apple, Mattel và công ty giầy Steve Madden tăng vọt.

Hai người đàn ông Trung Quốc đẩy thùng đồ uống đi ngang một cửa hàng quần áo ở Bắc Kinh. Mỹ vẫn tăng thuế
quan 10% lên số mặt hàng trị giá khoảng $300 tỷ nhập cảng từ Trung Quốc. (Hình: AP Photo/Ng Han Guan)

Ngoài ra, Bộ Thương Mại Trung Quốc cho hay các nhà thương thuyết hàng đầu của họ cũng nói chuyện bằng điện thoại với đại diện phía Mỹ, gồm Đại Diện Thương Mại Mỹ Robert Lighthizer và Bộ Trưởng Tài Chính Steven Mnuchin, đồng thời cũng dự trù sẽ có cuộc thảo luận nữa trong hai tuần tới.

Các biến chuyển này tạo lại sự lạc quan rằng hai cường quốc kinh tế nhất nhì thế giới này có thể giải quyết được cuộc thương chiến vốn đã làm cho thị trường tài chính quốc tế có nhiều bất ổn trong hơn một năm qua, và đe dọa sự phát triển của nền kinh tế thế giới. (V.Giang)

[jwplayer 0BZJvPVa]

Vỡ đê bao ở Đắk Lắk, rác đổ ập xuống vườn nhà dân Đà Lạt

ĐẮK LẮK, Việt Nam (NV) – Trong khi đê Quảng Điền, huyện Krông Ana, mới sử dụng năm năm bị vỡ khiến nước ồ ạt tràn vào làm ngập hàng ngàn hécta lúa sắp thu hoạch, thì tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, bãi rác Cam Ly đổ ập đẩy rác ra xa cả cây số, gây ô nhiễm trầm trọng.

Báo VNExpress sáng 13 Tháng Tám, 2019, dẫn lời ông Nguyễn Minh Đông, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân huyện Krông Ana (tỉnh Đắk Lắk), cho biết do đợt mưa lớn vừa qua ở Tây Nguyên làm nước sông Krông Ana dâng lên cao khiến nhiều đoạn của đê Quảng Điền (huyện Krông Ana) bị tràn.

Ba ngày trước, người dân và nhà chức trách đã dùng hàng chục ngàn bao đất đắp đê cao thêm 0.5 mét, dài hai cây số để ngăn nước. Tuy nhiên, sau khi gia cố tuyến đê bao xong, chưa kịp vui mừng thì khuya ngày 12 rạng sáng 13 Tháng Tám, hơn 1,000 hécta lúa sắp thu hoạch người dân mất trắng. “Tôi không ngờ sáng nay đê bao bất ngờ vỡ toác, nước tràn dữ dội vào đồng ruộng,” ông Đông nói.

Theo đại diện Phòng Nông Nghiệp huyện Krông Na, hiện 200 hécta lúa của xã Quảng Điền thiệt hại gần hết. Nếu nước từ đoạn đê vỡ tiếp tục tràn vào, khoảng 570 hécta lúa thuộc xã Bình Hòa có nguy cơ mất trắng.

Báo này cho hay, tuyến đê bao Quảng Điền được xây dựng hơn 300 tỷ đồng ($12.8 triệu), dài 70 cây số được đưa vào sử dụng năm 2014. Công trình này chạy dọc dòng sông Krông Ana, đi qua huyện Krông Ana và huyện Lăk.

Lớp rác đè lên vườn nhà dân ở thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, có chỗ dày đến 4-5 mét kéo dài cả cây số. (Hình: Tuổi Trẻ)

Trong khi đó tại thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), hàng ngàn tấn rác thải từ bãi rác Cam Ly đã đổ ập xuống vườn nhà người dân lấp dày đến 4-5 mét, biến nhiều nhà vườn trở thành bãi rác Cam Ly “mở rộng.” Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc khắp thành phố du lịch với gần 400,000 dân.

Theo báo Tuổi Trẻ, “Rác nằm trên đỉnh quả đồi cao khoảng 60 mét đổ xuống thung lũng, bao trùm lên vùng sản xuất nông nghiệp của người dân. Có những cuộn rác được máy ép dồn khối lăn thành vệt kéo dài hơn một cây số. Nước từ bãi rác đổ xuống vườn dân đen kịt, bốc mùi nồng nặc loang ra những khu vực lân cận, chảy xuống suối dồn về hạ lưu suối Cam Ly.”

Rác từ bãi Cam Ly gây thiệt hại trực tiếp trên khoảng 1 hécta vườn, ảnh hưởng hàng chục hécta hoa màu các khu vực lân cận.

Trước đó, trận mưa lớn kéo dài ba ngày từ hôm 6 đến 8 Tháng Tám, ở Tây Nguyên và Nam Bộ đã làm 11 người chết. Hơn 12,000 ngôi nhà bị ngập, gần 20,000 hécta cây trồng bị thiệt hại, hơn 120,000 gia súc, gia cầm bị nước cuốn trôi, 124 hécta ao hồ nuôi cá và 4,300 khối lồng bè bị cuốn trôi.

Nhiều tuyến đường, kênh thủy lợi, đập bị hư hỏng, sạt lở. Hai hồ chứa Thủy Điện Đăk Kar và Đăk Sin 1 (cùng ở huyện Đăk R’lâp, tỉnh Đăk Nông) gặp trục trặc, hư hỏng. Thiệt hại ước tính hơn 1,000 tỷ đồng ($42.9 triệu), trong đó riêng Phú Quốc 107 tỷ đồng ($4.6 triệu), chưa kể về tổn thất tinh thần, sức khỏe. (Tr.N)

[jwplayer ADrw6DGj]

Vợ tôi, bỏ tôi mà đi

LTS: “Biết Tỏ Cùng Ai” do cô Nguyệt Nga phụ trách, nhằm mục đích góp ý, chia sẻ những ưu tư, vướng mắc về những vấn đề liên quan đến cuộc sống, đời thường mà quý vị không biết tỏ cùng ai. Thư từ xin gửi về: Người Việt (Biết Tỏ Cùng Ai), 14771 Moran St., Westminster, CA 92683, hay email: [email protected].

Thưa cô, vợ tôi bỏ tôi mà đi, ra đi đành đoạn cô ơi, ra đi giữa lúc gia đình đang êm thấm, không có một chút gì mâu thuẫn làm lý do. Ngày cô ấy đi, tôi chới với, đau khổ tột cùng, tôi khóc như một đứa con nít… Tôi vật vờ, lây lất, đến độ mẹ tôi từ dưới quê phải bỏ công chuyện đồng ruộng lên ở với con trai.

Ngày hai đứa đến với nhau, thật ra là do tôi “đến” chứ cô ấy thì không, không cả thèm biết tên, biết tuổi, biết nghề ngỗng của tôi. Tôi ở đầu xóm, cô ấy ở cuối xóm, làm chủ một tiệm tạp hóa. Người không nhan sắc nhưng thật đoan trang, nền nã… Tôi mê lắm, cứ tìm cớ qua lại, rồi mua bán… càng gần càng mê, càng ngày càng đắm đuối. Tôi như chết chưa chôn, mà cô ấy nào có ngó ngàng, cứ lạnh như thỏi băng, hỏi thì thưa, bảo thì dạ, chớ một chút vấn vương chữ tình. Cứ thế cả mấy năm, tôi mới lân la đến gần, rồi ngỏ lời. Tôi không ngờ cô ấy chịu về với tôi. Tôi quý lắm, cưng lắm, người đâu mà dịu dàng, hiền thục…

Trước khi đồng ý về làm vợ, cô ấy xin tôi hai điều: 1. Không làm hôn thú. Thứ 2: Nếu một ngày nào đó, có tin tức “Người-Của-Em” thì dù cho lúc đó đã sống với nhau bao nhiêu năm và có với nhau bao nhiêu con đi nữa, em cũng sẽ đem con theo và xin anh hãy để cho mẹ con em đi.

Thật khủng khiếp, có ai mà như vậy không? tôi không thể tin câu nói ấy thốt ra bằng một giọng thỏ thẻ, từ tốn, nhẹ nhàng… Thú thật tôi choáng váng, nhưng vì quá yêu và nghĩ thôi đến đâu hay đến đó, người nói là người không làm…

Cô ấy về làm dâu, cả nhà thôi thương mến, từ cha mẹ đến anh chị và cả cô em út ế chồng, cũng yêu thương cô ấy. Không biết cô ấy bỏ bùa hay sao mà cả nhà hùa theo. Tôi rất hãnh diện, hài lòng về sự chọn lựa của mình. Cô ấy nhẫn nhịn, từ tốn, chịu khó và hy sinh hết cho chồng con, chúng tôi có một con với nhau. Cô ấy thật là một mẫu đàn bà hiếm có. Tôi hài lòng lắm, tuy thỉnh thoảng vẫn nhớ cái câu “sấm truyền” mà cô ấy nói lúc đầu. Thời gian trôi qua, mọi thứ êm thấm, “Người-Của-Em” không thấy tăm hơi, chắc là đã dùm đề vợ con đâu đó, lâu quá rồi còn gì.

Nhưng không ngờ, tôi thấy cô ấy mua áo quần cho tôi thật nhiều, sắm drap mền, mua sắm đồ trong nhà, cái gì cũng nhiều, sơn phết nhà lại, kêu thợ sửa và thay mới một vài vật dụng đã cũ trong nhà… Hóa ra cô ấy chu toàn trước khi đi, cô ấy bảo đảm cuộc sống không… thiếu thốn cho tôi ít nhất là 3 năm.

Và cái ngày tai họa kia đã đến! Một hôm tôi đi làm về không có cô ở nhà, tất cả đồ đạc của cô còn nguyên, áo quần giặt sạch, ủi, xếp vào tủ ngăn nắp, ngăn bí mật đựng tiền, vàng chỉ hai vợ chồng biết, còn nguyên, gạo đầy thùng, thức ăn đầy tủ… chỉ có hai mẹ con là không thấy đâu.

Đàn bà dễ có mấy tay! Quá kinh khủng!

Thưa cô, tôi muốn bắt đứa con lại, tôi không muốn con tôi ở với người đàn ông đã làm cho đời tôi xuống tận cùng đáy đen. Tôi có nên làm điều ấy, như vậy là tôi đã vi phạm lời hứa ban đầu, nhưng tôi không muốn, không muốn con tôi ở trong căn nhà đó cô ơi!

Phú

*Góp ý của độc giả:

-Thương Phạm:

Đọc thư mà ái ngại cho anh, nhưng lại không thể khuyên anh điều gì hơn là anh phải chấp nhận thực tế thôi, vì anh phải giữ lời đã hứa trước khi kết hôn. Vợ anh không làm gì gian dối, cô ấy đã nói hết với anh về mối quan hệ cũ của mình, và cô ấy đã cho anh biết trước, bất cứ khi nào cô ấy liên lạc được với người-của-em thì sẽ bỏ anh mà đi.

Chính anh đã đồng ý điều kiện đó. Chính anh đã đồng ý để cho vợ anh mang con đi, thì bây giờ còn đòi con gì nữa.

Thân làm thì thân chịu anh ạ, mọi thứ rồi sẽ qua đi theo thời gian. Không có điều đau buồn nào vững mãi theo thời gian. Nỗi buồn sẽ vơi đi và anh sẽ tìm được người đàn bà khác. Biết đâu người sau anh sẽ yêu hơn bởi lẽ họ toàn tâm toàn ý với anh. Và đến lúc ấy biết đâu đứa con sẽ là một trở ngại cho anh. Ở đời không biết đâu là may dâu là rủi anh ạ, Thất Ông mất ngựa, hãy nghĩ như thế mà đứng dậy, bây giờ mà anh còn sầu thảm, nghĩ cách để lấy đứa con về, mà chắc gì cháu về anh sẽ lo cho cháu chu toàn?

Tôi nghĩ anh nên quên đi chuyện người vợ bỏ đi, hãy để chị ấy lo cho con, và tôi tin một ngàn phần trăm với cá tính mạnh mẽ của chị ấy, con anh sẽ tốt.

-Henry Ly:

Anh là người thật đặc biệt, yêu mù quáng, và tự tin một cách cũng… mù quáng luôn. Yêu một người, yêu đắm đuối, bất kể hoàn cảnh của người ta thế nào, ngay cả khi người ta nói người ta có người yêu rồi, thì vẫn tỉnh bơ yêu tiếp, rồi người ta ra điều kiện, bất cứ khi nào người ta tìm lại được người xưa thì người ta sẽ ra đi và dẫn con theo, anh cũng “ừ” chấp thuận. Tình yêu của anh thật mãnh liệt, mạnh mẽ, và… khùng điên, sorry anh.

Vì cái “nhân” là thế, nên cái “quả” tương ứng, chẳng có gì phải thắc mắc bàn cãi. Vấn đề là thời gian thôi, chỉ tội cho đứa con anh, nó không có tội mà phải gánh, rồi bây giờ anh còn không muốn nó sống yên thân, anh còn muốn giành giựt qua lại cho thêm khổ nó.

-NB

“Đàn bà dễ có mấy tay”, lời đánh giá của anh về người phụ nữ đã từng chung sống và có con với anh thật quá chính xác. Cô ấy đúng là “của quý hiếm” trong thế gian này. Không nhan sắc nổi bật, đoan trang, thùy mị nhưng thật mạnh mẽ, quyết đoán, làm chủ cuộc đời mình không lệ thuộc vào bất cứ ai. Vì vậy sau khi tiếp cận cô ấy việc anh ngày càng tơ tưởng si mê, tôn trọng và ao ước được gắn bó với nàng cũng là lẽ đương nhiên.

Anh cho rằng hai người đến với nhau chỉ là do anh chủ động đến, còn cô ấy thụ động chấp nhận dù không biết gì về tên, tuổi, nghề nghiệp của anh, điều này không đúng với tính cách của cô ấy. Thật ra trong cô ấy đã có suy nghĩ sẽ không gắn bó với bất cứ người đàn ông nào. Cô giữ một lời thề khắc cốt ghi tâm sẽ trọn đời chung thủy không xa rời với một người cô gọi là “người của em”. Người này là ai, tại sao hai người phải cách xa nhau, bao giờ người ấy sẽ quay trở lại? Anh không biết, có lẽ chỉ mình cô biết. Đây là người rất quan trọng đối với cô ấy, cô biết rằng mình sẽ chờ đợi dù không biết đến bao giờ. Cô dửng dưng với mọi săn đón xung quanh mình, cô tự tạo niềm vui cho mình. Tuy nhiên với thời gian, anh kiên nhẫn bền bỉ, chân thành tỏ lòng yêu thương, tôn trọng, thố lộ muốn được gắn bó cùng cô. Cô ấy đánh giá cao về anh, không sẽ là chồng nhưng có thể làm bạn cùng song hành chia ngọt sẻ bùi trong cuộc đời mình. Cô chấp nhận anh bước vào cuộc đời cô nhưng với hai điều kiện: Không làm hôn thú và cô luôn được tự do khi muốn bước ra khỏi mối quan hệ này. Kinh ngạc nhưng vì quá yêu anh đã chấp nhận. Anh hy vọng “người của em” chắc sẽ chẳng thể quay trở lại, cô sẽ chấp nhận tình yêu của anh và gắn bó cùng anh. Như nhiều người hay nghĩ “người nói là người không làm” anh cho rằng cô sẽ không kiên quyết chối bỏ anh nữa.

Anh đã thật hạnh phúc sống cùng cô, hãnh diện hài lòng với sự lựa chọn của mình. Cô hoàn hảo trong cách đối nhân xử thế với tất cả mọi người. Anh dần thoát đi nỗi ám ảnh bóng đen “người của em” quay trở lại.

Nhưng rồi một ngày sụp đổ, hai mẹ con cô biến mất. Cô chuẩn bị sắp xếp tất cả việc gia đình thật chu đáo, tươm tất. Ra đi chỉ một mẹ một con, không tư trang tiền bạc, cô lo cho cuộc sống của anh ít nhất ba năm, riêng cô chỉ giữ cho mình đứa con và một lời thề. Thật khâm phục sự mạnh mẽ sắt đá của người phụ nữ này. Cô đáp ứng trọn vẹn cái nghĩa với người đàn ông đã yêu thương tôn trọng cô thật lòng, còn cái tình cô đã trao cho người khác mất rồi.

Đau đớn nhưng anh phải mạnh mẽ biết một điều khi thật yêu một ai đó là mình phải hiểu biết tính cách người mình yêu, tôn trọng những suy nghĩ, quyết định của họ, không áp đặt cưỡng ép. Trước mắt anh hãy thư giãn với chính mình, sống mạnh mẽ giấu nỗi đau vào tận lòng mình để mẹ anh an tâm hơn, và có thể ở đâu đó cô ấy đỡ đau lòng hơn. Con anh hãy cứ để yên cho cô ấy chăm sóc, sống với người mẹ như cô ấy cháu sẽ rất an toàn hạnh phúc. Nếu quá yêu, anh có thể cho mình thời gian một năm,hai năm hay ba năm chờ đợi. Nếu cô ấy trở về có lẽ anh sẽ vui, nếu không coi như hai người không có duyên nợ với nhau. Hãy chúc phúc cho cô ấy và sống mạnh mẽ cuộc đời mình.

*Vấn đề mới:

Chúng tôi lấy nhau có 3 mặt con, 17, 14 và 7 tuổi. Anh là người thương con và có trách nhiệm với gia đình. Hai năm nay ảnh nói lương tiền không đủ khi các con lớn, nhiều nhu cầu hơn, tôi cũng cần vài cái áo cái quần cho ra hồn chứ cứ mua ở Ross hoài, tội quá.

Tôi nghe mà thương chồng đứt ruột gan. Anh nói cần đi làm thêm, và nói tiếp, anh có quen với mấy người bạn, họ đến các sòng bài và chơi như một cái job. Tức là mỗi ngày họ mang theo 100 đồng, đánh cho đến khi ăn thêm 100 hay thua 50 thì đứng dậy đi về. Không bao giờ thấy đang đà thắng, hay thua thêm mà ngồi lại tiếp tục. Họ rất nghiêm ngặt với điều lệ đặt ra, chỉ ăn 100, chỉ thua 50, không thêm 1 xu. Nghe anh nói tôi phản đối ngay, tôi không tin có người không sa đà vào cờ bạc, nhưng anh cứ nài nỉ cho anh thử, anh thề là không sa đà, quyết giữ mình, và anh theo bạn bè. Ngoài ngày trong tuần đi làm ăn lương tháng, mỗi cuối tuần anh theo bạn đến sòng bài, và nguyên tắc ăn đủ 100 thì đứng dậy được anh nghiêm chỉnh thi hành. Mỗi cuối tuần anh đưa tôi 200 tiền “đi làm” thêm. Tôi có hỏi, sao không thấy anh thua, sao tuần nào anh cũng đem tiền về. Anh cười nói, thì may trời đất thương cho người ngay thắng liên tục.

(Hình minh họa: Getty Images)

Ban đầu tôi cũng bị căng thẳng lo lắng, nhưng rồi êm thấm không có điều gì bất an xảy ra. Tôi cũng dần dần vơi đi nỗi lo sợ, cuộc sống cũng như cũ, chỉ khác là mỗi tuần có thêm chút tiền và chồng vắng nhà, có khi vài giờ có khi cả ngày, cũng có khi mới đi thì về liền, và theo anh nói thì do mới đánh ván đầu đã ăn ngay, đủ số là về với vợ con.

