Nếu Iran đầu hàng vô điều kiện…  

Trúc Phương/Người Việt

Chiến sự Iran đã trở thành cuộc chiến khu vực với tác động toàn cầu, làm chao đảo thị trường dầu mỏ và tài chính, phá vỡ chuỗi cung ứng, cản trở thương mại hàng hải và giao thông hàng không. Những mối đe dọa đối với công dân Mỹ gia tăng từng giờ, và số người thiệt mạng tại Iran cũng tăng không ngừng. Trên thực tế, những rủi ro này đã được dự đoán từ lâu trước khi chiến tranh bùng nổ…

Khói bốc lên từ khu vực các cuộc không kích của Israel nhằm vào vùng ngoại ô phía nam Beirut vào đêm ngày 5 rạng sáng ngày 6 Tháng Ba. (Hình minh họa: Ibrahim AMRO / AFP via Getty Images)

Bộ phim hành động của “Rambo-Trump” kết thúc, “có hậu” thế nào?

Chiến tranh kết thúc như thế nào vẫn còn là điều khó đoán. Tuy nhiên, khi nó khép lại, nước Mỹ đối mặt hàng loạt hệ quả. Trump, nếu có nghĩ đến kế hoạch cho “ngày hôm sau,” đã đặt quá nhiều kỳ vọng lạc quan vào việc cuộc chiến làm thay đổi Iran và Trung Đông.

Tổng Thống Trump khẳng định việc liên tục làm suy yếu giới lãnh đạo và năng lực quân sự Iran sẽ khiến chế độ Tehran suy sụp đến mức người dân Iran có thể nổi dậy và “cướp chính quyền.” Ít nhất, Iran cũng bị tước bỏ sức mạnh và không còn khả năng đe dọa khu vực, mở ra một Trung Đông mới phù hợp hơn với lợi ích Washington.

Một tuần sau khi khai hỏa chiến dịch nghiền nát Tehran thành bình địa, ông Trump nói rằng chỉ ông chứ không ai khác là người chịu trách nhiệm chọn lãnh đạo mới của Iran, rằng Tehran phải đầu hàng vô điều kiện và mô hình Iran giai đoạn hậu Giáo Chủ Ali Khamenei sẽ được thiết kế tương tự Venezuela. “Chuyện đó diễn ra rất dễ dàng. Nó sẽ giống như ở Venezuela,” ông Trump trả lời phỏng vấn CNN hôm 6 Tháng Ba.

Tuy nhiên, nguồn gốc bất ổn ở Trung Đông thật ra không liên quan nhiều đến việc chế độ Iran có đổi chủ hay không. Ngay cả khi Iran suy yếu, điều đó cũng không tự thân nó giải quyết được các xung đột địa phương luôn âm ỉ khắp Trung Đông. Cần thấy rằng trong nhiều cuộc xung đột kéo dài như ở Libya hay Sudan, vai trò của các quốc gia Arab và Thổ Nhĩ Kỳ còn lớn hơn nhiều so với Iran.

Xung đột Israel-Palestine thật ra đã bắt đầu từ trước khi Cộng Hòa Hồi Giáo Iran ra đời. Do đó, sự sụp đổ chế độ Iran không thể hàn gắn những chia rẽ sâu sắc luôn tồn tại ở khu vực, trong đó có cuộc xung đột liên tu bất tận giữa Hồi Giáo Sunni và Hồi Giáo Shiite, giữa các nhóm người Kurd ở Iran và Thổ Nhĩ Kỳ và Syria, giữa phe cực đoan và các nhóm ôn hòa…

Với các nhóm dân quân ở Iraq, tổ chức Hezbollah tại Lebanon hay Houthi ở Yemen – nằm dưới sự ảnh hưởng Iran, họ cũng có mục tiêu sống còn và chương trình chính trị riêng. Sức mạnh của họ, dù dựa vào Tehran, nhưng sự tồn tại của họ không hoàn toàn phụ thuộc vào Iran. Dĩ nhiên việc loại Iran khỏi cuộc chơi không phải không quan trọng. Hezbollah chắc chắn chịu tổn thất lớn nếu lãnh đạo ở Tehran thay đổi. Việc chính quyền Bashar al-Assad ở Syria sụp đổ cuối năm 2024 làm gián đoạn tuyến vận chuyển vũ khí và tài chính từ Iran sang Hezbollah qua lãnh thổ Syria. Nếu mất hoàn toàn sự hậu thuẫn Iran, cộng thêm áp lực quân sự từ Israel, Hezbollah chỉ là con cọp giấy.

Nhìn chung chủ nghĩa cực đoan trong khu vực sẽ không biến mất ngay cả khi Iran bị đánh bại. Tâm lý chống Israel và thù Mỹ vẫn sẽ còn. Thậm chí “cục diện mới” có thể dẫn đến sự xuất hiện các nhóm vũ trang mới. Nói cách khác, bản đồ mới mà Trump và Benjamin Netanyahu vẽ lại, khó có thể kéo các quốc gia Trung Đông đến gần hơn với Mỹ hoặc thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ với Israel. Do sự gắn kết kinh tế và vị trí địa lý gần gũi, các nước Vùng Vịnh vẫn không thể ngưng duy trì quan hệ với Iran sau khi chiến tranh kết thúc.

Không có giải pháp thần kỳ nào có thể ngay lập tức đem lại một Trung Đông ổn định hơn. Ngược lại, một cuộc chiến được thực hiện với hy vọng loại bỏ mối đe dọa từ Iran có thể dẫn đến những hậu quả ngoài ý muốn và cuối cùng gây tổn hại cho chính lợi ích của Mỹ. Việc loại bỏ một chế độ tàn bạo và gây bất ổn bằng sự can thiệp quân sự từ một cường quốc bên ngoài – mà bản thân nó ngày càng bị xem là bất ổn và coi thường luật pháp quốc tế – khó có thể là công thức cho hòa bình lâu dài.

“Nó sẽ KHÔNG giống như ở Venezuela”

Nhiều thập niên qua, mọi nỗ lực thay đổi chế độ do Washington tiến hành đều kết thúc trong thảm họa. Tại Afghanistan, Taliban bị đánh bật khỏi quyền lực năm 2001 đã trở lại nắm quyền vào năm 2021. Hai thập niên, với vô số tiền của và nhân lực Mỹ, cuối cùng đổ sông đổ biển. Tại Iraq, Mỹ lật đổ thành công chế độ Saddam Hussein nhưng kết quả đạt được hoàn toàn không tương xứng với những tổn thất khổng lồ về sinh mạng, tiền bạc, chiến lược và chính trị. Còn ở Libya, chiến dịch can thiệp do NATO dẫn đầu – với vai trò chủ chốt của Mỹ – ban đầu nhằm ngăn nhà độc tài Muammar al-Qaddafi thực hiện một cuộc tàn sát có thể xảy ra, cuối cùng, kết quả ngày nay là một đất nước hỗn loạn.

Như được Richard Haass (chủ tịch danh dự Hội Đồng Quan Hệ Đối Ngoại Hoa Kỳ) chỉ ra trong bài viết trên Foreign Affairs, thay đổi chế độ có nhiều hình thức. Nó có thể được thúc đẩy bởi nội bộ, ngoại lực, hoặc cả hai. Bất luận thế nào, việc thay đổi chế độ phải đi kèm với kế hoạch kiến thiết cụ thể. Những trường hợp thành công nhất thuộc kiểu này xảy ra sau Đệ Nhị Thế Chiến, khi Mỹ cùng đồng minh cải tổ chính trị và định hướng cho sự phát triển hậu chiến ở Đức và Nhật, nhằm bảo đảm hai nước này không bao giờ đe dọa khu vực và thế giới. Những nỗ lực trên thành công vang dội. Nhật và Đức đều trở thành nền dân chủ vững mạnh, gắn bó chặt chẽ với hệ thống liên minh do Mỹ dẫn dắt.

