*Chuyện Vỉa Hè
*Đặng Đình Mạnh
Nghị quyết số 68-NQ/TW, do ông Tô Lâm ký ngày 4 Tháng Năm 2025, đánh dấu tham vọng rất lớn của đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) khi xác định kinh tế tư nhân là “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong đó, ĐCSVN đặt mục tiêu đạt 2 triệu doanh nghiệp tư nhân vào năm 2030, đóng góp trên 60% GDP vào năm 2045, và trở thành lực lượng tiên phong trong nền kinh tế, không chỉ thế, họ còn muốn thúc đẩy khu vực tư nhân phải giữ vai trò dẫn dắt sự phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, điều đáng nói là khái niệm “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” – một nguyên tắc mang tính cốt lõi của CSVN lại vẫn được tiếp tục duy trì trong Nghị quyết. Đây là một khái niệm chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại và mặc nhiên, chúng sẽ trở thành rào cản cho tham vọng kinh tế nêu trong Nghị quyết.
Mâu thuẫn trong khái niệm nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Từ trước đến nay, khái niệm “định hướng xã hội chủ nghĩa” thường được hiểu là sự lãnh đạo tuyệt đối của ĐCSVN và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc gia.
Nghị quyết 68-NQ/TW nhấn mạnh rằng kinh tế tư nhân là “lực lượng tiên phong” trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đóng vai trò thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, và tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, bền vững.
Thế nhưng, kinh tế tư nhân ấy sẽ tồn tại như thế nào? Có vai trò gì trong tương quan với khái niệm “định hướng xã hội chủ nghĩa”? Dẫn đến sự mơ hồ về cách thức khu vực tư nhân hoạt động trong nền kinh tế vừa mang tính thị trường, lại vừa chịu sự kiểm soát của Nhà nước? Chưa kể đến sự “kèn cựa” của doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
Theo Nghị quyết, kinh tế tư nhân phải “cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể” xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Điều này ám chỉ một sự cân bằng giữa các thành phần kinh tế, nhưng thực tế, DNNN, theo truyền thống, vẫn được ưu ái về vốn, đất đai, và các nguồn lực khác, trong khi khu vực tư nhân đối mặt với hàng loạt rào cản.
Theo đó, việc vẫn duy trì khái niệm “định hướng xã hội chủ nghĩa” trong Nghị quyết đã tạo ra mâu thuẫn với tinh thần tự do kinh doanh mà Nghị quyết đề xuất, như quyền “được tự do kinh doanh trong những ngành nghề pháp luật không cấm” và xóa bỏ cơ chế “xin – cho”.
Trong thực tiễn, sự can thiệp của Nhà nước thông qua các quy định hành chính, cơ chế kiểm soát, và ưu đãi cho DNNN đã hoàn toàn hạn chế khả năng cạnh tranh bình đẳng của khu vực tư nhân.
Sự mơ hồ của khái niệm “định hướng xã hội chủ nghĩa” này, khiến việc triển khai Nghị quyết dễ rơi vào tình trạng thiếu nhất quán, khi các cơ quan thực thi có thể diễn giải khái niệm “định hướng xã hội chủ nghĩa” theo hướng duy trì kiểm soát thay vì thúc đẩy tự do thị trường.
Mục tiêu tham vọng nhưng khó đạt được
Nghị quyết đặt ra các mục tiêu cụ thể: đến năm 2030, kinh tế tư nhân phải đạt 2 triệu doanh nghiệp, tương đương 20 doanh nghiệp trên 1.000 dân, đóng góp 55-58% GDP; đến năm 2045, con số này tăng lên 3 triệu doanh nghiệp, đóng góp trên 60% GDP. Các mục tiêu này phản ánh tham vọng lớn, đặc biệt khi khu vực tư nhân hiện đóng góp khoảng 50% GDP và sử dụng 82% lực lượng lao động. Tuy nhiên, để đạt được mức tăng trưởng này, Việt Nam cần duy trì tốc độ thành lập doanh nghiệp mới khoảng 10-12% mỗi năm, đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp hiện có.
Nhưng sự thách thức lớn nhất nằm ở chất lượng, “Tinh chứ không đa”, chứ không chỉ số lượng doanh nghiệp. Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp tư nhân Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, với công nghệ lạc hậu, năng lực quản trị yếu, và khả năng tiếp cận vốn hạn chế.
Nghị quyết đã thừa nhận những khó khăn này, như “tư duy chưa đầy đủ về vai trò kinh tế tư nhân”, “thể chế pháp luật còn bất cập”, và “quyền tự do kinh doanh chưa được bảo đảm”.
Tuy nhiên, việc khắc phục các vấn đề này trong khuôn khổ “định hướng xã hội chủ nghĩa” không hề dễ dàng, khi DNNN vẫn chiếm ưu thế trong các ngành chiến lược và nhận được sự hỗ trợ lớn từ Nhà nước.
Ví dụ, các tập đoàn nhà nước như Petrovietnam hay EVN kiểm soát các ngành năng lượng và tài nguyên, khiến doanh nghiệp tư nhân khó có chỗ chen chân. Hơn nữa, mục tiêu trở thành “lực lượng tiên phong” trong đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đòi hỏi đầu tư lớn vào công nghệ và nhân lực chất lượng cao.
Nghị quyết đề xuất minh bạch hóa, số hóa thủ tục hành chính và áp dụng trí tuệ nhân tạo. Nhưng điều này nêu ra như là một kỳ vọng hơn là một khả năng. Vì lẽ, năng lực công nghệ của Việt Nam hiện chỉ đứng thứ ba trong ASEAN, và nguồn nhân lực đáp ứng cho yêu cầu chuyển đổi số vẫn còn thiếu hụt nghiêm trọng.
Trong bối cảnh “định hướng xã hội chủ nghĩa” ưu tiên kiểm soát chính trị, việc thu hút nhân tài và khuyến khích sáng tạo có thể bị hạn chế bởi các quy định nghiêm ngặt và môi trường kinh doanh chưa thực sự cởi mở.
Giải pháp đồng bộ nhưng thiếu cơ chế thực thi
Nghị quyết đưa ra tám nhóm giải pháp, bao gồm đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, và hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tiếp cận nguồn lực. Các giải pháp này nhấn mạnh việc xóa bỏ rào cản hành chính, giảm chi phí kinh doanh, và bảo đảm quyền tự do kinh doanh, đồng thời kết hợp với Nghị quyết 66-NQ/TW về không hình sự hóa quan hệ kinh tế để tăng niềm tin cho doanh nghiệp. Đặc biệt, việc đưa tiền số và tài sản số vào định hướng chính sách được xem là bước tiến đáng kể, tạo cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân tham gia vào nền kinh tế số.
Tuy nhiên, tính khả thi của các giải pháp phụ thuộc vào năng lực thực thi, mà năng lực này hầu như đang bắt đầu từ con số 0 tròn trĩnh sau thời gian dài nền kinh tế thị trường bị “gắn đuôi” “”Định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Trong quá khứ, cách nay 8 năm, nghị quyết tương tự như Nghị quyết 10-NQ/TW (2017) đã không đạt hiệu quả mong muốn do thiếu cơ chế giám sát và sự phối hợp lỏng lẻo giữa các bộ, ngành. Sự mơ hồ của “định hướng xã hội chủ nghĩa” có thể dẫn đến tình trạng các cơ quan thực thi ưu tiên lợi ích của DNNN hoặc các nhóm lợi ích, thay vì tạo điều kiện bình đẳng cho khu vực tư nhân.
Ví dụ, mặc dù Nghị quyết cam kết hỗ trợ tiếp cận đất đai và vốn, nhưng thực tế, DNNN vẫn chiếm phần lớn nguồn lực này, và các chính sách ưu đãi thường khó tiếp cận đối với doanh nghiệp nhỏ.
Thách thức từ môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh tại Việt Nam vẫn còn nhiều rào cản, như chi phí không chính thức, thủ tục hành chính phức tạp, và sự nhũng nhiễu từ một số cán bộ. Nghị quyết thừa nhận rằng “chi phí kinh doanh còn cao” và “một số chính sách ưu đãi chưa hiệu quả”. Trong khuôn khổ “định hướng xã hội chủ nghĩa”, vai trò lãnh đạo của ĐCSVN có thể tạo ra sự chồng chéo giữa chính sách kinh tế và mục tiêu chính trị, khiến các cải cách bị chậm trễ.
