Sinh viên OCC quay lén giáo sư chống TT Trump không được đến trường
COSTA MESA, California (NV) – Đại học Orange Coast College (OCC) ở Costa Mesa vừa đình chỉ việc học của sinh viên Caleb O’Neil, 19 tuổi, bởi vì anh lén quay video một giáo sư trong lúc bà nói những lời chống đối Tổng Thống Donald Trump, theo nhật báo Orange County Register (OCR).
Nhà trường buộc anh Caleb O’Neil phải nghỉ hết mùa học này và mùa Hè. Song song đó, anh phải viết một lá thư xin lỗi và 3 trang tự kiểm, vì anh vi phạm nội qui đại học khi quay video người khác trong khuôn viên nhà trường mà không có sự đồng ý của người đó.
Bà Victoria Lugo, khoa trưởng tạm thời, viết trong một lá thư cho O’Neil: “Tôi hy vọng rằng với kinh nghiệm này, em sẽ suy nghĩ chín chắn cho những việc làm của mình trong tương lai,” theo OCR.
Sai phạm của sinh viên Caleb O’Neil là hồi Tháng Mười Hai, 2016, anh đã lén quay video khi giáo sư của mình có lời chống đối cuộc tranh cử của ông Trump rồi đưa lên mạng.
Lúc ấy, trong lúc giảng dạy, bà Olga Perez Stable Cox, giáo sư tâm lý học, nói với sinh viên là cuộc bầu cử của ông Donald Trump là “một hành động khủng bố.”
Sau khi sinh viên Caleb O’Neil tung đoạn phim lên mạng, nhà trường nhận được nhiều email cả phàn nàn lẫn ủng hộ việc này.
Tuy nhiên, sự việc trở nên trầm trọng, sau khi bà Cox nhận được email có hình căn nhà của bà.
“Có người gởi email hình chụp nhà bà, với địa chỉ,” ông Rob Schneiderman, chủ tịch nghiệp đoàn giáo chức Local 1911, nói với OCR.
Sau đó, bà phải tạm thời rời khỏi tiểu bang vì những lời dăm dọa này, theo OCR.
Ông Schneiderman mô tả bà Cox là người “gốc Tây Ban Nha, đồng tình luyến ái sống tại Orange County.”
Theo, OCR, ông William Becker, luật sư đại diện anh O’Neil, nói rằng hình phạt này là quá đáng và vi phạm pháp lý đối với anh, và anh sẽ kháng án và sẽ tiếp tục đi học trong lúc chờ kết quả.
Ông Becker, giám đốc Freedom X, một cơ quan chuyên bênh vực tự do tôn giáo và ngôn luận, nói tiếp: “Đây là sự tấn công của phe khuynh tả trong học đường để bảo vệ quyền lợi của những giáo sư cấp tiến của họ, trong lúc học sinh phe bảo thủ phải trả giá.”
Ông Dennis Harkins, hiệu trưởng đại học OCC, từng tuyên bố rằng ban giám đốc sẽ điều tra coi điều Giáo Sư Cox nói có thích hợp trong phạm vi giảng dạy của bà không. Kết quả cuộc điều tra này chưa rõ.
Ông Doug Bennett, phát ngôn viên đại học OCC, trong tuần này nói trường sẽ không bình luận về nhân sự và không muốn nói về những gì liên quan đến sinh viên, vì quyền riêng tư của họ.
Sinh viên Joshua Recalde-Martinez, một trong ba sinh viên khác, cùng đứng đầu câu lạc bộ College Republicans tại trường, hiệp hội gởi đoạn video lên mạng, nói họ nhận được thông tin cho hay không có chứng cớ gì để buộc tội họ.
Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Tư, ngày 15 tháng 2 năm 2017
Anh nói: “Tôi rất bực khi họ (nhà trường) áp đặt biện pháp quá đáng như vậy với anh O’Neil, nhất là khi một sinh viên muốn thu thập tài liệu để dẫn chứng rằng anh bị giảng viên để ý và quyền sinh viên của anh bị xâm phạm.”
Trong một cuộc phỏng vấn với OCR tháng rồi, bà Cox nói lời bà nói với sinh viên chỉ để an ủi những người không hài lòng về cuộc bầu cử của ông Trump và cho họ chỗ dựa.
Là người đồng tính gốc Latino, bà Cox rất sợ kết quả cuộc bầu cử ông Trump.
Ông Rob Schneiderman nói ông hài lòng khi thấy có người lãnh hậu quả và chịu trách nhiệm cho việc này.
Tuy nhiên, ông thêm: “Trong trường hợp này, không ai thắng cả.” (ĐG)
Ở hiền gặp lành, chuyện khó tin nhưng có thật tại Orange County
PLACENTIA, California (NV) – Ông Bob Hoffman, 65 tuổi, quản lý điều hành tại Long Beach, là người có từ tâm. Nhờ đó, chuyện xảy đến cho ông, tưởng là xui xẻo, lại mang đến một kết cuộc có hậu.
Biết vợ mình, bà Linda, 68 tuổi, ước ao được đi nghỉ mát ở Ý, ông Bob đã âm thầm ky cóp suốt sáu năm trời, dành dụm từ năm 2011 và có được $8,000, theo nhật báo Orange County Register (OCR).
Vài tuần trước, một người bà con của ông cầu khẩn, xin ông cứu giúp vì cả gia đình họ, có cả con nít, đang bị trục xuất khỏi căn hộ họ đang ở. Cầm lòng chẳng đặng, ông Bob quyết định sẽ lấy toàn bộ số tiền $8,000 này để giúp người bà con này.
Thứ Hai tuần rồi, ông ra nhà băng rút $8,000 về định sẽ đưa cho người bà con. Sợ mất, ông bỏ số tiền vào phong bì rồi nhét túi áo sơ-mi màu cam.
Đêm ấy, bà Linda nói với ông Bob rằng sáng hôm sau, bà sẽ cho Goodwill ở Placentia một ít quần áo cũ. Vốn thích giúp người khác, ông Bob vơ một số quần áo trong tủ rồi đem ra xe giúp vợ mà không hề hay biết mình đã lấy luôn cái áo màu cam có $8,000 trong túi, vẫn theo OCR.
Hai hôm sau, ông Bob mới xực nhớ ra chuyện này. Lúc ấy, ông đi làm về, lấy thêm $100 trong ngân hàng cho người bà con.
Về nhà, ông vội vã hỏi vợ thì chưng hửng, khi biết rằng bà đã đem hết quần áo cho Goodwill từ hai hôm trước rồi.
Hai vợ chồng chạy ra Goodwill, mọi người cùng đổ xô lùng xục khắp tiệm cả giờ đồng hồ.
Họ thấy quần áo của ông Bob, nhưng không thấy cái áo màu cam, báo OCR cho hay.
Bà Linda nói: “Ông Bob là người cứng rắn. Nhưng ông đã khóc. Ông chưa hề khóc từ khi đám tang cha mẹ ông.”
Đêm ấy dài lê thê bất tận.
Sáng Thứ Sáu, mới 7 giờ 30, điện thoại nhà ông reo. Ông Bob đã đi làm. Một người đàn bà tên Caitlin Mulvihill báo rằng bà tìm được cái áo màu cam.
Bà Linda gọi ngay cho ông Bob ở sở làm.
Tan sở, ông Bob đưa bà Linda đến Goodwill ngay. Thật may mắn, ông đã nhận được đầy đủ $8,000.
Ông nói: “Tôi rất kính phục sự lương thiện và lòng chính trực của nhân viên Goodwill. Họ có thể giấu tiền của tôi một cách dễ dàng.”
Bà Linda muốn tặng tiền thưởng, nhưng Goodwill dứt khoát không nhận. Sau cùng, họ đồng ý cho vợ chồng ông Bob mua pizza đãi nhân viên Goodwill, theo báo OCR.
Khi tạo ra nhân tốt, cái quả cũng sẽ tốt.
Tuần rồi, ông Bob được người bà con cho hay là họ đã xoay sở được rồi, không cần tiền của ông nữa.
Ông gởi tiền ngay vào ngân hàng. (ĐG)
Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Tư, ngày 15 tháng 2 năm 2017
Ðứng Thẳng Làm Người (Kỳ 128)
1,474 ngày trong nhà tù Cộng Sản Việt Nam
Phòng giam trại Bố Lá này phía trên, bên hông có một ô cửa vuông cỡ sáu tấc, có song sắt, cách mặt đất khoảng hai mét rưỡi. Phía ngoài vách tường chỗ ô vuông đó nó xây cái bục xi măng cao khoảng sáu tấc cho tụi công an tuần tra leo lên đó đứng nhìn vô thì có thể nhìn thấy mọi hoạt động trong phòng giam cả tầng dưới, tầng trên cùng một lúc.
Cái tầng dưới tôi đang ở ban đêm không có ánh sáng đèn, tối mò mò một chút ánh sáng từ cái bóng điện nhỏ xíu ngay cầu thang tầng trên chiếu xuống. Buổi tối, sau khi ăn cơm xong chừng một giờ đồng hồ, tôi đọc ba chuỗi kinh rồi đi ngủ. Tôi cầm chuỗi Mân Côi trên tay, cứ đi từ cửa phòng đến cuối phòng rồi quay lại, vừa đi vừa đọc, coi như mình tập thể dục nhẹ, mà không phải ngồi một chỗ cho muỗi cắn.
Có lần tôi đang đọc kinh thì nghe tiếng hỏi:
– Chị đang làm gì vậy?
Tôi quay ra tìm, nhìn lên cái lỗ vuông đó thì thấy thằng công an tuần tra đứng nhìn tôi từ trên cái lỗ vuông đó. Tôi trả lời:
– Tôi đang đọc kinh.
– Chị đạo gì? – Nó hỏi tiếp.
– Công Giáo. – Tôi nói.
– Tôi có thể nói chuyện với chị một chút được không? – Nó hỏi.
– Ðược. – Tôi trả lời. – Có gì muốn nói cứ nói đi, không cần phải ngại đâu. Ai tử tế với tôi thì tôi cũng tử tế lại thôi.
– Quy định tôi làm tuần tra thì chỉ tuần tra thôi, không được nói chuyện với phạm nhân trong phòng. Nhưng mà tôi tò mò quá, muốn biết. – Nó nói.
Tôi nhìn lên, qua ánh sáng lờ mờ thấy nó đeo bảng tên Nguyễn Văn Tuấn, khoảng hơn hai mươi tuổi, cấp hàm trung sĩ. Tôi nói:
– Cán bộ Tuấn muốn hỏi gì cứ hỏi, cái gì tôi trả lời được tôi sẽ trả lời, tôi với cán bộ Tuấn đâu có gì phải thù hằn nhau đâu mà sợ.
– Tôi nghe mấy người ở ngoài nói chị có nhiều bằng cấp lắm, hồi trước chị toàn công tác ở các đơn vị mũi nhọn ngành công an có đúng không? Là những đơn vị nào vậy? – Nguyễn Văn Tuấn hỏi.
– Ðúng vậy. – Tôi trả lời. – Tôi đã từng làm cảnh sát điều tra, cảnh sát khu vực, cảnh sát hình sự, an ninh điều tra. Tôi cũng phối hợp công tác với rất nhiều đơn vị nghiệp vụ khác như kỹ thuật hình sự, kỹ thuật nghiệp vụ 2, giao thông, pháp y. Nói chung là còn nữa, nhưng không nhiều bằng mấy chỗ vừa kể.
– Tôi biết những đơn vị đó không giỏi không làm được. Hồi trước chắc chị học giỏi lắm. Tại sao chị nghỉ làm? – Nguyễn Văn Tuấn hỏi.
– Tôi còn viết báo. Mà người ta không thích tôi viết báo, vậy thôi. – Tôi nói.
– Sao kỳ vậy? – Nguyễn Văn Tuấn hỏi.
– Ðó là quyền của tôi, tại sao tôi lại không được quyền viết những điều mà tôi thấy đó là sự thật. Tôi không chấp nhận làm một thứ công cụ cho người khác. – Tôi nói.