Trong khi đó, Mỹ bác bỏ ý tưởng thay đổi chế độ ở Liên Xô. Và đó là một chính sách đúng. Washington chọn cách thận trọng hơn, được nhà ngoại giao bậc thầy George Kennan thiết kế chính sách, với mục tiêu “kiềm chế lâu dài, kiên nhẫn nhưng kiên định và cảnh giác đối với xu hướng bành trướng của Moscow.” Chủ trương của Mỹ là định hình chính sách ngoại giao của Moscow chứ không phải thay đổi thể chế cai trị Liên Xô. Chiến lược kiềm chế này đã thành công suốt bốn thập niên Chiến Tranh Lạnh.  

Chính sách thận trọng trên bắt đầu bị phớt lờ thời cựu Tổng Thống George W. Bush. Sau vụ 9/11, Mỹ say máu trong chiến dịch quân sự lật đổ Taliban và tham gia tiến trình lập chính phủ mới ở Afghanistan. 20 năm sau, kết quả mà Washington nhận được là hơn 2,000 lính Mỹ thiệt mạng, 20,000 người khác bị thương, cùng với tổn phí hàng ngàn tỷ đô.

Ông Bush không chỉ sa lầy ở Afghanistan mà còn ở Iraq. Chính ông Trump nhiều lần nhắc rằng Mỹ không nên dính vào các vụ thay đổi chế độ ở nước ngoài. Tuy nhiên, Washington lại không tránh xa chính sách thay đổi chế độ mà còn đi vào vết xe đổ của ông Bush. Ông Trump thậm chí còn bốc đồng hơn cả ông Bush.

Ông Trump mắc những sai lầm y chang ông Bush. Thời Bush, chính sách can thiệp được thay bằng chính sách đơn phương (unilateralism). Chỉ trong năm đầu tiên ông George W. Bush nhậm chức tổng thống, Tòa Bạch Ốc đã hủy năm hiệp ước quốc tế và đơn phương tuyên bố nhiều chủ trương có lợi thuần túy cho Mỹ. Quan hệ Mỹ cùng nhiều khối chính trị trở nên bất đồng, từ quan hệ với Tổ Chức Hiệp Ước Bắc Ðại Tây Dương (NATO), Liên Minh Châu Âu Đến Quan Hệ Liên Hiệp Quốc.

Chủ trương đơn phương thể hiện rõ nhất ở cuộc tấn công Iraq. Một số bài bình luận viết rằng chính phủ Bush thực hiện chiến dịch quân sự tấn công Iraq là ảnh hưởng của sự kiện 9/11. Ðiều này không đúng.

Sự kiện 9/11 là cái cớ thích hợp cho việc qui kết Baghdad dính dáng Al-Qeada và từ đó Mỹ tung ra luận thuyết “dập phủ đầu.” Việc “xóa sổ” Saddam Hussein thật ra được tính từ ngay cả khi ông George W. Bush chưa vào Tòa Bạch Ốc. Xem lại tài liệu lưu trữ vào thời gian ứng cử viên Bush thực hiện chiến dịch tranh cử, các diễn văn tranh cử cùng những tuyên bố của thành phần hỗ trợ chiến dịch tranh cử tổng thống (mà sau đó có mặt trong Nội Các Bush, như cố vấn an ninh quốc gia Condoleezza Rice)…, có thể thấy vấn đề Iraq đã nằm trong chính sách ngoại giao của ứng cử viên Bush từ khá lâu. Ông Trump với vấn đề Iran cũng y hệt như vậy.

Thay đổi một quốc gia là điều không dễ và thay đổi một khu vực càng phức tạp vạn lần. Xã hội và cấu trúc chính trị Trung Ðông có những đặc điểm chẳng giống nơi nào trên thế giới. Chính trị Trung Ðông không chỉ là quyền lực mà còn tôn giáo. Tư tưởng hệ Trung Ðông gắn liền với quá trình phát triển cực kỳ phức tạp của lịch sử Trung Ðông. Và lịch sử Trung Ðông là lịch sử của những va chạm muôn thuở, giữa thế giới Arab và thế giới Hồi giáo và giữa Hồi Giáo với chính Hồi Giáo… Nói cách khác, muốn thay đổi Trung Ðông, người ta phải giải quyết ổn thỏa mọi bất đồng lịch sử. Ðiều này là bất khả thi.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT