LTS: Trong cuộc sống có nhiều chuyện mình muốn nói với ai đó, nhưng lại không thể nói trực tiếp được. Không nói được với nhau thì hãy viết cho nhau. Mục “Viết Cho Nhau” là nơi để bạn giải tỏa những tâm tư, những nỗi niềm của mình. Thư từ xin gửi về: Người Việt (Viết Cho Nhau), 14771 Moran Street, Westminster, CA 92683, hay email: [email protected].
Hồng Mên

Năm 1981, Thành gặp Cha Joe Devlin ở trại Songkla tại Thái Lan. Sáng nào cha cũng cưỡi chiếc xe gắn máy cọc cạch lội vào trại tị nạn giúp trẻ mồ côi không cha mẹ, làm lễ bằng tiếng Việt lắp bắp. Cha mẹ của những đứa bé này đã bị hải tặc và biển cuỗm mất mạng sống trên đường họ đi tìm tự do.
Chiều đến, cha lại cà nhắc leo lên xe gắn máy chạy về nhà dòng ở ngoài thành phố gần đó. Dân trong trại rỉ tai nhau bảo vì lính Thái kỳ thị không thích cha giúp người Việt Nam, nên họ rình đánh cha gãy chân, nhưng cha vẫn quyết tâm lấy xe gắn máy làm chân tạm, đi tiếp tục giúp đỡ.
Thành thường nhìn vào căn nhà trọ duy nhất của đám trẻ mồ côi thèm thuồng, vì nơi đó khang trang nhất: có tường, mái, cửa, và cửa sổ, lại có cả chỗ rửa chén riêng nữa. Trong khi đó, nhóm tị nạn thường phải lội bộ trên con đường gồ ghề, đi gánh nước từ xa về xài. Đám trẻ mồ côi này được ăn mì gói, một thứ xa xỉ phẩm, chỉ có trong mơ mới có.
Trong một giấc mơ năm xưa, thằng bé Thành đã từng nằm chiêm bao thấy một căn nhà xiêu vẹo, nhưng không hề hiểu tại sao mình lại mơ như thế, mà ở đâu lại có thể có căn nhà méo mó như là trong tranh ảnh trừu tượng vậy.
Bây giờ cậu con trai mới lớn chợt nhớ lại cơn ác mộng xưa của mình, nay đã biến thành hình, qua những chòi tạm làm bằng cột gỗ cắm vội vàng xuống bãi cát, mái bằng tôn, không tường, dựng từng hàng dài ở ngay tại bãi biển. Với ngày tháng, những ngôi nhà chứa tạm này bị gió thổi nghiêng tạt qua một bên.
Lúc đó, Thành ghét người Thái không tả, vì trong đầu óc của cậu, đám người Thái chỉ toàn là bọn hải tặc cướp hiếp người Việt Nam vượt biên. Tuy thế, cậu bé không ngừng tự nhủ, nếu không có sự xuất hiện lạ lùng của lão già Thái tốt bụng lênh đênh trên biển cả thì cậu không còn sống.
Nhờ ông phải ở lại canh chiếc thuyền bị hư máy, cho nên dân thuyền bên Thành mới được ông mang cho lương thực và nước uống; bằng không, thì chính bản thân Thành cũng đã là người thiên cổ rồi, đâu có còn ngồi đây để trách cứ bọn Thái dã man nữa.
Đêm đến, ông già Thái đã tìm cách chở dân tị nạn thả họ gần bờ, đủ để họ bơi vào đảo, vì luật Thái đã cấm các chủ thuyền không được cứu người vượt biển; nếu bị bắt, họ sẽ bị phạt tù.
Thế đấy, nhưng dân trại này lại kỳ thị một gia đình gốc Hoa nói tiếng Việt trọ trẹ. Những tụi con trai lớn người Việt thường hay rình đánh anh chàng con trai gia đình người Hoa này sưng vù cả mặt mũi. Thế mà cha mẹ của những người con trai Việt du côn này cũng chẳng bảo ban gì.
Không những thế mà tất cả dân tị nạn Việt Nam trong trại này đều còn đồng tâm bắt gia đình người gốc Hoa kia phải sống riêng xa họ, tuốt gần khu chuồng xí. Đến nay, Thành vẫn còn thấy hối hận đã không cả gan lên tiếng bênh vực cho gia đình này hồi đó. Mà Thành đã chẳng từng than thở với ông chú khi ấy, và cả ông ấy cũng đã chả đồng ý với cậu hay sao? Thế mà chẳng ai dám hó hé gì lên tiếng che chở cho gia đình khốn nạn này.
Những chòi tạm, tuy nổi lên như nấm, cũng không được dựng kịp đủ để tiếp ứng với nhóm tị nạn ồ ạt trồi lên từ bọt sóng biển tạt vào. Thành thường rủ cậu em trai nhỏ đi chung với mình ra ngủ ngoài biển mát. Ở đó, cậu thường nhớ về quê nhà thật da diết, nhất là khi nào trong trại có người được giấy tờ bảo lãnh ra đi tạm cư. Họ thường phóng bài hát qua cái loa, “Chiều nay có một người di tản buồn, nhìn xa xăm về quê hương rất xa…” với giọng của Khánh Ly.
Đêm đến cậu thường nằm ngay bãi biển, cố nhìn xuyên qua màn đêm trông về bên kia bờ đại dương, nhớ lại những giây phút êm đềm của gia đình. Đêm nào cậu cũng phải lặp lại những mẩu chuyện, những chi tiết vụn vặt về gia đình cho thằng em với trí óc non nớt dễ phai mờ. Lúc đó, cậu mới thấm được những câu cậu đã từng đọc trong sách: “Khi yêu, miễn sao mình cảm thấy được nằm dưới cùng một bầu trời với những người mình yêu thôi cũng đã toại nguyện lắm rồi.”
Lâu ngày ở đảo cởi trần trùng trục nằm dọc bờ biển, da của Thành đã trở nên đen đủi không thua gì anh Vọi, nhân vật trong truyện “Trống Mái” của tác giả Khái Hưng. Thế mà khi đó, cậu cảm thấy anh Vọi vẫn còn giàu hơn cả cậu, vì ít nhất anh ta vẫn còn mẹ và được sống dưới một mái nhà ấm.
Vì thiếu bóng cha mẹ, cậu bé đang tuổi mới lớn này bị ông chú giao cho trách nhiệm phải đi lãnh nhu yếu phẩm về cho cả gia đình bảy người của ông ta. Thế là cậu bé phải nai lưng ra vác đồ hộp nặng nề người ta phát, mang về cho cả gia đình muốn trẹo cả lưng.
Nhưng càng ngày, đồ ăn càng bị suy kém hẳn vì lính Thái ăn cắp bớt một ít từ bên ngoài. Vào tới nơi, thì người trưởng trại lại vớt thêm một tí nữa, cho nên người tị nạn vào thời gian đó thường bị đói không đủ ăn nếu không có sự giúp đỡ của thân nhân bên ngoài gửi vào. Chỉ có đám trẻ mồ côi tàn tật là được Cha Joe giúp đỡ cho nên lại được ăn sung ở sướng nhất.
Tuy thế, cơn khổ dường như được vơi hẳn đi khi dân tị nạn thấy có Cha Joe, một người da trắng cao lớn, mà lại chịu gánh cùng nỗi hẩm hiu với họ. Xa nhà, ở tạm trú xứ người đạo Phật, mà được nghe lễ bằng tiếng Việt líu lo đã đem bao nhiêu niềm hy vọng đến cho họ. Nhờ sự hy vọng này mà chú bé đã mạnh dạn lò mò đến học lóm tiếng Anh tại lớp ESL. Ở đây, chỉ có người lớn đàn ông, hay là trưởng gia đình, mới có tên trong danh sách để được nhận vào cho học.
Ở nơi này, cậu bé đã gặp được anh thầy trẻ, khoảng chừng 20 tuổi, một sinh viên đại học người Indonesian đạo Muslim dang tay tình nguyện dạy tiếng Anh. Anh thầy trẻ này đã tận tụy dạy cho cậu bé háu đói tiếng Anh.
Phần đông những trò già khác chỉ ngồi đó ngáp dài ngủ gục, vì họ đã bị bắt phải đi học mới được lên danh sách di dân tới một quốc gia quyết định. Anh ta khẽ bảo cậu bé chịu khó ngồi ngoài lớp, ghé tai vào học qua cửa sổ, vì ở đó thường có thanh tra tới kiểm soát, mà cậu bé này thì lại không có tên trên danh sách.