Thảng hoặc cũng có khi anh đưa dôi ra vài đồng hay vài chục, nói là tại chưa đủ 100 nên ráng chút nữa cho đủ số, không ngờ thêm được vài chục, đứng dậy dù vận may đang lúc “đỏ”. Nghe anh nói, tôi an tâm lắm, biết là chồng mình đã làm chủ bản thân, tôi không còn chút lo âu nào cả, bình thản mà sống, cho đến khi tôi thấy càng ngày càng nhiều thư của các nhà bank gửi đến đề tên chồng tôi. Hỏi thì anh ấy giải thích, tụi nhà bank nó dụ đó mà, em vứt hết vào thùng rác đi. Tôi không giỏi tiếng Anh và cũng rất mơ hồ về giấy tờ mọi thứ, nên yên tâm. Dù vậy có lúc lòng cũng dấy lên mối lo âu, nghi ngại.

Tôi nghĩ thì xé một lá thư coi thử sao, coi thử nó dụ như thế nào mà nhiều người sa ngã. Ối trời, không có thư dụ nào hết, đó là những bill đòi tiền của Credit Card. Tôi lục hết và khám phá ra chồng tôi nợ cả bốn năm chục ngàn. Tôi choáng váng cô ơi, thật là khủng khiếp. Tôi chẳng biết sao nữa, số tiền nợ quá lớn. Khi mọi chuyện đổ vỡ, chồng tôi nói, từ từ anh “ăn” (là ăn bài) sẽ trả, anh ấy nói trước đây nợ nhiều hơn, nhưng mấy tháng này ảnh đã nắm được nguyên tắc chơi nên thắng nhiều, anh nghĩ chừng vài tháng là anh sẽ trả xong, còn dư nữa là khác, anh sẽ mua nhà, không ở thuê như hiện nay. Ảnh còn nói tại ảnh không có thì giờ, nếu ảnh nghỉ hẳn không đi làm, thì đầu tư trí óc nhiều hơn vào những ván bài, ảnh sẽ khá lên. Tôi chán ngán, suy sụp tinh thần, hiện nay các con chưa biết tình trạng của bố mẹ. Thưa cô tôi phải làm gì đây?

Hiên

*Nguyệt Nga rất mong nhận được sự góp ý của quí độc giả xa gần. Thư góp ý, quý độc giả gửi sớm cho Nguyệt Nga; gửi chậm, tòa soạn không thể đăng được vì đã sang một đề tài khác.

Thư từ gửi về: Biết tỏ cùng ai 14771 Moran Street. Westminster, CA 92683, hoặc [email protected]

[jwplayer 48SBO2vL]

Thăm dò: Phần lớn người Mỹ ủng hộ hợp thức hóa di dân lậu

Điểm tin trong ngày 13/8/2019:
-Mỹ tạm ngưng đánh thuế nhập cảng một số hàng Trung Quốc
-Lãnh đạo Hồng Kông gần như khóc khi nói người biểu tình đẩy lãnh thổ này ‘xuống vực thẳm’
-Một cảnh sát viên California thiệt mạng trong một vụ nổ súng bắn chết nghi can
-Thăm dò: Phần lớn người Mỹ ủng hộ hợp thức hóa di dân lậu
-Người mua súng dùm hung thủ bắn chết 9 người ở Dayton, Ohio, bị bắt

Hàm lượng chì trong nước máy quá cao, Newark phải cấp nước chai cho dân

NEWARK, New Jersey (NV) – Hơn tám tháng sau khi giới chức thành phố Newark ở tiểu bang New Jersey bắt đầu phân phối gần 40,000 dụng cụ lọc nước để giúp giảm chất chì trong nước, kết quả thử nghiệm hồi đầu tháng này cho thấy dụng cụ này không hiệu quả.

Trong bức thư gửi chính quyền địa phương ở Newark hôm Thứ Sáu, 9 Tháng Tám, Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường Mỹ (EPA) cho hay dân chúng thành phố này phải được cung cấp nước đóng chai để dùng tạm “càng sớm càng tốt,” theo bản tin của ABC News.

Bức thư của EPA cho biết “các dữ kiện có được cho thấy việc dùng dụng cụ lọc nước do thành phố Newark cung cấp không hiệu quả” và điều này có nghĩa là “không thể bảo đảm cho dân chúng thành phố rằng sức khỏe của họ được bảo vệ khi uống nước máy cho dù có dùng dụng cụ lọc.”

Thống Đốc New Jersey Phil Murphy và Thị Trưởng Newark Ras Baraka cùng đưa ra bản thông cáo vào chiều tối Chủ Nhật, nói rằng họ sẽ cung cấp nước đóng chai cho các cư dân bị ảnh hưởng.

Bản thông cáo cũng nói cần có sự hỗ trợ của chính quyền liên bang để mua và phân phối nước đóng chai cho dân chúng trong thành phố.

Thành phố Newark đã phải đương đầu với tình trạng hàm lượng chì trong nước quá cao. Lý do được đưa ra để giải thích tình trạng này là vì các đường ống dẫn nước trong thành phố đã quá cũ, có nơi có từ hơn 100 năm nay mà không có tiền để thay thế.

Thị Trưởng Ras Baraka cho biết thành phố sẽ tìm hiểu về vấn đề này và cũng tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy dụng cụ lọc không tác dụng. Ông nói dụng cụ này được chứng nhận và sử dụng trên toàn quốc. (V.Giang)

[jwplayer NoZwDAxk]

Sơn móng tay: Những điều cần biết

LTS: Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh được biết trong cộng đồng người Việt nhiều năm qua với chuyên khoa về hiếm muộn, vô sinh, và lựa chọn trai gái theo ý muốn. Ông đã từng làm nghiên cứu về bệnh hiếm muộn, và các bệnh ung thư của phụ nữ tại National Cancer Institute trực thuộc National Institutes of Health. Bác Sĩ Minh là Board Certified về Obstertrics, Gynecology và Reproductive Endocrinology Infertility. Phòng mạch tọa lạc trong khuôn viên bệnh viện Fountain Valley, tại 11180 Warner Ave., Suite 465, Fountain Valley, CA 92708. Số điện thoại liên lạc: (714) 429-5848, trang nhà: www.bacsihongocminh.com

Làm móng tay và sơn móng tay đã trở thành một phần không thể thiếu trong việc làm đẹp của phụ nữ thuộc mọi tầng lớp giai cấp, từ các bà nội trợ cho đến những nhân viên thuộc  thành phần lãnh đạo của các công ty lớn. Ở Mỹ, nghề làm móng tay, có thể nói, do người Việt nắm độc quyền. Dù vậy, không có nhiều người hiểu tường tận những điều cần quan tâm khi mua sắm hay sử dụng sơn móng tay trong nghề nghiệp.

