Sông đã về biển khơi,
Làm sao viết về cha tôi? Như hạt nước viết về dòng sông? Như hạt mưa viết về đám mây? Như hạt cát viết về sa mạc?
Người đã đi những đoạn đường lịch sử. Người đã đổ mồ hôi, nước mắt trên chiến trường, trong nhà tù, trại cải tạo, những nơi chúng tôi không có ở đó, chỉ biết một phần qua những câu chuyện kể lại vì dù cho cha tôi không phải là người ít nói nhưng lại ít nói về mình.
Sau đây chỉ là một vài đường nét về con người của cha tôi.
Một lần tôi hỏi mẹ tôi: “Trong bao nhiêu người, tại sao mẹ lại chọn ba?”. Mẹ tôi bảo, lúc ấy tình hình Việt Nam sôi sục, Việt Minh lên, người Nhật, người Pháp vẫn còn cắn xé Việt Nam. Người thanh niên Việt Nam như ở ngã ba đường, không biết hưóng về phe đảng nào thì lợi nưóc, cứu dân. Lúc ấy có một bài báo nói về đường lối tốt nhất cho dân tộc. Mẹ tôi là một phụ nữ nhiểu lý tưởng, trong khi đan may bà suy nghĩ vể tình hình dân tộc. Bà hỏi những người nam chung quanh họ nghĩ gì về bài viết ấy. Có người nói rằng: “Ồ, dễ ợt, làm như vậy ai làm không được?”. Có người lại nói: “Việc khó lắm, không làm được”. Đến lượt ba tôi thì ông nói: “Sự việc tuy khó thành như không phải là không làm được”. Theo suy nghĩ của mẹ tôi là một lời thẳng thắn, không khoe khoang, không phản ảnh một tâm hổn hèn nhát, lùi trước khó khăn. Lúc đó mặc dẩu lắm người có địa vị cao hơn dạm hỏi mẹ tôi, mẹ tôi đã quyết định đến với ba tôi.
Lúc mới kết hôn xong thì ba tôi bị đẩy ngay ra tiền tuyến tại Faifo, tức là Hội An cũ, nơi một cái đổn mà địch tấn công liên miên, cũng vì dám đứng lên dọa bắn một sĩ quan Pháp bề trên. Đấy chỉ là một chặn đầu của cuộc sống không bằng phẳng, đầy cam go của cha mẹ tôi.
Thời gian này, việc thăm nhà của ba tôi rất hiếm hoi, có khi một tháng một lần hay ít hơn, đến nỗi sau này tôi nhớ đến phản ứng của các em nhỏ nhất của tôi ,khi cha về, trong một bài thơ:
“Mỗi lần về cha là người mặt lạ
Tóc rừng già, đen sạm áo treillis”
Ngay cả tin tức từ chiến trường đôi khi cũng hiếm. Mẹ tôi có một hệ-thống thông tin hay gần bằng internet. Ba ra lệnh cho người nhà đi mua bia, đồ nhậu, món ăn ngon. Hỏi ra, bà nói: “Mắt mẹ nháy bên trái” (Bên phải cho tất cả những người thân khác, còn bên trái là tin ba tôi). Một lần nữa, tôi nhớ mẹ tuyên bố: “Hôm nay có tin ba”. Hỏi ra bà bói Kiều, dở sách trúng hai câu:
“Lần thâu gió mát trăng thanh
Bỗng đâu có khách biên-đình sang chơi”
Đúng vậy, chiều hôm ấy, hai người lính da đen, xạm nắng trên đường về thăm nhà, ghé qua, đưa tin. Tôi nhớ rõ hai người này, vì ít khi chúng tôi được cơ hội tiếp xúc với những người lính, để dược nghe những gì về cuộc đời quân ngũ, về cảnh xa nhà của họ, đôi khi không được về ăn Tết chỉ vì không có tiền mua vé xe đò. Họ thành thật kể những chuyện đi hành quân với cha như thế nào, “sợ ông hơn sợ địch, hét là phải tiến, không lùi được”. Như vậy, mà trong lằn tên lửa đạn, họ vẫn lo, đem cơm lại cho ông ăn những khi hành quân nhiều ngày không có ăn, để rồi bị la. Sau những lần hành quân, đi ăn với lính, thấy họ ngại ngẩn, cha tôi móc lon mai vàng trên cổ áo bỏ vào túi áo để cùng ngồi ăn với nhau.
Chính vì vậy, mà đến tháng Tư năm 1975, khi tất cả mọi người tất tả ra đi, khi các ông lớn đã cho vợ con lên máy bay, tàu thủy và cùng họ viễn xứ. Cha tôi kiếm cách cho vợ con thoát nhưng phần ông, ông đã nhất định ở lại, vì trách nhiệm đối với những người dưới quyền, vì con người của ông không cho phép ông lựa một giải quyết dễ dàng khi giải quyết ấy không hợp với lương tâm ông. Cha tôi ở lại với căn nhà trống trải, ôn lại những kỷ niệm, ông gom góp tất cả những tấm hình của gia đình, đem gởi cho người bà con, vì thế những ngày gần đây chúng tôi ngỡ ngàng vì ông có những tấm hình chúng tôi không ngờ còn lại. Thế rồi, cha tôi đi tù cải tạo, mẹ tôi đem bầy con qua nước Mỹ, mơ đến ngày sum họp:
…
Mẹ đón cha về,
Chuyến đò buổi sớm
Sáng mờ mờ sương
Nhìn xa đã thấy
Dáng người thân yêu.
Cha bước xuống xe
Như xuống cuộc đời
Mẹ và các con,
Con lớn lệ nhòa
Con nhỏ ngỡ ngàng,
Tình nghĩa vợ chồng:
Bằng chứng đầu tiên
Bằng chứng cuối cùng
Đứng đấy nghẹn ngào
Ôi, nhìn mặt nhau
Có bao giờ ngờ
Còn có hôm nay!”
Đó là một giấc mơ. Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, của Thúy Kiều, Kim Trọng có thể không bằng nỗi đoạn trường của cha mẹ tôi, của nhiều gia đình Việt Nam khác, vì Thúy Kiều, Kim Trọng không phải nhớ, lo cho một đàn con nơi xứ người, vì Kim Trọng không phải đi trại cải tạo với những đắng cay, vì khicha tôi được sum họp lại với gia đình, sau mưòi lăm năm xa cách thì mẹ tôi đã lìa đời.
Bây giờ, sông về biển khơi, mây về nguồn, sa mạc gió thổi rồi cũng về chốn không cùng.
Tôi muốn nhớ lại cùng các em tôi để người đi sau ít ngỡ ngàng hơn, vì biết có người đã hy sinh, đã mở phá, một con đường, một hướng đi.
Trần Viết Hạnh Trang