Ngoài ra, sự phụ thuộc vào các hiệp hội doanh nghiệp và tổ chức đảng trong doanh nghiệp, như Nghị quyết đề xuất chẳng khác nào là đảng hóa doanh nghiệp, chỉ làm tăng gánh nặng hành chính và sự trì trệ cho doanh nghiệp tư nhân, thay vì khuyến khích tự do sáng tạo.
Thấy gì qua bài viết “Động lực mới cho phát triển kinh tế”?
Sau nhiều đánh giá của các nhà quan sát thời cuộc, cho rằng sự chấp nhận phát triển kinh tế tư nhân là sự phá bỏ thành trì cuối cùng của chủ nghĩa Cộng Sản. Theo đó, ông Tô Lâm lại vừa cho đăng tải bài viết “Động lực mới cho phát triển kinh tế” như để trả lời.
Trong bài viết, ông Tô Lâm trích dẫn quan điểm của hàng loạt nhân vật giáo điều mang tính chất kinh điển của Cộng Sản, như Hồ Chí Minh, Mac-Lenin… đã có từ thế kỷ trước, thậm chí, từ thế kỷ 18 để tái khẳng định quan điểm Cộng Sản chính thống cho chính sách phát triển kinh tế tư nhận của mình.
Đây là dấu hiệu không gì rõ ràng hơn về sự sự mâu thuẫn nội tại trong chính sách kinh tế của ông Tô Lâm. Một mặt muốn lợi dụng mặt tích cực của nền kinh tế thị trường là phát triển kinh tế tư nhân, mặc khác, lại lo sợ sự đánh mất vai trò độc tài của đảng Cộng Sản khi nền kinh tế ấy lớn mạnh, cũng như, ý kiến của các nhà quan sát cho rằng ông ấy đã phá bỏ thành trì cuối cùng của chủ nghĩa Cộng Sản.
Tóm lại, Nghị quyết 68-NQ/TW là một văn kiện thể hiện tham vọng rất lớn của ĐCSVN trong việc thúc đẩy kinh tế tư nhân trở thành động lực chính của nền kinh tế.
Mặt khác, việc tiếp tục duy trì khái niệm “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã tạo ra sự mơ hồ và mâu thuẫn, khi vừa khuyến khích tự do kinh doanh, tạo động lực phát triển kinh tế, lại vừa muốn duy trì sự kiểm soát của Nhà nước và ưu ái cho DNNN, vốn đã là lực cản sự phát triển đối với nền kinh tế quốc gia từ nhiều thập niên qua, kể từ khi “đổi mới”.

Mặc dù các mục tiêu và giải pháp của Nghị quyết chất chứa đầy tham vọng, nhưng tính khả thi của chúng bị hạn chế bởi các thách thức thực tiễn, như năng lực công nghệ thấp, môi trường kinh doanh chưa minh bạch, và thiếu cơ chế thực thi hiệu quả.
Để cải cách thành công, CSVN cần phải dứt khoát loại bỏ hoàn toàn “cái đuôi” làm lực cản sự phát triển nền kinh tế Việt Nam từ nhiều thập kỷ qua, đó là “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Bên cạnh đó, ưu tiên cải cách thể chế, và thể chế hóa các quy định tạo điều kiện bình đẳng cho khu vực tư nhân, thay vì duy trì sự kiểm soát chính trị quá mức cần thiết.
Nhưng xem ra, trong một nghị quyết mang tính cải cách, nhưng với quán tính kiểm soát chặt chẽ nền kinh tế từ khoảng 80 năm qua, CSVN vẫn bảo thủ duy trì cái “đuôi” “định hướng xã hội chủ nghĩa” trong đó, nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo nền kinh tế của đảng CSVN. Cho thấy, CSVN vẫn chưa sẵn sàng tâm thế buông bỏ rào cản để có thể tạo ra một môi trường kinh doanh tự do, điều có ý nghĩa như là thực phẩm sống còn nuôi sống cho khu vực kinh tế tư nhân.
Cho nên, Nghị quyết 68 có ý nghĩa như là một kỳ vọng hơn là một giải pháp khả thi.
Hoa Thịnh Đốn, ngày 07 Tháng Năm 2025
Đặng Đình Mạnh
*Tài liệu tham khảo: Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, baochinhphu.vn






















































