Và dường như để tạ tội vô tình, anh thầy trẻ tặng cậu bé ba cuốn vở, hai tấm áo T-shirt, và hai cây bút, một xanh một đỏ. Lâu lâu, thầy thường liếc qua khoanh cửa sổ mở toang, nháy mắt với cậu bé, vì đôi mắt linh hoạt ham học của thằng bé là niềm an ủi duy nhất cho thầy khi mấy trò già kia gật gù lơ đãng, vài người đã gục đầu ngủ từ lâu rồi.
Nhờ thế mà cậu bé mới bắt lại kịp được ngay khi đặt chân vào ngưỡng cửa nhà trường tại California. Không những thế cậu còn vào được cả đại học nữa. Vào năm 1986-1987, cậu thường hay đến dự lễ cám ơn Chúa tại khu Interfaith ở đại học UCI. Ở đó, cậu lại được giáp mặt với Cha Joe Devlin, là cha khách đến thăm cha bạn thân Don Romito. Cậu sinh viên đã chạy ra mừng rỡ bắt tay Cha Joe, cám ơn ông rối rít bằng tiếng Anh rành rọt, vì ông đã làm nhiều điều tốt cho mấy em mồ côi trại tị nạn.
Sau buổi lễ tối đó, bao nhiêu sinh viên Việt Nam, cả Công Giáo lẫn ngoại đạo, đều đổ túa ghé vào thăm cha. Họ hỏi thăm sức khỏe cha, cám ơn lòng nhân từ của cha, và thuật lại cho cha về những công tác họ đang thiện nguyện. Nào là về chương trình Văn Nghệ Thuyền Nhân trước kia, dân sinh viên đã tận dụng tài làm văn nghệ để quyên tiền giúp hội từ thiện cứu trợ “Medecins du Monde” những chiếc tàu Jean Charcot, Cap Anamur II ở vùng biển Đông Nam Á để họ có đủ tài chánh ra khơi vớt người thuyền nhân.
Lúc bấy giờ, có bao nhiêu người nghệ sĩ nổi tiếng như nhà văn Nhật Tiến, tài tử Nguyễn Long, ban hợp ca Thăng Long, nữ ca sĩ Lệ Thu, Mai Hương, v.v. cũng xắn tay hỗ trợ. Bao nhiêu bác từ các cửa hàng khu Bolsa cũng giúp cho tiền, mặc dù dân tị nạn lúc ấy ai nấy đều chân ướt chân ráo mới qua, chẳng chủ tiệm nào giàu cả.
Sau đó họ đã lập ra Project Ngọc, chương trình sinh viên xin tiền cha mẹ và cộng đồng Việt Nam hải ngoại, hoặc họ chắt chiu từ khoản tiền đi làm thêm, hay là từ tiền học hỗ trợ (financial aid) của chính phủ cho, tự túc mua vé máy bay qua đảo tị nạn. Với số tiền này, họ lấy tiền mua sách để cho và dạy tiếng Anh cho người tị nạn ở đảo. Ngoài ra, họ còn dùng số tiền này mướn luật sư, điều đình với bất cứ quốc gia tự do nào mà chịu nhận những người tị nạn không có thân nhân bảo hộ, giúp họ định cư.
Mười mấy năm sau, trong một dịp đưa con bé gái lên khu Santa Clara gần San Jose đi trình diễn đàn piano và cello, Thành nay đã là người đàn ông trung niên lại được gặp Cha Devlin làm lễ Chúa Nhật ở gần đó. Anh Thành vội kéo vợ và con đến chào cha.
Anh từng tâm sự với vợ: “Thật ra, nghĩ cho kỹ thì Cha Joe Devlin cũng chẳng làm gì hơn là làm bổn phận một người linh mục bình thường, ngày ngày vào trại làm lễ cho dân có đạo. Nhưng có lẽ những cử chỉ của ngài, lời nói thật tình trầm ấm đã ghi ấn tượng sâu đậm cho hầu hết dân tị nạn thời gian đó.”
Thành tin rằng Cha Joe phải thành thánh. Cũng như ông già người Thái, người thầy trẻ đạo Hồi Giáo, họ đều phải là thiên thần Chúa gởi đến. Mặc dù có lẽ anh thầy trẻ cũng có thể chỉ là một người sinh viên cần phải đi tình nguyện để được nhận vào một trường tốt sau này, hay là một kẻ đang cần một công việc Hè đặng hầu dễ kiếm việc hơn trong tương lai… (Hồng Mên) [qd]





















































