Trước hết, trước khi mua sắm, chọn lựa các loại sơn móng tay, người tiêu thụ nên để dành chút thì giờ để đọc những hàng chữ được in phía sau lọ sơn, cho dù những hàng chữ ấy thường rất khó đọc. Bạn có biết, bao nhiêu chất hóa học chứa trong sơn móng tay có thể gây ra những hư hao thương tổn khi ngửi mùi hơi sơn, và một số chất hóa học ấy có thể thâm nhập vào mạch máu?

Trong một số nghiên cứu với những điều khám phá đáng lo ngại, các nhà khoa học đã tìm ra rằng, trong vòng 6 giờ sử dụng sơn móng tay, chất hóa học diphenyl phosphate (DPHP), một trong những hóa chất có trong sơn, sẽ đạt nồng độ rất cao trong nước tiểu.

Cộng vào đó, một số chất hóa học có trong sơn móng tay có liên hệ đến nguyên nhân gây ra ung thư, và một số chất khác, làm sẩy thai.

Thế thì, những chất nào trong sơn móng tay có thể gây ra nguy hại cho sức khỏe?

Có 3 thành phần nguyên liệu chính mà người sử dụng cần phải biết và lưu tâm, đó là: dibutyl phthalate, toluene, và formaldehyde. Trong kỹ nghệ mỹ phẩm, các chất nầy thường được gọi là “the toxic trio,” tạm dịch là “tam độc tố.”

1. Toluene – chất hòa tan, làm cho nước sơn bóng mượt

Sự nguy hiểm của toluene là, một dung dịch không có màu, không hòa tan được trong nước lạnh, có mùi giống như dầu pha trộn sơn nhà hay sơn gỗ. Chất nầy có thể thâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp.

Trong thời gian ngắn hạn, hít thở chút đỉnh toluene, có thể làm cho bị mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, và yếu xụi bắp thịt.

Hít thở toluene trong thời gian dài có thể ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương, hệ thống sinh lý, và hệ thống đề kháng. Có khi hệ quả làm cho yếu kém thị giác và thính giác, hư hại thận và gan. Trường hợp nặng, làm cho hư hại não bộ, mất trí nhớ, và mất khả năng suy nghĩ, tư duy.

Hít thở toluene với nồng độ cao trong khi có thai có thể ảnh hưởng đến em bé, làm cho em bé sanh ra bị khuyết tật, khù khờ và chậm lớn. Một số nghiên cứu cho thấy trong môi trưởng ảnh hưởng của toluene, làm tăng nguy cơ bị sẩy thai.

(Hình minh họa: Getty Images)

2. Formaldehyde – chất dùng làm cho móng tay cứng lại, và khử trùng dụng cụ làm móng

Formaldehyde, formol, cũng là thuốc dùng để ướp xác chết. Hóa chất nầy không có màu, dễ bị bắt lửa, có mùi hăng rất gắt, có thể gây ra dị ứng trên da và làm cho phỏng da. Hơi formaldehyde, có thể làm cho nhịp tim bị rối loạn, và gây ra kinh phong.

Tệ hại nhất, cơ quan International Agency for Research on Cancer (IARC) đã liệt kê formaldehyde là độc tố gây ra ung thư cho con người. Sử dụng formaldehyde về lâu về dài, tùy theo hàm lượng, có liên hệ đến ung thư mũi, ung thư máu, theo kết luận của Hội Ung Thư Ha Kỳ, American Cancer Society.

3. Dibutyl phthalate (DBP) – chất hòa tan là cho nước sơn khô lại như nhựa, không bị bể

Dibutyl phthalate, ảnh hưởng nguy hại đến hệ thống nội tiết, và hệ thống sinh lý. Nghiên cứu trên loài vật cho thấy, chất này gây ra hiếm muộn và sanh con bị tật bẩm sinh.

Trên thực tế, nhiều người sử dụng sơn móng tay, tường trình không có phản ứng phụ nguy hại nào, cho dù sử dụng hằng ngày và thường xuyên trong vòng nhiều năm. Có lẽ vì cơ thể của họ có khả năng giải độc được. Tuy vậy, cũng có nhiều người thường xuyên bị nhức đầu, là triệu chứng thường gặp.

Dù sao đi nữa, cũng nên để ý và quan tâm. Nên lựa chọn những loại sơn ít gây ra nguy hại:

“9-Free,” là loại sơn không chứa formaldehyde, toluene, dibutyl phthalate, formaldehyde resin, camphor, xylene, ethyl tosylamide, parabens, và acetone.

“7-Free,” sản phẩm không chứa formaldehyde, toluene, dibutyl phthalate, formaldehyde resin, camphor, ethyl tosylamide, và xylene.

“5-Free,” sản phẩm không có formaldehyde, toluene, dibutyl phthalates, hoặc camphor.

“3-Free,” là loại sơn móng tay không chứa “tam độc tố”, formaldehyde, dibutyl phthalate, và toluene.

Nói chung, người sử dụng sơn móng tay nên cân nhắc và chọn loại sơn thích hợp cho mình. Lâu lâu, cũng nên cho móng tay được nghỉ xả hơi, trở về trạng thái tự nhiên vì sử dụng hóa chất nhiều quá có thể làm cho móng tay bị dòn và dễ gãy.

Riêng người làm móng, nói chung là nên đề phòng, cẩn thận, nên có những khoảng thời gian nghỉ dài hạn để cơ thể hồi phục. (BS Hồ Ngọc Minh)

[jwplayer V0z7CmaT]

Tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc quay lại bãi Tư Chính

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tàu khảo sát địa chất của Trung Quốc Hải Dương 8 (Haiyang Dizhi 8) quay lại hoạt động tại vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam ở khu vực bãi Tư Chính sau gần một tuần lễ vắng mặt.

Hãng thông tấn Reuters dẫn các dữ kiện theo dõi đường đi của tàu biển quốc tế cho hay như trên hôm Thứ Ba, 13 Tháng Tám, 2019, báo hiệu sự căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ còn tiếp tục tại khu vực Việt Nam đang có hoạt động khai thác dầu khí.

Tin tức cho hay, nhiều khả năng tàu Hải Dương 8 chạy tới đảo nhân tạo Đá Chữ Thập lấy tiếp liệu và nghỉ ngơi.

