Chung Tử Bửu, cựu Phi Công Phi Đoàn 219 King Bee

Chu Dũng Sĩ/Người Việt

LITTLE SAIGON, California (NV) – Ông Chung Tử Bửu nhập ngũ ngày 27 Tháng Chín, 1965, Khóa 65E2 Không Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang. Tháng Mười, 1966, ông về trình diện Phòng Du Học Tổng Hành Dinh Không Quân ở Tân Sơn Nhứt để đi học lái phi cơ ở Hoa Kỳ, qua các quân trường Lackland Air Force Base (AFB) ở San Antonio, Texas; Fort Wolters ở Bắc Texas; và Fort Rucker, ở tiểu bang Alabama. Ra trường cuối Tháng Chín, 1967.

Chung Tử Bửu, cựu Phi Công Phi Đoàn 219 King Bee. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

Khi về nước, ông phục vụ Phi Đoàn 213. Tháng Tư, 1968, ông chuyển qua Phi Đoàn 219. Tại mặt trận Lam Sơn 719, Hạ Lào, vào ngày 22 Tháng Hai, 1971. Trong lúc ông bay vào mặt trận để tiếp cứu trực thăng của Phi Đoàn 219 bị cộng quân bắn rớt, nhưng trực thăng của ông cũng bị địch bắn cháy trên không, nên ông phải đáp xuống Căn Cứ Hỏa Lực 31 của Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù. Phi công Chung Tử Bửu trú ẩn tại căn cứ này ba ngày.

Theo ông Bửu, ngày 25 Tháng Hai, 1971, CSBV tấn công Căn Cứ Hỏa Lực 31 bằng nhiều xe tăng và bộ binh. Trước đó vào chiều tối ngày 24 Tháng Hai, 1971, hai Đại Đội Nhảy Dù 31 và 34 đang dàn quân để chặn con đường duy nhất mà xe tăng địch có thể tấn công lên căn cứ, thì không biết tại sao trực thăng vũ trang Cobras của Mỹ lại bay tới bắn xối xả vào hai Đại Đội Nhảy Dù và đã giết gần hết chiến sĩ của hai đại đội nầy.

Ngày hôm sau, quân Nhảy Dù không đủ lực lượng để ngăn chặn đoàn xe tăng của CSBV, nên xe tăng và bộ binh của CSBV đã tràn ngập Căn Cứ Hỏa Lực 31, và phi công Chung Tử Bửu cũng bị địch quân bắt vào ngày 25 Tháng Tháng Hai, 1971. Sau đó, ông bị giam cầm tại nhiều trại tù ở Bắc Việt gần 14 năm. Đến ngày 30 Tháng Mười, 1984 thì ông được ra tù cộng sản. Ngày 6 Tháng Tám, 1990, ông rời Sài Gòn. Đến ngày 14 Tháng Tám, 1990, ông được định cư tại Los Angeles, California theo diện HO.3.

Khi đến Hoa Kỳ, vừa làm việc cho Học Khu Los Angeles, vừa đi học. Ông được phong chức mục sư năm 1997 tại thành phố Gardena, California, và lấy xong bằng tiến sĩ mục vụ vào năm 2007. Sau khi cư ngụ tại California được 19 năm, Mục Sư Chung Tử Bửu sang định cư tại Houston, Texas, để phục vụ Chúa cho đến bây giờ.

Phóng viên nhật báo Người Việt có dịp gặp Mục Sư Chung Tử Bửu tại Little Saigon, và ông đã kể lại cuộc đời binh nghiệp của mình từ lúc gia nhập ngũ cho đến lúc ông bị CSBV bắt vào Tháng Hai, 1971, và tới khi ông được định cư tại Hoa Kỳ.

Thời gian đầu tiên tại quân trường

Ngày 27 tháng Chín, 1965, ông cùng với 22 khóa sinh khác từ Sài Gòn lên phi cơ quân sự C-47 ra Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang.

Chung Tử Bửu nhớ lại: “Vừa xuống phi cơ, chúng tôi bị các SVSQ niên trưởng chào đón bằng kỷ luật sắt, và ‘nạt nộ’ suốt quãng đường gần hai cây số từ bãi đậu phi cơ về quân trường. Chưa biết kỷ luật quân phục, chưa biết cách xỏ dây giày, nên chúng tôi bị một nhóm đàn anh chào đón bằng các thủ tục dữ dội của giai đoạn ba tháng huấn nhục. Mới đầu thấy vui vui, nhưng đến khi bị buộc phải hít đất nhiều quá, tôi không biết mình có chịu đựng nổi không. Nhưng khi bị phạt quá mệt, họ cho ngồi nghỉ một chút để hồi sức.”

Quân Trường Không Quân Nha Trang. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

Ông kể thêm: “Tôi đang ngồi nghỉ dưới bóng mát một cây dương, bỗng một người đàn anh quân phục đã bạc màu tới ngồi bên cạnh, rồi nói: ‘Luận! Phải mầy đó không? Tao là Bé Năm nè!’ Vô tình gặp được người bạn quen cũ, tôi trả lời, ‘Ủa anh Bé Năm! Anh vô đây hồi nào vậy?’ Bé Năm trả lời, ‘Tao vô khóa 65A. Thằng Bé Sáu, em tao, khóa 64D, nó đi Mỹ rồi. Mầy đừng lo, ở đây có tao. Đừng sợ thằng nào hết. Đứa nào ăn hiếp mầy, tao đánh thấy bà nó.’”