– Chị theo đạo Công Giáo từ lúc nào vậy? Chị thấy đạo Công Giáo có gì hay mà chị theo? – Nguyễn Văn Tuấn hỏi.
– Tôi mới rửa tội từ Tháng Sáu năm 2009 thôi. Tất nhiên là hay tôi mới theo chớ. Tôi già từng tuổi này, lại có trình độ giỏi như cán bộ biết, người khác muốn dụ tôi dễ lắm sao? – Tôi nói.
– Ờ hé! Chị nói đúng. Hồi đó chị học trường nào vậy? Chị làm được bao nhiêu năm rồi? Khi chị thôi làm cấp hàm chị là gì? – Nguyễn Văn Tuấn hỏi tiếp.
– Tôi học Ðại Học Luật, cao cấp lý luận chính trị Má -Lê, lớp đào tạo luật sư là chính, còn những khóa học ngắn hạn thì nhiều. Tôi công tác trong ngành công an hơn mười năm, năm 2001 tôi đã mang hàm đại úy, cho nên cỡ tuổi tôi mà giờ này mới đại úy là đồ bỏ, làm quản lý du lịch một thời gian rồi mới nghỉ luôn đi làm báo. Tôi cũng có mười mấy năm tuổi đảng đó. – Tôi nói.
– Chị công tác thời gian cũng lâu, tại sao chị không theo đuổi đến cùng? – Nguyễn Văn Tuấn hỏi.
– Phải, tôi làm việc thời gian cũng lâu. Cái mà tôi có được trong suốt thời gian ấy là kiến thức, sự hiểu biết, ngoài ra không có gì hết. Ngày tôi còn đi học và bắt đầu làm việc, tôi nghĩ rằng tôi có thể đem lại công lý, công bằng cho người dân. Nhưng sau đó thì tôi hiểu, làm gì có công bằng, công lý, tôi không thể đem lại công bằng cho người khác khi chính bản thân tôi còn không có sự công bằng. Những người như tôi phải làm việc như trâu bò, để những đứa dốt nát chữ không đầy cái lá tre nhưng là con ông cháu cha ngồi trên đầu trên cổ hưởng lợi, đứa dốt hơn mình làm lãnh đạo mình, cái đó tôi không chịu được. Bọn họ toàn lừa bịp, dối trá, những điều tôi học ở trường ngày trước thấy chúng nó đều làm ngược lại, chúng nó chỉ lo tham nhũng, hốt bạc, phe cánh, chẳng có vì dân vì nước con mẹ gì hết. Cứ tưởng là công bằng lắm, chính trực lắm, chỉ cần chịu khổ một thời gian thì dân giàu nước mạnh, cố gắng để xây dựng nước mình tiến lên. Giờ hiểu ra toàn nói láo hết, chỉ có bọn chóp bu chúng nó giàu thôi, dân thì tàn mạt, cán bộ cấp thấp như tôi cũng tàn mạt. Khi cần có năm trăm ngàn đồng thôi không biết vay mượn ai, không ai dám cho mình mượn, sợ mình không có tiền trả, tình nghĩa cái chó gì mà lưu luyến. – Tôi nói.
Bức tường Mỹ-Mexico gợi lại ký ức đau buồn của bức tường Berlin
Có lẽ chưa nơi nào mà việc ông Trump muốn xây một bức tường với Mexico gợi cho người ta những ký ức không vui nhiều bằng tại Berlin. Những ký ức đó đã là động lực dẫn đến việc tuần trước hàng ngàn người dân Berlin tụ tập dưới trời lạnh băng giá tại Khải Hoàn Môn khổng lồ Brandenburg Gate, nơi mà bức tường Berlin được dựng trước đây, để phản đối dự án xây bức tường dọc theo biên giới với Mexico của ông Trump cũng như là quyết định nay bị tòa án tạm hoãn thi hành cấm công dân thuộc bảy nước đa số là Hồi Giáo nhập cảnh vào nước Mỹ.
“Chúng tôi đã có một bức tường tại đây, chia Berlin ra làm đôi. Chúng tôi biết những bức tường nó chia rẽ người ta đến mức nào,” một người biểu tình nói với phóng viên tờ Christian Science Monitor trong lúc đám biểu tình vừa đi vừa ca trên đường tiến tới tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ.
Dựa trên kinh nghiệm lịch sử của mình với bức tường đã nằm sừng sững trong suốt 28 năm tại Berlin, nhiều người Ðức thấy những lời nói của ông Trump về một bức tường như vậy thật là khó chịu. Ðứng trước một phong trào dân túy cực hữu đang gia tăng tại Ðức và nhiều nơi khác ở Châu Âu cũng như là những hàng rào tương tự được dựng lên tại nhiều nơi để ngăn chặn làn sóng di dân, họ cảm thấy chúng biểu tượng cho một sự đóng cửa tổng quát đối với những văn hóa và tư tưởng mới.
“Tường tạo ra sự cô lập và kỳ thị,” đó là nhận định của đô trưởng Berlin, ông Michael Muller, sau khi ông Trump đưa ra sắc lệnh xây bức tường cách ly với Mexico chỉ chưa đầy một tuần sau khi nhậm chức. Và ông viết thêm, “Vào lúc này, vào lúc mở đầu của thế kỷ thứ 21, chúng ta không thể chỉ đơn giản từ chối không chấp nhận nó khi mà tất cả những kinh nghiệm lịch sử của chúng ta bị bỏ không thèm ngó đến bởi dân tộc mà nhờ họ chúng ta có tự do, dân tộc Mỹ.”
Theo giám đốc tổ chức thiện nguyện Berlin Wall Foundation Axel Klausmeier thì một trong những bài học lớn nhất mà người ta học được từ bức tường Berlin là “không một bức tường nào có thể kéo dài một cách vĩnh cửu.” Bức tường có thể cho một giải đáp ngắn hạn nhưng về lâu về dài không hữu hiệu gì trong việc ngăn chặn nhưng người di dân nếu họ muốn đến. Và ông Klausmeier đưa ra một lời mời sẽ dẫn ông Trump đi tham quan bức tường Berlin mà nay chỉ còn lại vài mảnh dọc theo thành phố Berlin trong trường hợp ông Trump quyết định có đến thủ đô của nước Ðức. Ông Klausmeier nói: “Có thể rằng ông ta sẽ bị hấp dẫn bởi mô hình lịch sử này.”
Tuy nhiên Joerg Forbrid, một nhà nghiên cứu cao cấp về Trung và Ðông Âu cho viện nghiên cứu German Marshall Fund cảnh cáo rằng không nên quá lạm dụng sự so sánh lịch sử giữa bức tường Berlin và bức tường mà ông Trump dự tính xây dọc theo biên giới Mexico: một cái để ngăn chặn người ta trốn ra và một cái để giữ không cho người ta vào. Mặc dù vậy theo ông Forbrid, bức tường Berlin là một bằng chứng mạnh mẽ cho thấy sự vô hiệu của những bức tường như vậy trong việc hoàn thành mục tiêu người ta muốn, nhất là nếu đứng trước những đối kháng mạnh mẽ. Theo ông Forbrig, “Những người nào nhất định muốn thoát ra thì sẽ tìm thấy đường tuy rằng nhiều khi với những nguy cơ rất lớn. Ước muốn của con người muốn vượt qua sự ngăn cách nhân tạo thì mạnh hơn và lớn hơn bất kỳ một thứ bê tông nào mà người ta có thể tạo ra.”
Và ông cũng đặt vấn đề là làm sao một bức tường dọc theo biên giới với Mexico có thể ngăn chặn việc di dân bất hợp pháp khi mà theo Twe Research Center có đến 50% những người di dân bất hợp pháp nhập cảnh Mỹ qua con đường hợp pháp tỷ như các chiếu khán du học hoặc là du lịch.
Theo ông Jochen Staadt, giáo sư về sử nước Ðức tại viện đại học Berlin Tự Do (Free University Berlin): “Một bức tường không ngăn chặn được người ta muốn tự do, muốn có một cuộc sống tốt hơn và tìm cách có một đời sống mới tại một nơi mà người ta nghĩ là tốt hơn quê hương mình.”
Giáo Sư Staadt chỉ ra các sinh viên của trường đại học ông đã giúp như thế nào những người dân Ðông Ðức tìm cách ra khỏi Ðông Berlin trong những ngày đầu khi bức tường mới được xây, chẳng hạn giúp họ “lấy thông hành Thụy Sĩ hoặc là đào đường hầm.”
Trung Quốc xây nhà máy nhiệt điện gây ô nhiễm tại Bình Thuận
Bức tường ông Trump định xây là tăng thêm vào số 652 dặm hàng rào kẽm gai vốn đã chạy dọc theo biên giới với Mexico và chắc chắn cũng sẽ gặp phải những chống đối gay gắt tương tự.
Bức tường mà ông Trump muốn xây chỉ là triệu chứng của một hiện tượng trong đó người ta nghĩ rằng đóng cửa xã hội mình sẽ giúp cho người ta giải tỏa được cảm giác bị đè bẹp bởi sự cởi mở dẫn đến việc du nhập tràn ngập những con người, tư tưởng, và tôn giáo mới vào trong xã hội mình. Ðây là một hiện tượng không chỉ thuần túy xảy ra tại Mỹ. Thành ra theo Giáo Sư Forbrig: “Phong trào chống Hồi Giáo tại Ðức, Brexit tại Anh hay là Front National tại Pháp, tất cả cũng chẳng khác gì với những gì ông Trump vẫn nói và nay đang làm. Nó đều là xung động cô lập hóa. Tường và lệnh cấm nhập cảnh chỉ là những triệu chứng của một căn bệnh xã hội chung.”
New York: Các dược phòng chống kiểm soát giá thuốc
ALBANY, New York (NV) – Hệ thống các nhà bào chế thuốc tại Hoa Kỳ đang vận động giới lập pháp New York bác bỏ kế hoạch kềm chế không cho giá thuốc tăng vọt do Thống Ðốc Andrew Cuomo đưa ra, tờ New York Daily News loan tin.
Tổ Hợp Nghiên Cứu và Bào Chế Dược Phẩm Hoa Kỳ vào hôm Thứ Tư khởi sự vận động các nhà lập pháp tiểu bang New York bác bỏ kế hoạch của ông Cuomo, lập luận rằng kế hoạch đó đe dọa tiến trình nghiên cứu và bào chế các dược phẩm tốt hơn cho bệnh nhân.
Chiến dịch vận động này sẽ bao gồm các quảng cáo trên mạng và một loạt các cuộc vận động trên toàn tiểu bang để thúc giục dân New York yêu cầu các nhà lập pháp bác bỏ dự luật kiểm soát giá thuốc ngay tại Quốc Hội tiểu bang.
Các dược phòng còn tố cáo rằng kế hoạch của vị thống đốc chẳng những không đem lại kết quả tốt đẹp nào mà còn đẩy giá thuốc lên cao hơn và ngăn chặn việc phát minh các thứ thuốc mới cần thiết cho việc cứu mạng con người.
Chiến dịch này cũng thúc giục giới lập pháp New York đưa ra “các giải pháp thật sự cho người bệnh” thay vì trông cậy vào sáng kiến của chính quyền Cuomo. (V.P.)
Điều hành đường dây mại dâm Bắc California, bị tù bốn năm
Không còn khổ đau
Trong gần ba thập niên làm công việc trả lời thư độc giả/thính giả, tôi được cơ hội gặp gỡ trực diện với khoảng trên dưới 30 phụ nữ, một thanh niên tuổi dưới 30, ba ông trung niên tuổi từ ngoài 40 đến gần 50, ba ông ở ngưỡng cửa tuổi đời xưa nay hiếm, ngoài 70. Câu chuyện của quý vị nam giới có nội dung khác nhau, làm họ bận tâm tìm giải pháp hoặc chấn chỉnh/thay đổi, hoặc bắt đầu/nối lại, thậm chí chấm dứt một tình huống bất như ý nào đó. Thái độ giống nhau ở những vị này là tuy họ có ít nhiều bối rối, khổ tâm nhưng tuyệt đối tinh thần họ khá vững vàng, không bị suy sụp. Trái lại, với các cô, các bà ở nhiều độ tuổi, nội dung câu chuyện họ chia sẻ không khác nhau và thái độ của họ hầu như cũng chỉ là một tuy mức độ và hình thức có gia giảm. Nói cách khác, họ là hiện thân buồn thảm của nỗi đau đến từ người đàn ông là chồng hay người tình, đa phần, hoặc không thủy chung hoặc bội bạc.