Hồi Tháng Bảy, Trung Quốc đã đưa tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 đến khu vực bãi Tư Chính, thuộc bồn trũng Nam Côn Sơn, và các khu vực phụ cận ngang nhiên hoạt động với sự bảo vệ của cả tàu cảnh sát biển 12,000 tấn, lớn nhất của Trung Quốc. Có thời điểm đoàn tàu Trung Quốc kéo tới đó từ 35 đến 80 chiếc, theo Giáo Sư Carl Thayer, chuyên gia người Úc nghiên cứu về Châu Á và Biển Đông của Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Úc, cho hay trong một bài phân tích trên trang tham vấn tư Thayer Consultancy.

Trong sự căng thẳng kéo dài hơn một tháng, Việt Nam cho một số tàu cảnh sát biển và kiểm ngư tới canh chừng và theo dõi hoạt động của nhóm tàu Trung Quốc nhưng không có khả năng đuổi chúng đi khỏi khu vực. Tàu Hải Dương 8 đi khỏi khu vực Tư Chính hôm 7 Tháng Tám trong khi hai tàu hải cảnh Trung Quốc còn ở lại, theo dữ liệu của tổ chức Maritime Traffic, trang mạng chuyên theo dõi tàu biển quốc tế.

Nhà cầm quyền CSVN không nói rõ và báo chí trong nước cũng không được phép đưa tin nhưng theo dõi các tin tức của truyền thông quốc tế, người dân tại Việt Nam biết rằng nhóm tàu Trung Quốc kéo đến khu vực Tư Chính-Vũng Mây là để quấy rối, áp lực Việt Nam dừng khoan thêm giếng mới tại lô 6-1. Hiện nhà thầu Nga Rosneft đang khai thác mỏ khí đốt tại đây và thuê giàn khoan Hakuryu-5 của Nhật đào tiếp.

Tàu Hải Dương 8 đã quay trở lại khu vực bãi Tư Chính. (Hình: Marine Traffic)

Hồi Tháng Bảy, người ta thấy Hà Nội cho phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam, bà Lê Thị Thu Hằng, đả kích Bắc Kinh xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và nói đã gửi công hàm và phản đối qua nhiều kênh khác nhau. Báo chí cũng được cởi trói cho đả kích Trung Quốc ít ngày rồi tất cả im lặng như một dàn hợp ca theo lệnh của cái tay nhạc trưởng.

Những ngày đầu Tháng Tám, báo chí trong nước cho hay Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh lên tiếng tại hội nghị cấp ngoại trưởng ASEAN cáo buộc Bắc Kinh cho nhóm tàu Hải Dương 8 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ông cũng gặp riêng Ngoại Trưởng Trung Quốc Vương Nghị, thấy tường thuật trên báo chí nhà nước. Tuy nhiên, hai nước có cách tường thuật khác nhau.

Ông Phạm Bình Minh được báo của Việt Nam thuật lời “đề nghị hai bên cần nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định, kiểm soát tốt bất đồng, không làm phức tạp thêm tình hình Biển Đông.”

Còn Tân Hoa Xã thuật lời ông Vương Nghị thúc giục Hà Nội không nên để các vấn đề trên biển làm ảnh hưởng tới quan hệ song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Không thấy các bản tin của hai bên nói gì cụ thể nhưng người ta có thể hình dung ra trong đó xoay quanh sự căng thẳng ở khu vực Tư Chính-Vũng Mây.

Dư luận đang chờ xem những diễn tiến những ngày sắp tới sẽ biến chuyển theo chiều hướng nào. Reuters cho hay Bộ Ngoại Giao CSVN không thấy trả lời ngay khi được yêu cầu bình luận về việc Hải Dương 8 quay lại khu vực thềm lục địa đặc quyền kinh kế 200 hải lý của Việt Nam. (TN)

[jwplayer DSgFMyEC]

Đơn thưa kiện các bác sĩ ở California về hành vi sai trái tình dục tăng cao

LOS ANGELES, California (NV) – Con số các vụ kiện nhắm vào các bác sĩ ở tiểu bang California về các hành vi sai trái tình dục (sexual misconduct) đã tăng 62% kể từ mùa Thu năm 2017, sự gia tăng xảy ra cùng lúc với phong trào #MeToo, kêu gọi tố giác kẻ tấn công, sách nhiễu tình dục, theo một cuộc điều tra được công bố hôm Thứ Hai, 12 Tháng Tám.

Theo AP, cuộc phân tích của tờ báo Los Angeles Times về các dữ kiện lấy từ Hội Đồng Y Khoa (State Medical Board) tiểu bang California cho biết các kiện cáo về “sexual misconduct” tuy vẫn còn ít, nhưng lại có mức độ gia tăng ở hàng cao nhất.

Trong tài khóa chấm dứt vào Tháng Sáu vừa qua, Hội Đồng Y Khoa tiểu bang California nhận được 11,406 than phiền, tố cáo về đủ mọi việc, nhắm vào các bác sĩ, con số cao nhất từ trước đến nay.

Trong tài khóa 2017-2018, có 280 đơn gửi đến để cáo buộc các bác sĩ có hành vi sai trái tình dục, so với 173 vụ năm trước đó. Trong tài khóa 2018-2019, có 279 đơn.

Trong cùng thời gian đó, các hội đồng y khoa ở các tiểu bang khắp nước Mỹ cũng thấy có sự gia tăng tương tự, theo ông Joe Knickrehm, phát ngôn viên của tổ chức phi lợi nhuận Federation of State Medical Boards, dù rằng không có được các con số toàn quốc.

Nhiều chuyên gia cho rằng điều này có liên hệ đến sự thay đổi trong thái độ của xã hội, được sự khuyến khích của phong trào  #MeToo, vốn kêu gọi các nạn nhân hãy lên tiếng, cùng là có các vụ tai tiếng lớn lao liên hệ đến ngành y khoa, theo tờ Los Angeles Times.

Bác Sĩ Larry Nassar, cựu bác sĩ của tổ chức USA Gymnastics, năm 2018 bị bản án từ 40 đến 175 năm tù vì xâm phạm tình dục các nữ lực sĩ trẻ tuổi. Cùng năm đó, hàng trăm nữ nạn nhân lên tiếng tố cáo bác sĩ phụ khoa (gynecologist) lâu năm ở trường đại học USC, ông George Tyndall, là có hành vi bất xứng. Vào Tháng Sáu năm nay, cựu bác sĩ phụ khoa ở trường đại học UCLA, ông James Heaps, bị truy tố tội tấn công tình dục và lạm dụng khi điều trị hai bệnh nhân tại bệnh viện của trường.

Khi các câu chuyện này được phơi bày trước công chúng, các bệnh nhân trở nên mạnh dạn hơn khi đến phòng mạch bác sĩ, đòi hỏi được biết các bác sĩ làm gì trong mỗi bước khám nghiệm họ, theo các bác sĩ khi kể với tờ Times.

Họ cũng không ngần ngại lên tiếng nếu thấy có điều gì không ổn, cũng nhờ vào các tiết lộ liên quan đến các vụ tai tiếng vừa qua, theo lời nữ Bác Sĩ Sheryl Ross, chuyên về sản phụ khoa ở Santa Monica.

“Thời đại mà bệnh nhân cứ ngồi đó rồi chờ bác sĩ bảo gì làm nấy đã qua rồi,” theo Bác Sĩ Ross.

Kể từ giữa năm 2017 tới nay, có 23 bác sĩ ở California đã mất giấy phép hành nghề vì có các hành động sai trái liên quan đến tình dục, theo tờ Los Angeles Times. (V.Giang)

[jwplayer cm3C9TYy]

Hàng không và du lịch Hong Kong thiệt hại nặng nề vì biểu tình

Điểm tin buổi sáng 13/8/2019:
-Hàng không và du lịch Hong Kong thiệt hại nặng nề vì biểu tình
-Phó tổng thống Philippines kêu gọi phải cứng rắn hơn với Trung Quốc
-Kết quả thăm dò: Người dân Mỹ bi quan hơn về tương lai của trẻ em
-Nhiều người chết vì dịch sốt xuất huyết ở miền Nam
-Liam Hemsworth đóng phim mới cho hãng Quibi

Nhớ mãi với họa sĩ Vĩnh Phối

 

Gần đây Nhà Xuất bản Hội Nhà văn dự định xuất bản một tập sách viết về Đà Nẵng, chúng tôi định mời anh Vĩnh Phối cộng tác về mảng mỹ thuật. Rồi lại nghe anh đang ốm, định chờ anh khỏe lại để về Huế bàn với anh sau. Chưa kịp gặp lại anh thì mấy người bạn ở Huế báo tin anh đã ra đi, đã dừng cuộc chơi…

Trước đây mỗi lần có những cuộc triển lãm mỹ thuật nào ở Huế, Đà Nẵng, anh thường có mặt, để động viên lớp trẻ và cũng là cơ hội gặp gỡ anh em văn nghệ. Những lần như vậy thấy anh em tôi ở Đà Nẵng ra là anh vui lắm, cùng nhau lai rai từ chiều cho đến khuya không kể giờ giấc. Dù cách biệt tuổi tác nhưng lâu ngày gần gũi tình cảm như là anh em bạn bè. Một người từng du học ở Ý, có tranh triển lãm ở nước ngoài từ những năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước, rồi làm Hiệu trưởng Trường Cao đẳng mỹ thuật, xuất thân gia đình danh gia vọng tộc thuộc đế hệ hoàng tộc ở Huế, một nhà giáo uy tín, nhà nghiên cứu có bề dày, là cây đa cây đề của phong trào mỹ thuật miền Trung…, thế mà anh vui vẻ vô tư hồn nhiên như trẻ nhỏ, gặp nhau luôn vui vẻ.

Tôi quý anh khi biết anh là một người vẽ trừu tượng đầu tiên ở Việt Nam. Suốt 10 năm sau 1975, anh phải vẽ tranh theo khuynh hướng hiện thực. Phải đợi đến sau khi Đổi mới, nhất là sau cuộc gặp gỡ với giới mỹ thuật Pháp năm 1992 với Trường Đại học Mỹ thuật Huế, anh mới trở lại với niềm đam mê của mình là vẽ tranh trừu tượng. Hành trình sáng tạo hội họa của anh trong 60 năm cũng trải qua nhiều thời kỳ, nhiều khuynh hướng, thể loại: Trừu tượng, bán trừu tượng, biểu hiện, hiện thực… nhưng từ khai mở cho đến khi kết thúc, khuynh hướng trừu tượng như một tâm thế sáng tạo trong dòng chảy nghệ thuật của người họa sĩ tài hoa này. Tranh trừu tượng của anh luôn đem đến cho người thưởng ngoạn những cảm xúc mạnh mẽ. Những mảng màu sắc hình khối vòng xoay như phát ra những tín hiệu đầy suy ngẫm của bản thân họa sĩ với cuộc đời với những đề tài về tôn giáo, không gian vũ trụ, về thiền luận, tục đế, lục đạo của Phật giáo, không gian sống và tâm thức Huế, hình ảnh ngọn lửa thiêng – ngọn lửa của sáng tạo, sự hóa thân, sự chuyển động của tâm thức… Tranh của anh luôn thể hiện tư duy khám phá về văn hóa truyền thống, đi tìm sự hòa hợp nghệ thuật giữa phương Đông và phương Tây.

Tôi có những kỷ niệm không thể nào quên với anh. Có lần anh L.D nhờ anh vẽ một bức chân dung bằng sơn dầu. Biết rằng vẽ chân dung không phải là nghề của anh, nhưng vì quý mến mà nhờ anh vẽ. Ngày nhận tranh, tôi xem tranh rồi vui miệng nửa đùa nửa thật. Anh vẽ anh D. nghệ thuật mô không thấy mà trông giống ông hớt tóc. Tưởng là anh giận vì tôi lỡ lời. Nhưng anh không giận chỉ lắc lắc đầu ngượng nghịu một chút rồi nói chuyện khác.

Dạo ấy anh đã vẽ xong một bộ tranh có tên là Sắc màu Huế gồm những sắc màu truyền thống chủ đạo trong không gian Huế. Tôi về Huế ghé chơi nhà anh mấy lần. Anh hỏi thích bức nào. Tôi trả lời cho vui: Bức Tím Huế. Và sau này lại không nhớ mình nói thế. Vậy mà lần sau đến chơi với anh, ra về anh chạy theo cùng với bức Tím Huế. Anh nói: Tặng mi! Tôi không hề nghĩ đến chuyện này vì cả một bộ tranh mà tác giả đã bỏ ra rất nhiều công sức, thời gian chăm chút đầu tư để thực hiện, vậy mà ai nỡ lấy đi một bức để tặng thì bộ tranh đó còn mang giá trị gì. Tôi nằng nặc từ chối thì anh đã bỏ lên xe còn nói: – Đi nhanh đi kẻo chị thấy, chị đang đau. Trời ơi thế là anh giấu vợ để tặng tranh cho tôi. Tôi biết ăn nói răng chừ. Tình cảm kiểu này thì còn gì để nói nữa. Càng nghĩ càng xúc động đến chảy nước mắt.

Anh vốn là người rất rộng rãi. Lần khác, dịp Festival Huế lần đầu tiên. Bữa đó ở Khách sạn Thuận Hóa, anh em văn nghệ Huế-Đà Nẵng-Sài Gòn tụ tập đông lắm. Có một chủ phòng tranh ở Đà Nẵng nhờ chúng tôi chuyển 200 USD nhuận tranh cho anh. Thế là anh cầm tiền và nói với mọi người: – Bữa ni cho mình lo hết nghe, Làm răng cho hết tiền ni thì thôi. Nhưng bữa tiệc đó cũng không hết. Anh cầm tiền còn lại. Thôi cái ni về đưa cho vợ. Anh vừa nói vừa cười…

Một năm trước đây, anh vào Đà Nẵng tham gia triển lãm chung với nhóm họa sĩ Bắc – Trung – Nam. Thấy anh vẫn khỏe. Cả cuộc đời anh chỉ với một đam mê tột bậc là hội họa. Thời gian còn lại là vui chơi tang bồng hồ thỉ với bạn bè tri kỷ. Một người ham chơi thứ thiệt, đã đạt đạo, ngộ ra giữa cuộc đời mọi thứ đều phù hư, vô thường. Hình như sống với anh là một cuộc chơi. Tôi đùa với anh. Cuộc chơi là cuộc lữ. Vậy mà anh đã dừng cuộc chơi, dừng cuộc lữ rồi anh Vĩnh Phối ơi. Từ nay bên góc phố dưới chân cầu Gia Hội đã không còn bóng dáng của người nghệ sĩ tài hoa mà tôi vô cùng ngưỡng mộ và thương mến.

Hồ Sĩ Bình

Nhiều người chết vì dịch sốt xuất huyết ở miền Nam

ĐỒNG NAI, Việt Nam (NV) – Nhiều ổ dịch sốt xuất huyết đang hoành hành miền Nam trải dài từ Khánh Hòa đến Cà Mau, làm nhiều người chết và mắc bệnh, trong khi nhiều bệnh viện thiếu chỗ nằm.

Tiến Sĩ Nguyễn Vũ Thượng, phó viện trưởng Viện Pasteur Sài Gòn, khuyến cáo miền Nam đang cao điểm mùa mưa, thời tiết rất thuận lợi cho muỗi vằn Aedes Aegypti sinh sôi truyền virus sốt xuất huyết. Nếu không kiểm soát tốt thì dịch bệnh “sẽ tiếp tục gia tăng, phức tạp.”

Trong khi đó xác nhận với truyền thông Việt Nam, Bác Sĩ Lê Văn Lương, phó giám đốc Bệnh Viện Đa Khoa Thống Nhất (tỉnh Đồng Nai), cho biết bệnh nhân Vũ Lê Thu Huyền (36 tuổi, ở xã Đông Hòa, huyện Trảng Bom) vừa chết sáng 12 Tháng Tám, 2019, sau hai ngày điều trị sốt xuất huyết tại bệnh viện này.

Theo Bác Sĩ Lương, bệnh nhân Huyền nhập viện trong tình trạng choáng không hồi phục do xuất huyết nội, rối loạn đông máu, giảm tiểu cầu. “Diễn tiến bệnh quá nhanh, màng tim và màng phổi bệnh nhân xuất huyết nội ồ ạt. Từ lúc trở nặng đến khi tử vong chỉ có mấy tiếng đồng hồ nên không cứu chữa kịp,” Bác Sĩ Lương cho biết.

Báo Tuổi Trẻ dẫn thống kê của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật tỉnh Đồng Nai cho hay đến nay đã ghi nhận hơn 1,000 ổ dịch sốt xuất huyết với hơn 9,273 ca bệnh ở Đồng Nai. Trong đó, thành phố Biên Hòa là nơi có số người bị mắc bệnh nhiều nhất với hơn 3,360 ca, tăng gần gấp ba lần so với cùng kỳ năm 2018, chủ yếu là người lớn. Tiếp đến là các huyện Trảng Bom (1,391 ca), Long Thành (950 ca) và Nhơn Trạch (915 ca).

Tại Sài Gòn, dịch sốt xuất huyết cũng đang gia tăng mạnh. Trong Tháng Bảy, số ca sốt xuất huyết được ghi nhận là 6,456 ca và đã có bảy người chết, tăng 123% so với Tháng Sáu. Các bệnh viện không còn chỗ nằm.

Nhân viên y tế ở Đồng Nai phun thuốc diệt muỗi. (Hình: Thanh Niên)

Nói với Thông Tấn Xã Việt Nam, Bác Sĩ Nguyễn Văn Hảo, trưởng Khoa Hồi Sức Cấp Cứu Chống Độc Người Lớn thuộc Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới Sài Gòn, cho biết khoa liên tục tiếp nhận những bệnh nhân nặng từ tuyến dưới hay các tỉnh miền Tây chuyển lên, trong đó có những bệnh nhân bị tổn thương gan nặng, vàng da hoặc có trường hợp bị viêm não gây rối loạn thị giác, co giật.

“Trong thời điểm này người dân nếu có sốt thì nên đi khám tại cơ sở y tế để sớm xác định bệnh và theo dõi chặt chẽ. Việc phát hiện sớm và chẩn đoán bệnh đúng rất quan trọng,” Bác Sĩ Hảo cảnh báo.

Ngoài các tỉnh phía Nam, báo VNExpress cho hay tại Hà Nội, kể từ đầu năm 2019 đến nay cũng có gần 2,000 người bị sốt xuất huyết. Các quận, huyện có nhiều bệnh nhân là Hà Đông, Nam Từ Liêm, Cầu Giấy, Thường Tín, Đống Đa, Bắc Từ Liêm, Hoàng Mai, Thanh Oai.

Như vậy, theo ghi nhận của ngành y tế chỉ trong tám tháng đầu năm 2019, Việt Nam có gần 130,000 ca bệnh sốt xuất huyết, làm 16 người chết, tăng 3.3 lần so với cùng kỳ năm 2018, chủ yếu tại các tỉnh phía Nam.

Theo đó, mười tỉnh có tỷ lệ ca bệnh trên 100,000 dân cao nhất Việt Nam là: Khánh Hòa, Đăk Nông, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đắk Lắk, Bình Phước, Đà Nẵng, Gia Lai, Sài Gòn, Phú Yên, Bình Dương… Nhà chức trách cho hay dịch bệnh được dự báo “sẽ còn diễn biến phức tạp và tăng nhanh từ nay đến cuối năm 2019.” (Tr.N)

[jwplayer uDS5gilz]

Tin mới cập nhật