Bé Năm tên thật là Nguyễn Đức Minh cũng là dân Cần Thơ cùng quê với Chung Tử Bửu. Hai gia đình quen biết rất thân tình. Vì trong gia đình ông Bửu còn có tên là Luận, nên tất cả họ hàng, bạn bè thường gọi ông là Luận. Nhờ anh Minh (Bé Năm) ngồi bên cạnh, nên các niên trưởng tạm thời để cho tân khóa sinh Bửu cũng được chút yên ổn. Trong thời gian Bé Năm còn ở quân trường, các bạn của anh đều chiếu cố và giúp đỡ cho ông Bửu khỏi bị hành hạ như các khóa sinh khác.

Toán 23 tân khóa sinh được xếp vào khóa 65E2, bởi vì 65E1 đã vào trước họ một tuần. Nhưng khóa 65E2 phải chờ thêm một toán quan sát viên phi hành sẽ vào. Vài ngày sau toán đó tới, và khóa 65E2 có tổng cộng 45 SVSQ.

Trong quân trường phân định vai trò của các SVSQ như sau: Những khóa vào trước sẽ là đại cồ niên trưởng, rồi đến đại niên trưởng, và niên trưởng của các khóa sau. Khi toán của Chung Tử Bửu nhập khóa thì ở quân trường đã có sẵn các khóa 65A, 65B, 65C, 65D1 và 65D2, toàn là đại cồ niên trưởng, đại niên trưởng, và niên trưởng của khóa 65E2. Hễ thấy ai mặc đồ trận rất bạc màu thì biết người đó là những đại cồ niên trưởng.

Ông Bửu nhớ lại: “Buổi tối đầu tiên ở quân trường, tôi đang loay hoay ở chỗ mình, một đàn anh tên là Hoàng Trọng Ngân mà tôi quen ở Sài Gòn, bước vào phòng. Anh bảo chúng tôi đừng đứng dậy hô nghiêm nghỉ gì cả. Anh đem cho tôi một cái bánh paté-chaud mua ở câu lạc bộ. Anh nói cứ chịu khó vài hôm rồi sẽ quen thôi. Hồi mới vào khóa 65C, anh cũng bị hành tơi tả. Anh dặn cứ yên tâm đi, không sao đâu, mọi việc rồi sẽ qua.”

Ông nói thêm: “Hồi ở Di Linh, tôi luyện võ, tập kéo tạ tự đúc bằng xi-măng, tập hít xà ngang. Nhưng khi về học ở Sài Gòn thì võ nghệ chẳng luyện, thể dục cũng thôi luôn. Cho nên, ngày đầu vào quân trường bị bắt buộc phải hít đất, các bắp thịt ngực của tôi căng trở lại. Mỗi lần hít đất đau không chịu nổi. Bị phạt 20 đến 40 hít đất thì tôi cũng nằm ẹp xuống, không chống tay lên nổi. Mà ngày nào cũng bị phạt vì đủ thứ lỗi mình không ngờ. Nghĩa là các khóa đàn anh tìm mọi cách để phạt cho chúng tôi biết sợ, và phải thi hành mệnh lệnh. Chúng tôi phải chịu thi hành mệnh lệnh dù là vô lý, không được lý sự, cãi cọ, hay phản đối gì hết.”

Thời gian huấn nhục

Cán bộ trung đội trưởng của Khóa 65E2 là đại cồ niên trưởng Trần Thế Vinh, Khóa 65A. Mặc dù anh tỏ ra nghiêm khắc, nhưng niên trưởng Vinh rất nhân từ và tìm cách giúp cho các anh em khóa sinh đàn em không lo lắng hay sợ hãi.

Mỗi ngày các tân khóa sinh bị phạt đủ thứ. Tính trung bình, mỗi ngày họ phải thực hiện từ 300 tới 600 cái hít đất. Nhảy xổm chưa tính. Chạy thì nhừ chân.

Ông Bửu tâm tình: “Chính vì vậy mà tay chúng tôi mạnh lên hồi nào không hay, thân thể ngày càng cường tráng. Tuy nhiên, mỗi lần hít đất đều đếm gian. Ví dụ 19 lên 30, 39 qua 50. Bởi vì sau khi ra lệnh 100 hít đất, các cán bộ và niên trưởng đâu rảnh đứng đó đếm, họ đi phạt người khác. Cho nên, bị phạt 100 nhưng hít tối đa là 60, có khi chỉ 40, rồi đứng dậy, sửa quân phục, chào tay, hô to, ‘Khóa sinh Chung Tử Bửu thi hành lệnh phạt xong.’”