Những điều mắt thấy, tai nghe lập đi lập lại nhiều lần như điệp khúc của một bài hát cũ khiến có lúc tôi đã nghĩ trái tim người phụ nữ là một cấu tạo vật lý không thay đổi, bất biến trong lồng ngực của họ dù trải qua hàng trăm năm vật đổi sao dời và người phụ nữ về nhiều phương diện, được xem là họ đã đi hia bảy dặm cùng với những tiến hóa thần kỳ của xã hội. Nếu có thay đổi chút nào thì chỉ là ứng xử bề ngoài của họ được trí tuệ tương tác với lợi thế thời đại dành cho họ như một thứ thể diện hay một thứ quyền năng tự vệ. Tôi tin là phụ nữ vẫn khóc một mình ngay cả khi mối hận lòng cho họ sức mạnh bài binh bố trận để hủy diệt kẻ bạc tình.
Năm tôi chừng 10 tuổi, một buổi chiều nắng vừa tắt, tôi đang chạy chơi trong vườn, quần áo, mặt mũi lem luốc bụi đất và mồ hôi thì nghe tiếng mẹ gọi ầm ỹ từ căn bếp ám khói. Giọng bà hổn hển: “Con lên gác, bảo bà khách về đi vì sắp đến giờ cơm của thầy rồi!” Tôi ngây thơ, vội vàng làm theo lời mẹ nhưng chạm phải ánh mắt sắc như dao của bà khách ngồi đối diện bố có đôi lông mày vòng nguyệt thật đẹp trên khuôn mặt chữ điền mịn màng, tôi hơi sợ, bèn nhanh trí đổi lời mẹ dặn: “Thưa thầy, dọn cơm được chưa ạ?” Bố tôi từ tốn trả lời, dịu dàng khác hẳn mọi khi: “Thầy có khách, con bảo cô S. làm thêm vài món, xong thì bưng lên.” Tôi trở xuống, vào bếp, đã thấy đôi mắt mẹ nhìn tôi, chờ đợi. Tôi lập lại lời bố, chưa hết câu thì giật bắn mình thấy mẹ tôi phang mạnh vào tường thanh củi đang cháy dở trên tay bà, miệng lầu bầu: “Làm thêm món này! Làm thêm món này!” Ðầu óc non nớt cho tôi biết thế là có chuyện gì nghiêm trọng rồi nhưng vì mẹ đang tức giận, tôi lủi nhanh ra vườn. Một chốc, mẹ không gọi mà ra vườn tìm tôi, lần này bà chỉ bảo: “Con lên gác xem bà khách về chưa?” Bà khách vẫn chưa về. Mẹ tôi dập bếp, không thổi nấu gì nữa mà loay hoay, bực dọc ra mặt. Tôi nghe mẹ lầu bầu tiếp: “Tối rồi mà không về là thế nào? Thứ đồ mặt trơ.” Mẹ còn bắt tôi lên lầu thám thính vài lần nữa trước khi tôi thấy bà vãi một nắm muối hột vào cái bếp đang đỏ lửa. Chắc mẹ làm phép nên khi những hạt muối hết nổ lép bép trong bếp thì bà khách xuống lầu, đi tha thướt ra cổng trong bóng chiều đã nhọ mặt người. Bà khách của bố trông sang trọng và đẹp hơn mẹ tôi vạn lần. Tôi hỏi ông quản gia: “Ông Tuyển ơi, bà khách của bố cháu là ai, ông có biết không?” Ông cười, đôi mắt toét viền đỏ hấp háy: “Cô trẻ con, hỏi chuyện người lớn làm gì? Bà ấy là bạn cũ của cụ đấy!” Câu chuyện ngày ấy ngưng ở chỗ này nhưng tôi không quên mà mãi ghi nhớ nó trong đầu.
Sau này khi khôn lớn, nhớ lại chuyện cũ, tôi mới hình dung được là mẹ tôi… ghen. Trí nhớ tôi ghi đậm hình ảnh bà đôi mắt thất thần, lam lũ trong chiếc áo cánh vải trắng ám mùi hành tỏi, quay quắt đi tìm tôi trong khu vườn rộng với nỗi lo âu, thổn thức buồn tủi trong trái tim không khác gì trái tim của bất cứ phụ nữ sang/hèn nào trên mặt đất này. Chả thế mà thi hào Nguyễn Du đã đặt vào miệng Hoạn Thư lời trần tình cho tính đanh ác, nanh nọc của nàng trong vị thế người vợ cả biết chồng có tình riêng: “Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.”
Tất cả các bà vợ hay người tình đều nhân danh tình yêu mà ghen. Tôi hơi ngờ ngợ điều này vì bản chất của tình yêu là niềm vui, là hiến tặng và tan chảy trong nhau, không có chỗ cho ép uổng và thù hận. Ngay cả một bà mẹ có bổn phận bảo vệ gia đình vì sự an vui của con cái, mục tiêu càng không phải là sở hữu người chồng và đẩy con cái vào hoàn cảnh thiếu cha hay thiếu mẹ. Trường hợp mẹ tôi, suy từ thực tế, tôi biết chắc giữa cha mẹ tôi, trong mọi thời điểm cuộc đời của cả hai, không bao giờ có cái tình nên thơ, lãng mạn dưới bất cứ hình thức nào mà thế gian gọi là tình yêu. Ðể thèm khát. Ðể tiếc nuối. Ðể đòi quyền sở hữu. Ðể cay đắng ghen tuông với người khác một điều gì bà thực sự không hề có để mà mất. Thế nhưng hình ảnh mẹ tôi quay quắt đến tội nghiệp trong cái buổi chiều mùa hè oi bức ngày tôi còn bé, chưa đủ trí khôn để hiểu biết thế giới đa đoan của người lớn, rõ ràng là do ghen tuông. Vậy thì cảm xúc buồn bã ấy bởi đâu? Tôi tiếc đã không còn mẹ ở tuổi này để ôm bà trong tay và hỏi nguồn cơn.
Theo sách vở nghiên cứu, trong các nguyên nhân gây ra trạng thái ghen tuông, có trường hợp tôi nghĩ giải thích được cho mẹ, đó là mặc cảm tự ti, bị coi nhẹ. Tuy nhiên, nghịch lý vẫn đặt ra ở thời của mẹ tôi, khi người đàn bà làm vợ người đàn ông có vai vế trong xã hội không những luôn ở vị thế thấp hơn chồng trong thứ bậc gia đình mà còn lấy làm vinh hạnh được ngồi ở chỗ của họ. Vây, đây không phải là lý cớ khiến mẹ tôi ghen tuông.
Vẫn theo sách vở nghiên cứu, ghen tuông còn đến từ ý nghĩ bị chia sẻ những gì vốn được xem là thiêng liêng, cao quý, từng chỉ chia sẻ trong riêng tư giữa hai vợ chồng hay hai người tình, gây ra cho nửa kia cảm giác bị phản bội, bị xúc phạm, bị ăn cắp, thậm chí bị tước đoạt, làm nảy sinh ghen tuông. Áp dụng trường hợp này vào mẹ tôi cũng trật lất.
Thế mà mẹ tôi quả thực có ghen. Vẫn ghen.
Sống gần hết đời mình, đọc, biết, hiểu, ngay cả bản thân trải nghiệm, tôi xót xa thương mẹ và cả một thế hệ các phụ nữ như mẹ. Tôi cũng chủ quan kết luận rằng ghen tuông thuần là do bản năng và vì do bản năng, tự nó có sức mạnh khó kềm hãm. Tuy nhiên, đã gọi là bản năng ắt có thể dùng lý trí để trấn áp. Cho nên, ghen tuông còn được xếp loại đẳng cấp. Phụ nữ trí thức ghen kín đáo, thâm trầm, thanh lịch. Phụ nữ bình thường ghen ầm ỹ, theo sự thúc đẩy của bản năng. Bên cạnh lý trí/trình độ, phong tục, tập quán xã hội cũng là nguồn lực giúp kiểm soát cảm xúc ghen tuông, vừa tích cực vừa tiêu cực tùy thuộc bối cảnh trong đó sự việc đưa tới ghen tuông xảy ra.
Bạn bè, chị em, đồng nghiệp ghen giống nhau vì bắt chước, vì nghe thấy/nhìn thấy hay được xúi bẩy làm theo, thậm chí có cả việc đánh ghen hộ. Ồn ào, huyên náo có thể qua đi, kể cả những hư hao nó để lại. Nhưng ghen mà không thổ lộ, mà cất giữ cho riêng mình là loại ghen cực độc, như ung thư ngấm ngầm hủy hoại sinh lực người bệnh.
Khoảng năm 2005, lúc tôi còn làm việc cho đài phát thanh VNCR trên đường Moran, một buổi trưa có một bà đến tìm tôi. Từ đó tới nay, hình ảnh bà còn mãi trong ký ức tôi với câu hỏi thật tha thiết: “Bây giờ chị ở đâu? Vì sao chị không trở lại gặp tôi như đã hứa? Chị có khá hơn không? Tôi hy vọng sau lần chúng ta nói chuyện (đúng hơn là chị nghe tôi nói) chị đã đủ sức mang vác gánh nặng của mình và không cần tôi nữa?” Kinh nghiệm cho tôi biết người trong cuộc khi ra khỏi cơn bối rối thường ngại ngùng, không muốn đối diện lần nữa với nhân chứng của một hoàn cảnh họ hối tiếc phải chi đừng xảy ra.
Chị bước vào, khuôn mặt nhợt nhạt, tóc không gội, không chải, quần áo xộc xệch. Chị cầm cái ví con lép kẹp ở tay, một chiếc dép đi ở chân bị đứt quai, buộc tạm bằng dây thun, đôi mắt buồn ném ra xung quanh ánh nhìn rụt rè, ngơ ngác. Quan sát kỹ, tôi đoán chị chừng ngoài 40 tuy sự bơ thờ, không săn sóc mình, không trang điểm, dáng vẻ tiều tụy với hai vai xuôi, bước đi chậm, khiến chị trông qua như một người già. Ngồi trong phòng khách của đài, chị khóc rấm rứt, nói không ra hơi, tiếng còn, tiếng mất, đại khái chị bị người phối ngẫu có tình riêng bạc đãi. Những bức tranh phụ rẫy có nội dung/hình thức giống nhau nhưng bức tranh ngay trước mắt tôi lúc đó âm u quá, thê thiết quá, đầy thương cảm. Tôi cầm tay chị, đưa chị vào phòng vệ sinh phía sau, xin chị vui lòng soi mình vào gương rồi hỏi chị: “Chị ơi, chị có nhận ra chị trong gương không? Chị có thương được người phụ nữ như chị đang thấy đấy không? Người ta làm khổ chị đã đành nhưng sao chị nỡ tự đày đọa mình đến thế? Chị về nhà, tắm gội sạch sẽ, thơm tho. Ra phố chải tóc, làm móng chân, móng tay, mua quần áo mới, dép mới, làm đẹp mình giùm tôi. Chị phải tự bằng lòng mình trước, phải cảm thấy yêu thương chính mình trước khi mong muốn làm động lòng người bên cạnh, như bông hoa nở tự nhiên, đẹp lấy nó, tỏa hương thơm nơi nó hiện diện và quyến rũ. Công việc và con cái là hai nguồn hỗ trợ có sức mạnh giúp chị đứng lên, vững chãi trong cuộc sống. Chị làm được đến đâu, tốt đến đó và vui lòng trở lại đây cho tôi vui cùng rồi tính tiếp, chị nhé!”
Cùng với thiên chức làm vợ, làm mẹ, tạo hóa ban cho người phụ nữ những tiềm năng sống còn tuyệt vời, chỉ cần các chị bình tâm trước mọi biến cố, đừng hốt hoảng, đừng tuyệt vọng, đừng mong chờ ai hay cái gì khác mà tĩnh lặng nhìn sâu chính nội tâm mình, thắp sáng bóng tối bằng suy nghĩ trong trẻo, bằng cảm thông vị tha, bằng thấu suốt lẽ đời hết mưa rồi sẽ nắng, các chị sẽ tìm được bình an, sẽ thấy hạnh phúc dễ hơn khổ đau, sẽ chấm dứt mọi bi kịch, sẽ tự chữa lành những thương tổn bất luận đến từ nguyên nhân nào, trong đó, thường xuyên nhất từ trái tim đong đưa của các đấng mày râu.
Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Tư, ngày 15 tháng 2 năm 2017
Nhượng Tống, thế hệ 20 hồi 1925
Ngoài việc dịch gần hết “lục tài tử” của văn học Trung Hoa, ngoài cuốn tiểu thuyết tình cảm thời mới lớn Lan Hữu, Nhượng Tống còn là người đồng thành lập Nam Ðồng Thư Xã với anh em Phạm Tuấn Tài chủ trương giáo dục thanh niên ý thức trách nhiệm đối với đất nước – một đất nước còn đang dưới ách đô hộ của Pháp – cho nên ảnh hưởng của ông lan rộng, sâu bền, khác hẳn ảnh hưởng giai đoạn của chính trị. Các sách mà ông đã xuất bản là Gương Thiếu Niên, Gương Thành Bại, Trưng Vương Diễn Nghĩa, Dân Tộc Chủ Nghĩa. Thư xã của ông bị đóng cửa khi Việt Nam Quốc Dân Ðảng thành lập năm 1927. Vụ ám sát ông năm 1949 trên đường phố Hà Nội là một án mạng văn hóa. Nạn nhân không chỉ là một người, nạn nhân là một thế hệ càng ngày càng kém văn hóa vì bạo lực đã giết hại biết bao nhân tài xây dựng văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XX?
Nhà văn Nhượng Tống sinh năm 1905 hay lẻ 6, khi khuất bóng trên đời ông mới 43 hay 44 tuổi, khi hoạt động bên cạnh Nguyễn Khắc Nhu (Sứ Nhu), Nguyễn Thái Học, Hồ Văn Mịch, ông 21 tuổi, kém các đàn anh có 3 hoặc 4 tuổi. Trong bài phỏng vấn Nhượng Tống đăng trên tạp chí Tri Tân, Nhượng Tống cho biết như thế: “Tôi năm đó [khoảng 1927] kém anh Học ba tuổi, mới có 21, là người bé nhất.”
Nhắc lại cuộc nổi dậy ở Yên Bái xảy ra ngày 10 Tháng Hai 1930, nhưng thất bại, các yếu nhân QDÐ bị hành hình ngày 17 Tháng Sáu cùng năm và cuộc phỏng vấn Nhượng Tống thuật lại trong bài này in ra Tháng Năm 1945 (*), 15 năm sau ngày trọng đại. Mười lăm năm sau biến cố lịch sử mà bản thân có góp phần, mặc dù bị tù tội cấm cố, trí nhớ của nhà văn Nhượng Tống với tuổi 43 hẳn còn sắc bén, rất đáng để chúng ta tin đây là một tài liệu quí giá. Có mấy sự việc chúng tôi trích ra tạm đặt dưới những tiêu đề nhỏ.
Tổ chức
Nhượng Tống trả lời câu hỏi của báo Tri Tân:
– Chúng tôi đã tổ chức đảng chia làm 4 bậc: trung ương đảng bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ và chi bộ. Trung ương có 8 ban: ban tài chính, ban tuyên truyền, ban tổ chức, ban binh bị, ban giám sát, ban trinh thám, ban giao thông và ban ám sát. Dưới trung ương đảng bộ là kỳ bộ. Tất cả có 3 kỳ: Trung, Nam, Bắc. Từ tỉnh bộ trở xuống chỉ có 4 ban: tuyên truyền, tổ chức, tài chính và giám sát.
Mỗi chi bộ có 19 đảng viên vì giạo [dạo] đó có lệ cấm không được hội họp quá 19 người. Nói là 19 nhưng nhiều khi mỗi chi bộ không đủ con số đó. Mỗi khi họp ở đâu thì do ban tổ chức tìm nơi và quyết định rồi mệnh lệnh sẽ do các đảng viên truyền đi, đảng viên ấy ở trong bộ giao thông. Trong trung ương đảng bộ, anh Nguyễn Khắc Nhu tức Sứ Nhu làm chủ tịch, còn anh Nguyễn Thái Học thì là phó chủ tịch. Ðến 1929 đảng chúng tôi chia làm hai ban: ban lập pháp và ban chấp hành. Ban lập pháp thì anh Sứ Nhu đứng đầu. Ban chấp hành thì anh Nguyễn Thế Nghiệp.
-Ðảng tổ chức như vậy chắc cũng có nguồn lợi tức gì để chi tiêu các khoản?
-Tiền của đảng một phần là do các đảng viên đóng, mỗi người mỗi tháng hai hào. Những người đi làm công sở mà có lương tháng thì phải góp hàng tháng hai mươi phần trăm số lương. Các nhà nông công, thương, phải nộp hàng năm hai mươi phần trăm số lợi tức. Ngoài ra đảng lại mở cuộc lạc quyên trong các đồng chí. Nhiều anh em đã giúp đảng hàng vạn!
Biết rõ về cách tổ chức, tôi bèn hỏi tới chương trình của Việt Nam Quốc Dân Ðảng thì ông Nhượng Tống liền đứng lên đi tản bộ trong phòng như có vẻ suy nghĩ. Rồi ông thư thả nói:
-Chương trình của đảng có 4 thời kỳ: phôi thai, dự bị, phá hoại tức cách mệnh với người Pháp, và kiến thiết. Chúng tôi chưa làm xong cái chương trình ấy thì đã bị vỡ và bị người Pháp thẳng tay đàn áp. Chúng tôi mới tới thời kỳ thứ ba. Còn thời kỳ thứ tư là kiến thiết quốc gia theo chương trình khi ấy là lập nước Việt Nam ta thành một nước cộng hòa xã hội.
Văn chương cách mệnh
-Ngoài các sách của Nam Ðồng thư xã, Việt Nam Quốc Dân Ðảng có còn các bài văn nào trong thời kỳ tuyên truyền chăng?
-Khi Việt Nam Quốc Dân Ðảng thành lập thì vừa là lúc Nam Ðồng thư xã bị người Pháp bắt đóng cửa. Các sách đã xuất bản như Gương Thiếu Niên, Gương Thành Bại, Trưng Vương diễn nghĩa, Tôn Dật Tiên, Dân Tộc Chủ Nghĩa, Dân Sinh Chủ Nghĩa phần nhiều bị cấm và tan nát cả.
Tôi hồi đó có làm cuốn “Cách mệnh tiên thanh,” trong đó kể người Pháp 32 tội! Sách in giấu không cho nhà đương cục biết.
-Nghe nói trong sách ấy có một bài cách mệnh ca, ông còn nhớ xin cho biết.
-Tôi chỉ còn nhớ có tám câu đầu là:
“Lửa đế quốc thiêu tàn sáu giống
Sóng cường quyền vỗ động năm châu
Nước đến chân, lửa đốt đầu
Khói tanh sặc sụa hơi sầu mê man
Giống mạnh những moi gan móc mắt
Loài yếu cam sấp mặt cúi mày,
Thảm nào quá thảm lúc này
Nhục nào hơn nhục ngày rày nữa đâu!”
và mấy câu cuối:
“Xin đứng dậy cùng lên tiếng hát
Gọi hồn mê hét quát gió mây
Nằm da uống máu có ngày
Xông tên đột đạn phen này mới xong,
Cùng dấn bước xin cùng dấn bước
Gây binh đao gây cuộc binh đao
Phất cờ đào, đổ máu đào,
Nam đồng bào, nữ đồng bào tiến lên!”
Ngoài mấy câu đó tôi còn nhớ trong có một bài quốc ca:
“Một lời đồng tâm liều thân vì nước
Góp chung máu đào quyết rửa thù chung
Con đường quang vinh vui chân cùng bước
Chết đáng chết trên trần thế mấy anh hùng?
Chết đáng chết trên trần thế mấy anh hùng?
Cùng loài sài lang, thề chẳng đội trời chung
Sống ra không thẹn cùng non sông!
Chết đi không hổ cùng cha ông
Nào anh em đồng chí!
Xin tiến lên cùng!
Lắp súng, anh em tiền quân!
Tuốt gươm, anh em tiền phong!
Tuốt gươm, lắp súng,
Tiến lên! Tiến lên! Ta phấn đấu tới cùng!”
Cuộc tổng khởi nghĩa
– Sau việc bắt bớ năm 1929, chúng tôi, những người còn lại định tổ chức cuộc khởi nghĩa ở toàn hạt Bắc Kỳ các bạn tôi chú ý nhất là Hà Nội. Vì vậy ở trường bay Bạch Mai chúng tôi có tới hơn 30 người là đồng chí và trong đạo quân thứ 4 và thứ 9, có hơn ba trăm hạ sĩ quan là đảng viên. Nhưng sau cuộc phản bạn của đội Dương, các võ trang đồng chí đều bị bắt và bị cách chức. Ðảng có phái người đi trừng trị, đội Dương bị giết hụt và bố đội Dương là giáo Du thì bị giết ở đầu Hàng Ðậu. Thành ra khi khởi nghĩa chỉ đánh được có Yên Báy [hay Bái], còn ở Hà Nội chỉ ném được có mấy quả bom. Trong khi ấy ở Hải Dương, Bắc Ninh, Kiến An, Thái Bình, Phả Lại, Hưng Hóa, Vĩnh Bảo, Phụ Dực đều có nội biến. Những nơi này các đảng viên cũng bị đàn áp và tan tác cả. Sau vụ Yên Báy, lần đầu 13 người lên máy chém, trong đó có Ngô Hải Hoàng, Nguyễn Thanh Thuyết, Nguyễn Thái Học, Phó Ðức Chính, v.v…; lần thứ nhì hơn 30 người, tất cả hơn 50 người bị thiệt mạng! Ngoài ra gần 3,000 người bị đầy sang Inini (**), và ra Côn Ðảo!
-Thế ông bị bắt vào hồi nào?
-Về phần tôi, năm 1929 bị kết án năm năm cấm cố (détention), năm năm biệt xứ, không được đến các thành phố lớn!
-Hiện giờ trong đảng ai làm đảng trưởng?
-Chúng tôi không hề có đảng trưởng. Quyền tối cao trong đảng trước kia là ở người chủ tịch Trung ương đảng bộ mà nay thì ở thường vụ ủy viên hội.”
Cuộc phỏng vấn kéo dài đã gần hai tiếng đồng hồ. Chia tay từ giã giữa lúc màn tối bao phủ vạn vật, tôi tự nhủ, nếu còn người Pháp ở đây lẽ ra tên tôi cũng đã bị liệt vào bảng tình nghi và biết đâu một tên ma tà đã chả theo rõi [dõi] bóng tôi để dò la hành động. Vì tôi đã dám công nhiên nói chuyện với một cựu chính trị phạm và đặt chân vào một đảng bộ của Việt Nam Quốc Dân Ðảng! (Phạm Mạnh Phan)
———–
Chú thích
[*] Bài phỏng vấn nhà văn Nhượng Tống, yếu nhân của Việt Nam Quốc Dân Ðảng, do ông Phạm Mạnh Phan thực hiện, đăng trên tạp chí Tri Tân ở Hà Nội vào năm 1945, và đăng lần thứ hai, 72 năm sau trên tạp chí Khởi Hành vào năm 2017, do sưu tầm của thư ký tòa soạn Nguyễn Tà Cúc. Chú thích trong ngoặc vuông và hình ảnh của Viên Linh.
[**] Inini là địa danh khu “nhà lao An Nam” (Le bagne des annamites) tại Nam Mỹ, xưa quen gọi là Guiana thuộc Pháp. Nhà lao nằm trong khu rừng sâu nước độc Amazon thuộc quận hạt Monstinery-Tonnegrande, 45 dặm cách thủ phủ Cayenne, French Guiana. Tài liệu trong phụ lục [do Lê Hoành Sơn viết] in trong cuốn “Từ Yên Bái đến các ngục thất Hỏa Lò, Côn Nôn, Guy-An” của Hoàng Văn Ðào, Sống Mới Sài Gòn 1957, Việt Quốc, 2010.
Luật xét nhập cảnh trước sẽ tăng quyền hạn cho viên chức biên phòng Mỹ
CANADA – Dự luật C-23, Luật xét nhập cảnh trước (Pre-clearance) nhằm mở rộng hợp tác biên giới giữa Mỹ và Canada sẽ cung cấp cho các viên chức kiểm soát biên giới Mỹ tại Canada thêm nhiều quyền lực mới, bao gồm cả việc có thể từ chối không cho thường trú nhân tái nhập cảnh vào Canada.
Theo một dự luật do chính phủ Tự Do đề nghị, các viên chức Biên Phòng Hoa Kỳ sẽ được quyền để đặt câu hỏi và thậm chí có thể bắt giữ công dân Canada trên đất Canada.
Các chuyên gia pháp lý nhận xét rằng Bill C-23, được bộ trưởng Bộ An Ninh Công Cộng, ông Ralph Goodale, giới thiệu và có triển vọng được Quốc Hội chấp thuận cũng có thể làm suy yếu vị thế của thường trú nhân Canada vì đe dọa đến quyền tự động trở về Canada của họ.
Luật xét nhập cảnh trước cho phép du khách Canada đi Hoa Kỳ được làm thủ tục xuất nhập cảnh tại một cửa khẩu ngay khi còn ở trên lãnh thổ Canada.
Ông Michael Greene, một luật sư di trú tại Calgary, cho biết C-23 sẽ tước mất quyền tự động được trở về Canada, một quyền quan trọng trong luật hiện hành.
Ông Greene nói, “Theo luật hiện hành, người Canada đi Hoa Kỳ thông qua khu vực xét nhập cảnh trước (trên đất Canada) có thể nói, họ không thích cách bị chất vấn, và chọn không đi thăm đất nước Mỹ của bạn nữa.” Sau đó, người ấy có thể bỏ ra ngoài văn phòng làm giấy tờ xuất nhập cảnh.
Nhưng, theo dự luật mới, họ có thể bị giữ lại, buộc phải trả lời các câu hỏi của viên chức biên giới Hoa Kỳ.
Bộ trưởng quốc phòng James Mattis khẳng định Mỹ duy trì hợp tác NATO
Tám phi trường Canada sẽ được áp dụng luật xét nhập cảnh trước và mở rộng thêm hai phi trường nữa vào cuối năm nay. Thủ tục này cũng được áp dụng tại Cảng Vancouver, nhà ga xe lửa Vancouver và trên một số tuyến đường phà nối tỉnh bang British of Columbia với Washington. (L.Q.T.)
Chuyện làng văn nghệ: Tình bạn giữa hai nhà thơ họ Phùng
Cuối năm 1972, Phùng Quán báo cho tôi, Phùng Cung được tha và đã về đến Hà Nội, hiện đang có mặt ở nhà, chúng mình đến thăm anh ấy ngay đi. Hôm ấy tôi bận họp chưa đi được. Quán và tôi có nhiều kỷ niệm với Phùng Cung, tôi nhớ nhất kỷ niệm này: chỉ sau mười lăm phút Phùng Cung bị bắt, tôi và Quán có mặt ở nhà anh ấy. Cũng là chuyện tình cờ. Hôm đó tôi đến Trần Dần, mượn tập bản thảo tiểu thuyết Người chân đất anh vừa dịch. Trần Dần bảo, Phùng Cung đang cầm đọc, cậu xuống đó mà lấy. Tiện đường, tôi ghé Phùng Quán rủ anh cùng đi. Quán gật đầu và dắt xe đạp ra đường. Ðến trước cổng nhà Phùng Cung, 135 Mai Hắc Ðế Hà Nội, thằng bé con Phùng Cung hơn hai tuổi hớn hở ra vẻ thích thú bảo bố cháu đi rồi. Phùng Quán mau miệng hỏi, đi bằng gì hở Hề? (Cả nhà gọi cháu là Hề, tên thật Phùng Hà Phủ). Thằng Hề mừng rỡ toe toét cười, bố cháu đi bằng ôtô. Phùng Quán bảo tôi, chết rồi Ðài ơi, Phùng Cung bị bắt, nếu đi bộ tức là loanh quanh ở các quán nước chè năm xu gần nhà, đi xe đạp là đến cơ quan (lúc đó Phùng Cung làm ở Hội Nhà Văn), đi ôtô là công an bắt, chứ chẳng có cơ quan nào đến rước một anh nhân viên đi bằng ôtô. Phùng Quán lo lắng: hôm nay bắt Phùng Cung, vài hôm nữa bắt tao, bây giờ, tao về Nghi Tàm sắp xếp đồ đạc, còn mày liệu hồn, trở về tòa soạn ngay, lấy công lệnh đi viết bài một tỉnh thật xa, Lạng Sơn, Cao Bằng gì đó, xớ rớ ở Hà Nội bị bắt cả lũ. Tao làm gì mà người ta bắt? Quán cười như mếu: may mà Nhân Văn đóng cửa sớm, không thì cái chuyện ngắn thằng gù của mày đã đăng vào số 7. Chuyện này in ra thì mày no đòn! Tôi cãi, Nhân Văn đóng cửa là thiệt thòi cho tao. Mày tính, tao in bao nhiêu chuyện ngắn và thơ trên các báo có ai biết đến đâu, chỉ cần một truyện ngắn in trên Nhân Văn là vua biết mặt chúa biết tên. Sướng lắm ! Phùng Quán nói thêm: khốn nạn chứ sướng gì, gương anh em nhân văn sờ sờ ra đó, chưa tởn à! Phùng Quán tỏ ra hốt hoảng thực sự làm tôi đau lòng… Mới đó mà đã mười hai năm… Quán rủ tôi đến thăm Phùng Cung ngay cũng là cách chơi, hai thằng tôi phải là người đến thăm Phùng Cung đầu tiên, chứ không phải là những người khác. Bận họp không đi ngay được, thật lòng tôi rất tiếc. Quán bảo, thôi để hôm khác vậy, bây giờ mày có đồng nào, cân tem gạo nào, đưa cho tao. Tí nữa tao đi một vòng Hà Nội quyên góp anh em bạn bè, cứu đói cho Phùng Cung. Mấy năm Phùng Cung đi tù, vợ và hai đứa con anh ấy sống vất vả lắm, bây giờ thêm một miệng ăn, không hộ khẩu, không sổ gạo… xoay xở sao đây. Mấy ngày sau rỗi việc, tôi đến rủ Quán, Quán lại bận không đi được (lúc này Quán là cán bộ ở Bộ Văn Hóa). Tôi đành đến nhà Phùng Cung một mình. Ngồi bên ly rượu nhạt, Phùng Cung cho biết, Phùng Quán đã đến nhà anh mấy lần, lần nào cũng biếu tem gạo và chút đỉnh tiền còm. Tôi biết, gạo và tiền là Quán thu gom từ tấm lòng nhân ái của bạn bè chứ Quán thì làm gì có. Cung bảo, Quán dặn tớ trước mắt là phải lo hộ khẩu để có sổ gạo. Nghe lời Quán, tớ đã lên công an tiểu khu (cấp phường hiện nay) nộp giấy tạm tha của trại giam. Phùng Cung cười – cái cười méo xệch – tạm tha chứ chưa phải tha hẳn, ai cũng thế chứ không riêng gì tớ đâu, cậu đừng ngạc nhiên. Tàn cuộc rượu với mấy hột lạc rang, dẫn tôi ra khỏi cổng, Phùng Cung bảo, số tiền và tem gạo Quán đưa mấy lần cũng đủ cho tớ ăn hai tháng, tớ đã dặn Quán đừng quyên góp nữa làm phiền anh em bè bạn, cậu có gặp Quán nhắc lại với Quán điều này giùm mình.
Lúc này cháu Hề cũng đã mười lăm tuổi, trên cháu là một người anh vừa chớm ở tuổi thanh niên. Cả hai còn đi học đang sức ăn sức lớn, một mình chị Ngô Kim Thoa (vợ Phùng Cung) xoay xở ra sao đây cho bốn miệng ăn, đó là điều lo nhất của Quán. Quán nói với anh em bạn bè là xúm lại, ra tay lo cho Phùng Cung công ăn việc làm. Gặp ai Quán cũng giục họ. Có lần Xuân Trung, nhà thơ ít tuổi, ngất ngưởng nhất trong đám bạn bè, lắc đầu bảo tôi, lần nào gặp mình, ông Quán đều nhắc nhở lo việc làm cho ông Cung, làm như ông Quán không biết mình đang thất nghiệp, rồi Xuân Trung hạ một câu: nói vậy thôi, mình phục ông Quán ở cái tình bạn bè, cư xử với bạn như anh em ruột thịt, đời này những người như thế hiếm lắm! Tôi biết Xuân Trung, nghèo rớt mồng tơi cũng vun vén được mấy cân tem gạo đưa cho Quán. Nhà thơ Doãn Trang gặp tôi lần nào cũng bảo, tao nể Phùng Quán không phải ở chỗ giúp đỡ vật chất mà là kính nể ở tấm lòng của Phùng Quán với một người bạn văn chương vừa mới ra tù. Doãn Trang nói chắc nịch: nhất định họ vẫn còn theo dõi Phùng Cung chứ đời nào lơi lỏng… Phùng Quán là loại người gan cóc tía mới thường xuyên đi lại thăm hỏi và giúp đỡ Phùng Cung như thế, bỗng Doãn Trang giơ hai tay lên trời nói lớn, xin lạy Phùng Quán ba lạy. Tôi cười, nước mình chưa hết sĩ phu đâu mà nhặng xị lên, thiên hạ người ta cười vào mũi cho đấy, có tiền có tem gạo mau mau đưa cho Quán! Doãn Trang bảo, tao góp mấy lần rồi, Phùng Quán cho biết mày là thằng đóng góp ít nhất, Phùng Quán bảo thế, có đúng không? Tao nửa tin nửa ngờ. Hay là Phùng Quán bịa ra để khích anh em, dân Huế thâm lắm!
Tôi nói lại với Phùng Quán những điều Doãn Trang bình luận. Phùng Quán tớp một ngụm rượu, khà một tiếng: bây giờ là 1973 chứ không phải 1961, lãnh đạo đã nghĩ khác, ngành công an đổi mới nhiều, đội ngũ công an lúc này, nghiệp vụ thông thạo hơn trước, không như những năm 1960, họ theo dõi anh Cung làm gì. Mày biết không, nhiều thằng bạn trước ở bộ đội với tao, chuyển ngành sang công an từ ngày hòa bình lập lại, vừa rồi chúng nó đến tận nhà biếu Phùng Cung tem gạo và chút tiền nhờ tao chuyển. Tao nhận ra chúng nó thật lòng trong cách cho và cách trò chuyện. Doãn Trang là đứa lạc hậu với thời cuộc. Mình tin một ngày không xa người ta sẽ khôi phục lại danh dự cho nhóm nhân văn, trong đó có Phùng Cung. Cao hứng Phùng Quán đọc câu thơ anh làm cách đây gần 20 năm: chế độ ta hôm nay dân chủ cộng hòa/ ngày mai xã hội chủ nghĩa/ xa hơn nữa là đại đồng cộng sản/trạm chế độ đảng ta vạch sẵn/ Ðường phải đi bão táp chông gai/ Khẩu hiệu về đến nơi, Ðảng, người nghèo, quốc tế ca và cờ đỏ… Niềm tin của Quán chẳng biết có truyền được sang ai không, ít nhất truyền được cho tôi và mấy thằng bạn một thời nông nổi.
Cuộc sống của Phùng Cung dần dà mát mặt, anh có sổ gạo, phiếu vải, phiếu dầu,… song vẫn cần sự quan tâm của Quán và bè bạn. Chúng tôi đều nghĩ thế. Quán bảo tôi, anh sẽ liên hệ với một số dịch giả để giúp Phùng Cung dịch sách từ nguyên bản tiếng Pháp. Tôi nói lại với Phùng Cung điều đó, Cung từ tốn: tớ không có bằng tú tài như Hoàng Cầm, Trần Dần nhưng có bằng thành chung, cũng dịch được với điều kiện có quyển từ điển, tốt nhất là quyển từ điển của Ðào Duy Anh. Nói là làm, Quán đến Trần Dần hỏi xem Dần đang dịch gì có thể nhường cho Cung vài chương được không. Dần bảo, mỗi quyển tiểu thuyết tiếng Pháp định chuyển ngữ, NXB thường đưa cho vài người dịch thử một chương, họ bằng lòng ai nhất thì giao cho người đó dịch toàn bộ, hiện nay tớ không có dịch quyển nào cả, nhưng để đó hỏi mấy thằng bạn đang dịch sách cho mấy NXB, để chúng nhường Cung dịch vài chương kiếm chút tiền, trình độ tiếng Pháp của Cung đâu đến nỗi tồi, nó là người rất giỏi tiếng Việt, tiếng Việt của nó bậc thầy, tớ vẫn ghi trong sổ tay đây, và tớ sẽ đi hỏi mượn từ điển Pháp-Việt cho nó. Quán yên tâm… Những ngày đó, nhiều người không biết việc này, Phùng Cung miệt mài làm thơ và sửa chữa thơ anh làm trong nhà giam. Người đầu tiên được đọc thơ Phùng Cung và làm biên tập cho tập thơ chính là Phùng Quán. Quán đưa thơ Phùng Cung chép tay cho tôi đọc. Tôi sửng sốt trước tài năng thơ Phùng Cung mà xưa nay tôi vẫn nghĩ anh chỉ là người viết văn xuôi. Trước lúc đưa cho NXB Văn Hóa bản thảo tập thơ Xem Ðêm của Phùng Cung, Phùng Quán đã bỏ đi quá nhiều bài đến nỗi tôi phải kêu lên: dao của Quán sắc quá! nên để lại vài bài thơ Phùng Cung viết trong tù. Tôi kể lại với Phùng Cung điều này, Cung cười: Phùng Quán xưa nay vốn là người kiên định lập trường, nó loại bỏ đi như thế cũng được. Bài học mười hai năm tù của tớ là bài học cay đắng về sự không biết nhân nhượng! Nếu biết nhân nhượng một chút, chắc số phận đã khác rồi… Phùng Cung có lần bảo tôi, thơ Phùng Quán cứ tràng giang đại hải, đọc ở quảng trường cho đám đông nghe, tớ đã nhiều lần trao đổi với nó nên lặp ý, lặp tứ ngắn gọn. Tưởng là Quán giận, không ngờ Quán không bỏ ngoài tai, cân nhắc những điều mình trao đổi, sửa lại tập thơ về cây cỏ đã làm trong những ngày mình đang “dạo chơi” trên rừng núi Tây Bắc, Việt Bắc. Tập thơ xưng tụng cây cỏ, nhiều bài hay lắm như bài Trường Ca Cây Cà, Vạn Niên Thanh, Cây Xương Rồng,… hóa ra Quán là người rất phục thiện.
Những năm đầu thập niên 90, Quán thường đưa thơ Phùng Cung đến các tòa soạn hết lời ngợi khen thơ Phùng Cung đề nghị họ in. Thơ Phùng Cung hay thực sự, vả lại nể Phùng Quán, nhiều báo in thơ Phùng Cung, vợ con anh có thêm thu nhập để cải thiện đời sống. Lúc này Phùng Cung, cũng như Phùng Quán đã có lương hưu. Về việc Phùng Cung có lương hưu xin các bạn đọc quyển “Chiều Chiều” của Tô Hoài sẽ rõ ngọn ngành, Tô Hoài viết rất hóm, đọc vừa thương thân phận Phùng Cung vừa cười ra nước mắt, tôi kể ra nữa thì thừa. Tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội, Phùng Quán rủ tôi lên Phùng Cung chơi (lúc này gia đình anh đã chuyển về làng Ngọc Hà) nhân thể đưa Phùng Cung ít tiền nhuận bút và tiền Lê Huy Quang vừa cho Quán mấy chục ngàn để mua rượu. Quán bảo: Lê Huy Quang vừa vẽ áp phích hay dựng cảnh cho vở kịch nào đó, Quán bảo tôi đưa hết cho Phùng Cung, dù sao tao cũng có đồng ra đồng vào hơn Phùng Cung! Vừa đến nhà, nghe tiếng chị Thoa từ bếp nói vọng ra: nói với chú ấy (người thu tiền điện) là cho khất vài hôm hoặc tháng sau thu một thể, chứ nhà không còn đồng nào. Quán reo lên từ ngoài ngõ: có tiền đây rồi, dư sức trả tiền điện, rồi ngoảnh sang hỏi anh thâu ngân bao nhiêu tiền. Anh ấy bảo ba mươi tám đồng sáu hào, Quán rút ba mươi chín đồng và bảo không phải thối lại. Phùng Cung ngạc nhiên, tiền đâu mà Quán có nhiều thế. Quán cười: tiền của anh đấy, nhuận bút báo Nông Nghiệp in thơ anh, vừa nói Quán vừa đưa tờ báo cho Phùng Cung, họ đăng ba bài, ban đầu trả hai mươi đồng, thấy thơ anh ngắn người làm nhuận bút tưởng là một bài, tôi phải bảo đây là ba bài họ liền trả sáu mươi đồng, tôi đưa nhuận bút cho anh cộng thêm tiền Lê Huy Quang cho tôi, tất cả là hơn một trăm, anh cầm lấy mà tiêu dần.
Một hôm Phùng Quán bảo tôi, nhà nước cử Lê Hoài Nguyên, nhà thơ, công tác bên A25 đến thông báo cho tớ biết sẽ nâng lương hưu cho tớ và Phùng Cung lên chuyên viên 1, theo cậu có nên nhận không? Tôi bảo từ cán sự 1 lên chuyên viên 1 thêm được mấy chục nghìn, không nhỏ đâu. Cái quý giá, từ nay cậu và Phùng Cung được nâng lên loại cán bộ trung cấp, ốm đau nằm bệnh viện Việt Xô. Lộc nước thì nhận chứ từ chối là không nên! Chắc trong đầu cậu nghĩ mình sẽ phản đối chứ gì, tớ bây giờ không cực đoan như ngày trước đâu.
Những năm đầu thập kỷ 90 tôi ở Sài Gòn có điện thoại, muốn liên lạc với Quán, chào thua, vì Quán cho biết ở Hà Nội, muốn mắc một điện thoại bàn phải có hơn ba triệu, đào đâu ra số tiền lớn thế này, đành liên lạc với nhau bằng thư gửi qua bưu điện. Chậm như rùa, đành vậy, biết làm sao được. Một hôm, tôi nhận được bưu phẩm của Quán, mở ra đó là chín truyện ngắn và kèm theo lá thư của Phùng Cung. Quán và Cung đề nghị tôi tìm cách xuất bản. Nan giải quá! Cách đây mấy năm, tôi xuất tiền túi ra in cho Phùng Quán truyện dài “Chép Còm” và in cho nhà văn Vũ Hạnh cuốn sách dịch về thời thơ ấu của vua hề Sác lô. Từ đó Phùng Quán hay giới thiệu với bạn bè tôi là đầu nậu sách, có thể in cho bất cứ ai. Ngây thơ quá Quán ơi! Tôi đọc truyện của Phùng Cung thấy sinh động, đã đưa mấy NXB sẵn sàng hợp tác với họ để in, nghĩa là tôi xuất tiền túi và tự phát hành. Anh Nguyễn Hữu Ðang viết một lời giới thiệu về thơ và truyện ngắn Phùng Cung rất xúc động để in vào trang đầu cuốn sách. Tôi tính toán kỹ việc phát hành để truyện ngắn Phùng Cung ra đời mà không bị lỗ, ít nhất cũng thu hồi được vốn. Buồn quá, không NXB nào chịu cấp giấy phép, tôi biết họ còn ngại tác giả “Con Ngựa Già” của Chúa Trịnh, đăng trên báo nhân văn dù đổi mới đã mấy năm rồi, anh em trong nhóm nhân văn đều đã có sách, văn xuôi, thơ… trình làng. Dịp may đến bất ngờ, cháu Phùng Hà Phủ lúc này đã ngoài ba mươi, chuyển vào Sài Gòn công tác ở ngành địa chất, tôi bảo với cháu, đánh máy lại bản thảo của bố thu vào một cái đĩa hoặc USB, có dịp sang nước ngoài thì cầm theo, nhờ bên đó in cho. May mắn đến bất ngờ, cháu Phủ đi công tác Canada, một bà bác sĩ tốt bụng, quí mến và thương cảm Phùng Cung đã liên hệ với một NXB ở Mỹ và tập truyện ngắn của Phùng Cung được ra mắt bạn đọc nước ngoài. NXB đã trả cho chị Thoa $1,500 tiền nhuận bút, chị khoe với tôi bằng giọng thương mến, cảm động, trước tấm lòng bạn bè phương xa và trong nước.
Sau 1975, tôi chuyển vào Sài Gòn sinh sống. Năm nào tôi cũng có mặt ở Hà Nội một vài lần. Năm 1995, Phùng Quán đưa cho tôi xem giấy phép của NXB Văn hóa cấp cho tập thơ “Xem Ðêm” của Phùng Cung. Quán hỏi tôi hết bao nhiêu tiền in được quyển này. Là một người có chút hiểu biết giá cả các loại giấy, giá công in,… tôi bảo nếu in 1,000 cuốn phải có ít nhất 3 triệu đồng. Lật lên lật xuống bản thảo, Quán hỏi nếu in 500 cuốn sẽ là triệu rưỡi à? Không thể chia đôi đơn giản như cậu nói. In nhiều giá rẻ, in càng ít giá thành càng cao. Phùng Cung chắc không có đồng nào, vận động ai đóng góp bây giờ. Phùng Quán bảo, tao đã có cách, sẽ bỏ ra sáu tháng xuyên Việt, đọc thơ và quyên tiền cho Phùng Cung! Tôi cãi: thơ Phùng Cung súc tích, ngắn gọn, chỉ ngồi chiếu rượu đọc cho nhau nghe, nhấm nháp thơ, thấm dần, chứ không thể ra sân vận động, bến xe, bến tàu như mày đã từng đọc để quyên tiền cho người nghèo mấy năm trước đây, hay mày lại chỉ đọc thơ mày. Hớp một ngụm rượu Quán bảo, đọc thơ tao và thơ Phùng Cung, dĩ nhiên trước khi đọc thơ Phùng Cung tao sẽ giải thích ngọn nguồn, người nghe sẽ thấu hiểu và xúc động trước thân phận thơ Phùng Cung. Ví dụ đọc bài Trà: Quất mãi nước sôi/ trà đau nát bã/ không đổi giọng Tân Cương hoặc bài Bèo của anh Cung: lênh đênh muôn dặm nước non/ dạt vào ao cạn vẫn còn lênh đênh không cần giải thích, người nghe hiểu ngay thông điệp của những bài thơ ngắn gọn một cách độc đáo ấy…
Tôi vào Sài Gòn ít lâu thì nhận được thư Phùng Quán báo tin, anh Nguyễn Hữu Ðang đã rút hết tiền tiết kiệm anh ky cóp mấy năm nay cho Phùng Cung in thơ. Trong tập Trăng Hoàng Cung (1996) Phùng Quán viết rất xúc động về điều này. Cuối năm 1995, Phùng Cung gửi vào cho tôi 200 cuốn Xem Ðêm nhờ phát hành hộ. Giúp anh là nghĩa vụ của tôi. Tôi cầm sách đi bán dạo, cô giáo Trân ở trường Cao Ðẳng Sư Phạm mua cho 30 cuốn, các thầy các cô người ít nhất mua một cuốn, phần lớn mua từ ba cuốn trở lên. PGS TS Trần Hữu Tá cũng phát hành giúp (sách Phùng Cung gửi riêng cho THT), gom về được mấy trăm nghìn đồng đưa cho tôi nhờ chuyển ra Hà Nội. Nếu nhớ không nhầm, tôi đã đưa cho cháu Phùng Hà Phủ, một triệu ba trăm ngàn đồng để cháu chuyển cho bố mẹ. Lại vẫn Phùng Quán viết thư cho tôi, tiền bán sách Xem Ðêm từ khắp nơi gom lại đủ để hoàn trả cho anh Nguyễn Hữu Ðang. Anh Ðang không nhận mà bảo, cứ để số tiền làm một cái quỹ giúp văn thi sĩ nghèo lúc cần đến,…
Trong bữa cơm ở nhà Phùng Quán, cô giáo Bội Trâm (vợ Phùng Quán) thủ thỉ: “Ông Ðài ạ, người ta hay nói về việc anh Quán giúp anh Cung, thực ra anh Cung giúp anh Quán rất nhiều. Anh Cung thường đọc rất kỹ những bài thơ của anh Quán, góp ý để thơ anh Quán không dài dòng như những bài độc tấu hồi đi biểu diễn với anh Thanh Tịnh. Và bát canh bí tôm khô hôm nay là cây nhà lá vườn của anh Cung cầm đến cho. Bát canh phiếu mẫu đấy!”
Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Tư, ngày 15 tháng 2 năm 2017
Tôi cười: “Bát cơm phiếu mẫu bà lại ‘biên tập’ thành bát canh, vui thật.”
Hai nhà thơ họ Phùng, một người sinh ra ở Vĩnh Yên, một người sinh ra ở Huế đã cư xử với nhau hơn cả anh em ruột thịt. Hai người đã về với ông bà gần 20 năm nay, Phùng Quán không được nhìn một loạt tác phẩm của anh xuất bản sau khi anh mất, Phùng Cung cũng không được nhìn thấy tập thơ Xem Ðêm NXB Hội Nhà Văn và công ty văn hóa Nhã Nam tái bản 2012 gần như đầy đủ thơ của Phùng Cung trong tù và ngoài đời. Tập thơ đã được Hội Nhà Văn Hà Nội tặng giải thưởng cùng với tập tiểu thuyết “Những Ngã Tư và Những Cột Ðèn” của Trần Dần. Lời tiên đoán của Phùng Quán mấy chục năm về trước đã thành sự thật: rồi nhà nước sẽ khôi phục danh dự cho nhóm nhân văn (câu này Quán nói cuối năm 1973). Tôi hy vọng tập truyện ngắn của Phùng Cung in ở Mỹ sẽ được in lại ở Việt Nam như tập tiểu thuyết Trăng Hoàng Cung của Phùng Quán in ở Mỹ đã được NXB trong nước in lại.
Bạn bè tới nhà tôi chơi, đều đến bàn thờ có di ảnh Phùng Cung, Phùng Quán thắp cho các anh một nén tâm nhang, báo tin vui cho hai thi sĩ họ Phùng là nhiều anh trong nhóm nhân văn đã được tặng nhiều giải thưởng.
Hai nhà thơ họ Phùng ơi, những gì các anh tiên đoán đã thành sự thật.
Liên Âu chấp thuận hiệp thương quan trọng với Canada
BRUSSELS – Hôm nay Thứ Tư, 15 Tháng Hai, Quốc Hội Liên Âu đã bỏ phiếu chấp thuận một thỏa thuận thương mại quan trọng với Canada.
Hiệp Ðịnh CETA – Hiệp Ðịnh Kinh Tế Và Thương Mại Toàn Diện được hình thành để kết hợp thị trường 35 triệu dân Canada với 500 triệu dân Châu Âu.
Sau ba giờ tranh luận vào hôm Thứ Tư và nhiều năm đàm phán trước đó, cơ quan lập pháp Liên Âu phê duyệt thỏa thuận với 408/254 phiếu, 33 phiếu trắng.
Việc phê chuẩn này mở đường cho trên 90% điều khoản có thể được đưa vào thực hiện trong vòng vài tháng, trong khi phần còn lại sẽ phải được sự phê chuẩn của từng nước thành viên Liên Hiệp Châu Âu.
Cuộc bỏ phiếu được đưa ra khi các phe dân túy ở Châu Âu và Tổng Thống Trump ở Mỹ phá hỏng TPP – một thỏa thuận thương mại với các quốc gia Thái Bình Dương và thả nổi ý tưởng về thuế nhập cảnh.
Cuộc bỏ phiếu cũng diễn ra một ngày trước khi Thủ Tướng Justin Trudeau dự kiến sẽ đến Châu Âu để chào mừng cuộc bỏ phiếu và thúc đẩy giá trị tự do thương mại trong khung cảnh ngày càng nhiều sự thù địch, chống đối từ chủ nghĩa dân túy.
Thủ Tướng Trudeau sẽ đọc một thông điệp ủng hộ thương mại tự do trước Nghị Viện Liên Âu tại Strasbourg vào Thứ Năm và các nhà lãnh đạo kinh doanh hàng đầu một ngày sau đó tại Ðức. (L.Q.T.)
Ấn Độ đưa 104 vệ tinh vào quỹ đạo trong một lần phóng
Trung Quốc xây nhà máy nhiệt điện gây ô nhiễm tại Bình Thuận
Để nhà thầu Trung Quốc thiết kế, xây dựng và thi công ẩu, một bãi đất rộng 58 ha ở Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1 trở thành điểm gây ô nhiễm không khí trầm trọng. Truyền thông Việt Nam đưa tin, vào ngày 14 Tháng Hai, ông Đỗ Văn Thái là phó giám đốc Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Bình Thuận xác nhận việc Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1, xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, do nhà thầu Trung Quốc thiết kế, đang thi công bãi xỉ than gây khói bụi, ô nhiễm môi trường “khá nghiêm trọng” do không thực hiện đúng với đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được duyệt.
Vườn rau Tòa Bạch Ốc của Michelle Obama sẽ được Melania Trump giữ lại
WASHINGTON, DC (AP) – Nữ phát ngôn viên Stephanie Winston Wolkoff của Ðệ Nhất Phu Nhân Melania Trump cho biết vườn hồng và vườn rau ở Tòa Bạch Ốc sẽ tiếp tục được lưu giữ.
Vườn rau do bà Michelle Obama lập ra ở Tòa Bạch Ốc năm 2009 trong khuôn khổ kế hoạch do bà đề xướng mang tên “Let’s Move” nhằm cổ vũ trẻ em dùng thực phẩm lành mạnh và tập thể dục để ngăn ngừa tình trạng mập phì.
Mỗi năm vườn rau có diện tích 2,800 square-foot sản xuất được hàng trăm pound rau quả như khoai tây, cà chua, cà rốt, brocolli, rau cải,… một phần để gia đình Obama tiêu thụ hay đãi khách và phần khác chia cho các nhà lân cận.
Mùa Xuân năm ngoái, ít tháng trước khi rời khỏi Tòa Bạch Ốc, bà Michelle Obama tỏ bày hy vọng là chính quyền tương lai sẽ tiếp tục duy trì vườn rau này. Sau đó, bà cho tu chỉnh và mở rộng vườn rau, dựng thêm chiếc cổng gỗ, tảng đá khắc chữ “White House Kitchen Garden” ghi ngày thành lập năm 2009, đồng thời hứa hẹn cung cấp ngân khoản $2.5 triệu bằng tài trợ của tư nhân.
Vườn rau sẽ trở thành di sản của chính quyền Obama và là một nơi thu hút các du khách vào thăm Tòa Bạch Ốc.
Hôm Thứ Ba, Ðệ Nhất Phu Nhân Melania Trump nói rằng công chúng sẽ có thể vào thăm Tòa Bạch Ốc khi các chuyến hướng dẫn miễn phí được mở lại từ ngày 7 Tháng Ba.
Trong giai đoạn chuyển quyền, những chuyến thăm này được tạm thời đình chỉ. (HC)
Bộ trưởng quốc phòng James Mattis khẳng định Mỹ duy trì hợp tác NATO
Những điều nên biết về nhân quyền
LTG: Ngày nay do trào lưu dân chủ hóa toàn cầu, lý tưởng nhân quyền càng ngày càng được đề cao khắp nơi trên thế giới. Nhưng tại một số quốc gia chưa có dân chủ thật sự như Việt Nam, rất ít người am tường tầm quan trọng của nhân quyền, và chính phủ lại không muốn dân chúng tìm hiểu nhân quyền.
Đó là lý do tại sao chúng tôi biên soạn tài liệu ngắn gọn này nhằm góp phần giúp cộng đồng người Việt, nhất là đồng bào tại quê nhà hiểu rõ hơn những nhân quyền phổ quát và Luật Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc (LHQ).
Tài liệu này tác giả không giữ bản quyền, trái lại chúng tôi còn nhiệt liệt hoan nghênh mọi cá nhân hay tổ chức tiếp tay phổ biến thật rộng rãi tài liệu này đến đồng bào khắp nơi và bằng mọi phương cách.
Hỏi: Trước khi tìm hiểu về nhân quyền, xin định nghĩa vắn tắt nhân quyền là gì?
Đáp: Nhân quyền hay quyền làm người là những quyền phổ quát mà mọi người từ lúc mới sinh ra đã được tạo hóa ban cho, không phân biệt màu da, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay giới tính nam, nữ. Đó là những quyền tự do căn bản, như tự do sinh sống và mưu cầu hạnh phúc, tự do đi lại và cư trú, tự do sở hữu tài sản, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do sinh hoạt chính trị và tự do ứng cử, bầu cử. Những quyền đó không do nhà nước hay bất cứ cá nhân, tổ chức nào ban cho.
Vì thế, bất cứ nơi nào nhân quyền bị chà đạp, dân chúng phải can đảm đứng lên tranh đấu để đòi lại những nhân quyền căn bản và phổ quát của mình.
Hỏi: Nhân quyền và dân quyền khác nhau ở chỗ nào?
Đáp: Nhân quyền là những quyền làm người căn bản và phổ quát đã được các quốc gia hội viên của LHQ công nhận và đề cao. Trong khi đó, dân quyền là những quyền công dân của một nước, được quy định bởi Hiến Pháp và luật lệ của quốc gia. Vì thế dân quyền của các nước không nhất thiết phải giống nhau.
Hỏi: Xin đơn cử một ví dụ cho thấy sự khác biệt giữa nhân quyền và dân quyền?
Đáp: Với tư cách công dân, mọi người đã trưởng thành đều có quyền tham gia bầu cử và ứng cử. Nhưng tùy theo luật lệ của mỗi quốc gia, người dân phải hội đủ một số điều kiện nào đó, ví dụ phải từ 18 hay 21 tuổi trở lên, đã cư trú tại địa chỉ hiện tại ít nhất là ba hay sáu tháng… Đó là dân quyền.
Trái lại, bất cứ ai dù trẻ hay già, nam hay nữ, sinh sống tại bất cứ nước nào, dù là công dân hay chỉ là thưởng trú nhân cũng đều được hưởng những nhân quyền căn bản như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, tự do tham gia hay thành lập nghiệp đoàn… Không ai có quyền tước đoạt nhân quyền của dân chúng.
Hỏi: Có một số người cho rằng nhân quyền tại các quốc gia không nhất thiết phải giống nhau vì mỗi nước có văn hóa và hoàn cảnh khác nhau. Lập luận đó có đúng không?
Đáp: Đó chỉ là lập luận của một số chính khách và nhà nước độc tài muốn ngụy biện cho những hành động vi phạm nhân quyền của họ. Thật vậy, tính phổ quát của nhân quyền đã được tái khẳng định trong bản Tuyên Bố Vienna do LHQ đưa ra tại Hội Nghị Quốc Tế về Nhân Quyền năm 1993.
Theo đó, bản chất phổ quát của các quyền con người và quyền tự do là không thể bàn cãi. Tất cả các quyền con người đều phổ quát, không thể tách rời, chúng phụ thuộc và liên quan với nhau.
Hỏi: LHQ ra đời từ năm nào và với mục đích gì?
Đáp: Vào đầu năm 1945, trước khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, 50 quốc gia đã tổ chức một Hội Nghị Quốc Tế tại San Francisco, Hoa Kỳ, để ký kết hiến chương thành lập LHQ nhằm mục đích duy trì hòa bình và tránh đại họa của một cuộc đại chiến thế giới lần thứ ba mà bom nguyên tử có thể tiêu diệt loài người trên địa cầu này.
Hỏi: Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được ra đời từ khi nào?
Đáp: Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được Đại Hội Đồng LHQ thông qua ngày 10 Tháng Mười Hai, 1948, tại Paris, thủ đô nước Pháp, với 48 phiếu thuận, 6 phiếu trắng và không có phiếu chống.
Sự ra đời của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đánh dấu một bước tiến vô cùng lớn lao và quan trọng của cộng đồng nhân loại văn minh.
Hỏi: Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Luật Quốc Tế Nhân Quyền khác nhau ở những điểm nào?
Đáp: Tuyên ngôn là một văn kiện nói lên lý tưởng đề cao nhân quyền của LHQ. Đó không phải là một hiệp ước hay công ước, và vì thế, nó không có hiệu lực pháp lý.
Trong khi đó, Luật Quốc Tế Nhân Quyền bao gồm ba văn kiện: Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền; Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị; Công Ước Quốc Tế về Quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa.
Mọi quốc gia thành viên của LHQ chấp nhận bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và xem đó là lý tưởng chung của mọi quốc gia, nhưng nước nào muốn gia nhập các Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyền, phải được Quốc Hội của nước đó phê chuẩn mới có hiệu lực. Ngoài ra, Luật Quốc Tế Nhân Quyền có giá trị cưỡng hành và cao hơn giá trị của Hiến Pháp và luật pháp quốc gia.
Hỏi: Hai Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyền đã được thành lập từ năm nào?
Đáp: Hai Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyền được thông qua từ năm 1966, nhưng đến 10 năm sau hai Công Ước này mới được đa số các quốc gia hội viên LHQ phê chuẩn. Vì thế, đến năm 1976 mới được LHQ chính thức công bố.
Hỏi: Quyền Dân Sự và Chính Trị bao gồm những quyền gì?
Đáp: Theo Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị, nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ các quyền sau đây của người dân:
-Quyền sống, quyền tự do và an toàn thân thể.
-Không bị làm tôi đòi hay nô lệ.
-Không bị trừng phạt vô nhân đạo, hay bị lăng nhục.
-Không bị bắt bớ hay giam cầm tùy tiện.
-Quyền được xét xử trước một tòa án vô tư, công bằng và có luật sư biện hộ.
-Không bị xâm phạm tùy tiện danh dự cá nhân, đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở hay thư tín.
-Quyền tự do cư trú và đi lại trong quốc gia của mình.
-Quyền được xuất ngoại và hồi hương.
-Quyền tị nạn tại các quốc gia khác.
-Quyền sở hữu tài sản.
-Quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo.
-Quyền tư do ngôn luận, tự do tìm kiếm, tiếp nhận tin tức bất kỳ nơi nào và phổ biến tin tức bằng mọi phương tiện truyền thông, không giới hạn lãnh thổ.
-Quyền tự do hội họp có tính cách hòa bình.
-Quyền tham dự vào việc điều hành chính quyền trực tiếp bằng cách ra ứng cử, hay gián tiếp bằng cách bầu lên người đại diện cho mình trong những cuộc bầu cử bằng phiếu kín, dân chủ và công bằng.
Hỏi: Quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa bao gồm những quyền gì?
Đáp: Theo Công Ước Quốc Tế về Quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa, nhà nước có nghĩa vụ thường xuyên cố gắng cải thiện đời sống của người dân, cụ thể là những quyền sau đây:
-Quyền có việc làm và lựa chọn việc làm.
-Quyền được hưởng mức lương tương xứng và công bằng, có điều kiện làm việc an toàn, được huấn luyện và có cơ hội thăng tiến.
-Quyền thành lập nghiệp đoàn và tham gia nghiệp đoàn.
-Quyền được hưởng an sinh xã hội và bảo hiểm sức khỏe.
-Quyền được hưởng giáo dục. Đặc biệt giáo dục bậc tiểu học phải có tính cách cưỡng bách và miễn phí. Giáo dục bậc trung học phải được phổ thông và tiến dần đến hoàn toàn miễn phí.
-Được bảo vệ những quyền lợi tinh thần và tài chánh do những phát minh khoa học hay sản phẩm văn hóa và mỹ thuật của mình mang lại.
Hỏi: Việt Nam gia nhập LHQ từ năm nào? Và đến khi nào Quốc Hội Việt Nam phê chuẩn hai Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyền?
Đáp: Việt Nam gia nhập LHQ năm 1977 và phê chuẩn hai Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyền năm 1982.
Hỏi: Những nhân quyền đã được ghi trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền là những quyền gì?
Đáp: Theo Luật Sư Nguyễn Hữu Thống, cố vấn của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, để cho dễ nhớ, nhân quyền có thể được xếp thành ba bậc như sau:
1-Nhân quyền bậc 1, mệnh danh là tự do thân thể, gồm những quyền liên quan đến thân thể con người, như quyền sống, quyền không bị hành hạ, tra tấn, quyền không bị nô dịch, quyền an toàn thân thể, không bị bắt giữ và giam cầm trái phép.
Khi bị truy tố, được xét xử công bằng bởi một tòa án độc lập và vô tư.
2-Nhân quyền bậc 2, mệnh danh là quyền an cư và lạc nghiệp.
a) Quyền an cư gồm có: Tự do cư trú và đi lại; tự do xuất ngoại và hồi hương; quyền riêng tư cho bản thân, gia đình, nhà ở, thư tín; quyền tị nạn; quyền sở hữu…
b) Quyền lạc nghiệp gồm có: Quyền có việc làm với lương tiền xứng đáng và công bằng; quyền được bảo hiểm và an sinh xã hội; quyền có đời sống khả quan cho bản thân và gia đình; quyền được hưởng y tế, giáo dục và văn hóa.
3-Nhân quyền bậc 3, mệnh danh là tự do tinh thần và tự do chính trị, gồm tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, tự do phát biểu, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội và tự do hoạt động nghiệp đoàn.
Hỏi: Có người cho rằng tranh đấu nhân quyền và đòi hỏi dân chủ đều có mục tiêu tối hậu là đem lại tự do, dân chủ và nhân quyền cho mọi người. Như thế tranh đấu vì nhân quyền và tranh đấu cho dân chủ khác nhau ở chỗ nào?
Đáp: Như chúng ta đã thấy, các điểu khoản 18, 19, 20 và 21 của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng như các điều khoản 18, 19, 20 và 21 trong Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị đều ghi rõ các quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do sinh hoạt nghiệp đoàn và đảng phái chính trị, và tự do ứng cử, bầu cử. Như thế, trong nhân quyền đương nhiên có dân chủ.
Tại các quốc gia độc tài, nhân quyền của người dân thường bị chà đạp, không có tự do báo chí, tự do tư tưởng, tự do hội họp và tự do lập hội… Vì thế, tại các quốc gia đó, dân chúng phải mạnh dạn đứng lên tranh đấu đòi hỏi nhà nước thực thi dân chủ, vì phải có dân chủ mới có nhân quyền.
Hỏi: LHQ đã ban hành Luật Quốc Tế Nhân Quyền từ năm 1976, nhưng cho đến nay, tại một số quốc gia, nhân quyền vẫn còn bị chà đạp nặng nề, nguyên nhân vì sao?
Đáp: Năm 1998, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, LHQ đã duyệt xét tình hình nhân quyền trên thế giới, LHQ đã thấy rằng trong nửa thế kỷ qua tình trạng nhân quyền hầu hết khắp nơi đã được cải tiến đáng kể, nhưng tại một số quốc gia Á Châu, Phi Châu và Nam Mỹ, nhân quyền vẫn chưa được tôn trọng và dân chúng chưa ý thức được tầm quan trọng của nhân quyền vì hai lý do sau đây:
-Thứ nhất, đa số dân chúng vẫn còn xa lạ với nhân quyền, và chưa được học hỏi về nhân quyền và Luật Quốc Tế Nhân Quyền của LHQ.
-Thứ hai, nhà cầm quyền tại các nước độc tài đã không giúp đỡ mà lại còn ngăn cấm mọi nỗ lực quảng bá và giáo dục dân chúng am hiểu về nhân quyền.
Chính vì thế, ngày 8 Tháng Ba, 1999, Đại Hội Đồng LHQ đã thông qua Nghị Quyết 53/144, tức Tuyên Ngôn về Những Quyền và Trách Nhiệm của Cá Nhân, Hội Đoàn và các Cơ Quan trong xã hội phải cổ võ và bảo vệ nhân quyền theo đúng Luật Quốc Tế Nhân Quyền.
Hỏi: Theo Nghị Quyết 53/144 của LHQ, các cá nhân và tổ chức ngoài chính phủ (NGO) có những quyền và nghĩa vụ gì?
Đáp: Theo nghị quyết đó, sau đây là năm quyền và nghĩa vụ chính yếu của cá nhân và các tổ chức xã hội dân sự:
-Quyền đề xướng và đòi hỏi nhà nước thực thi nhân quyền.
-Quyền hội họp, thành lập và tham dự các tổ chức ngoài chính phủ (NGO).
-Quyền được tham chính trực tiếp hay gián tiếp và quyền này bao gồm cả quyền đề nghị, phê phán và chỉ trích các việc làm của chính phủ.
-Cá nhân và tổ chức ngoài chính phủ có nghĩa vụ tham gia các hoạt động giáo dục, huấn luyện và nghiên cứu về nhân quyền để nâng cao dân trí đồng bào.
-Cá nhân và tổ chức ngoài chính phủ có nghĩa vụ và trách nhiệm góp phần phát huy các tổ chức xã hội dân sự và các định chế dân chủ để xây dựng đất nước ngày càng tiến bộ và tốt đẹp hơn.
Hỏi: Theo Nghị Quyết 53/144 của LHQ, chính phủ có những trách nhiệm gì?
Đáp: Theo nghị quyết đó, chính phủ có năm trách nhiệm chính yếu sau đây:
-Quảng bá và bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do căn bản của dân chúng bằng cách tạo các điều kiện thiết yếu về giáo dục, xã hội, kinh tế, luật pháp và chính trị theo đúng Luật Quốc Tế Nhân Quyền.
-Ban hành các văn kiện lập pháp và lập quy để bảo đảm nhân quyền và những quyền tự do căn bản của người dân.
-San định hiến pháp và luật lệ quốc gia thế nào cho phù hợp với hiến chương của LHQ và Luật Quốc Tế Nhân Quyền.
-Hỗ trợ và khởi xướng các nỗ lực bảo vệ nhân quyền như việc thành lập các Ủy Ban Nhân Quyền và Ủy Ban Điều Tra các viên chức vi phạm nhân quyền…
-Tổ chức và yểm trợ các chương trình giảng dạy nhân quyền và những quyền tự do căn bản tại học đường. Đặc biệt Luật Quốc Tế Nhân Quyền phải được giảng dạy trong các khóa huấn luyện luật sư, biện lý và lực lượng công an, cảnh sát để giúp họ thi hành nghiệp vụ một cách tốt đẹp và không vi phạm nhân quyền của người dân.
Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Tư, ngày 15 tháng 2 năm 2017
———-
* Quý vị có thể đọc toàn bộ Luật Quốc Tế Nhân Quyền bằng nguyên bản tiếng Anh hay bản tiếng Việt đã được Luật Sư Nguyễn Hữu Thống phiên dịch và diễn giải, xin vui lòng vào website của Mạng Lưới Nhân Quyền theo địa chỉ www.vietnamhumanrights.net.