Tiểu Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan tham dự diễn hành Lễ Quốc Khánh, 1965

Các tân khóa sinh Không Quân đang tập cơ bản thao diễn được vài tuần, thì có lệnh toàn thể Tiểu Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan phải tập diễn hành Quốc Khánh sẽ diễn ra vào ngày 1 Tháng Mười Một, 1965. Mấy ngày đầu vác súng đi dưới ánh nắng trưa chói chang miền biển Nha Trang. Sau đó, Bộ Chỉ Huy Trung Tâm Huấn Luyện ra lệnh các khóa sinh của tiểu đoàn dậy sớm, rồi cùng lên xe ra sân tập khi trời còn tối. Đến lúc nắng lên cao thì về trường nghỉ. Đến chiều gần tắt nắng thì lại ra sân tập tiếp, cho đến tối mịt mới về trường nghỉ ngơi.

Hai tuần tập diễn hành rất vất vả, mặt mày các khóa sinh sạm đen vì nắng. Nhưng tới ngày đáp xuống Sài Gòn chuẩn bị diễn binh, thì tất cả mọi người đều mừng rỡ khi nhìn thấy lại vùng Lăng Cha Cả của Sài Gòn thân yêu.

Chung Tử Bửu kể: “Nghe tin tôi sẽ về diễn binh mừng Quốc Khánh, ba tôi về Sài Gòn đón xem thằng trưởng nam đi trong hàng quân oai hùng! Mặc dù ba tôi đứng sát lề đường và đã biết tôi sẽ đi hàng ngoài cùng bên phải, hàng ngang thứ 17, nhưng vẫn không nhận ra tôi, bởi vì mặt ai cũng đen thui lại bị quai mũ Kespi kéo xuống che mất một phần mặt.”
Đầu năm 1966, ông Bửu được nghỉ phép về Di Linh ăn Tết với gia đình, nhưng lại cùng lúc ba ông đang bệnh nặng. Ăn Tết với gia đình xong, ông trở lại quân trường. Trong mấy tháng đầu năm 1966, các tân SVSQ bị cấm trại suốt và hoàn toàn không biết gì về biến chuyển thời cuộc bên ngoài.

Các SVSQ Không Quân tại Quân Trường Không Quân Nha Trang. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

Tháng Năm, 1966, ba ông qua đời lúc 48 tuổi. Mẹ của ông 45 tuổi và đã có 11 đứa con. Sau khi tang lễ xong, ông Bửu trở ra Nha Trang và tiếp tục học khóa quân sự. Lúc đó ông đã lên đại cồ niên trưởng và là sinh viên sĩ quan cán bộ cấp đại đội trưởng. Vì vậy, mọi chuyện về cơ bản thao diễn, các môn học quân sự, kỷ luật quân đội thì ông rất rành rọt.

Ông Bửu kể tiếp: “Sau khi tôi tốt nghiệp chương trình căn bản quân sự và chương trình Anh ngữ, vào cuối Tháng Chín, 1966, tôi được gọi về trình diện Phòng Du Học ở Bộ Tư Lệnh Không Quân. Xem như thời kỳ ở quân trường Nha Trang của tôi tới đó chấm dứt. Đầu Tháng Mười, 1966, tôi và 11 SVSQ Không Quân đồng khóa rời trường về trình diện Phòng Du Học tại Tổng Hành Dinh Không Quân ở Tân Sơn Nhứt. Họ gởi chúng tôi qua Cục Quân Nhu đo ni tấc để may những bộ quần áo du học. Chúng tôi được cấp mọi quân phục và vật dụng cần thiết để chuẩn bị du học ở Hoa Kỳ.”

Du học lái trực thăng tại Hoa Kỳ

Sau khi 12 SVSQ khóa 65E được khám sức khỏe thì họ được Phòng Du Học cho biết là sẽ học lái trực thăng tại Hoa Kỳ. Lý do là vì theo tài khóa và thời gian của 12 SVSQ về đúng lúc lịch trình huấn luyện cho nhiều khóa sinh Việt Nam học lái trực thăng.

Khoảng năm 1963, Không Quân VNCH có thử nghiệm huấn luyện hai khóa trực thăng tại Việt Nam và đào tạo được một số phi công. Nhưng sau đó chương trình huấn luyện này bị hủy bỏ, vì tốn kém và không hiệu quả. Cho nên, chương trình đào tạo phi công trực thăng phải tiếp tục đưa đi du học ở Hoa Kỳ. Mặc dù huấn luyện ở Mỹ rất tốn kém nhưng hiệu quả thì cao. Thường những người đã tốt nghiệp ở Mỹ về bay giỏi hơn những người được huấn luyện tại Việt Nam. Bởi vì họ được huấn luyện có bài bản và đầy đủ phương tiện.

Ngày 15 Tháng Mười, 1966, 12 SVSQ Không Quân được đưa đến phi trường Tân Sơn Nhứt để lên chiếc Boeing 707 của hãng Northwest chuẩn bị sang Hoa Kỳ. Đây là lần đầu tiên ông Bửu được đi phi cơ phản lực thương mại của Hoa Kỳ. Trước mắt ông, tất cả đều sang trọng và không tưởng tượng nổi những tiện nghi và nền văn minh Mỹ. [dt]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT