Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 100)


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


 


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 100


 


Vài giờ sau, góa phụ yên nghỉ trong ký ức tôi, trầm lặng, thanh thản và biến thành biểu tượng. Nàng đã bị bao bọc bằng sáp, nàng không thể trải rộng niềm kinh hoàng trong tôi và làm tê liệt óc não tôi.


Những biến cố kinh khủng của ngày hôm đó lan rộng, trải ra trong không gian và thời gian, đồng nhất với những nền văn minh vĩ đại đã biến mất, những nền văn minh đồng nhất với định mệnh trái đất, trái đất, đồng nhất với định mệnh vũ trụ – và như thế, trở lại góa phụ, tôi thấy nàng khuất phục những định luật vĩ đại, hòa giải với những kẻ sát hại nàng, im lìm và thanh thản.


Thời gian đã tìm thấy trong tôi ý nghĩa đích thực của nó: Góa phụ đã chết hàng ngàn năm trước, thời văn minh Aegea, và những thiếu nữ Cnossos (*) tóc quăn đã chết, buổi sáng hôm nay, bên bờ biển vui tươi này.


Giấc ngủ xâm chiếm tôi, như một ngày kia, chắc chắn – không có gì chắc chắn hơn – cái chết và tôi nhẹ nhàng chuồi vào bóng tối. Tôi không biết khi nào Zorba trở về cũng chẳng biết hắn có về hay không nữa. Sáng ra, tôi thấy hắn trên núi, quát tháo nạt nộ bọn thợ.


Không việc gì họ làm mà hắn hài lòng cả. Hắn thải ba công nhân cứng cổ, tự tay cầm cuốc và bắt đầu mở con đường hắn đã đánh dấu để trồng cột giữa những bụi rậm và đá. Hắn trèo lên núi, gặp mấy tiều phu đốn thông và bắt đầu chửi bới như sấm sét. Một người cười và lẩm bẩm điều gì đó. Zorba lao vào gã.


Buổi tối hắn đi xuống mệt lả, tả tơi và ngồi cạnh tôi bên bờ biển. Khó khăn lắm hắn mới mở miệng được; cuối cùng khi hắn nói, hắn nói về gỗ làm nhà, dây cáp và than non; hắn giống như một tên thầu khoán tham lam, vội vã phá hoại nơi thầu, cố gắng càng khai thác được nhiều lời bao nhiêu càng hay bấy nhiêu và bỏ đi nơi khác.


Ðã có lúc, ở trạng thái tự an ủi đã đạt được tôi sắp nói với hắn về góa phụ; Zorba chìa bàn tay hộ pháp ra bịt miệng tôi lại:


– Ông im đi! Hắn nói bằng một giọng câm lặng.


Tôi nín thinh, xấu hổ. “Ðó là một người đàn ông đích thực, tôi vừa nhủ thầm vừa ao ước nỗi đau khổ của Zorba. Một người đàn ông máu nóng và cứng xương, khi đau khổ, cho nước mắt giàn giụa chảy, khi sung sướng, không làm hả hơi nguồn hân hoan của mình bằng cách lọc nó qua cái rây mắt nhỏ của siêu hình học.


Ba bốn ngày trôi qua như vậy, Zorba làm việc liên miên, không ăn, không uống, không thở. Hắn đang đặt nền móng. Một buổi tối, tôi nói với hắn mụ Bouboulina hãy còn đau, thầy thuốc không đến, mụ kêu tên hắn trong cơn mê sảng.


Hắn nắm tay lại.


– Tốt lắm, hắn trả lời.


Hôm sau, vào lúc rạng đông, hắn tới làng trở về ngay.


Tôi hỏi:


– Bác gặp mụ chưa? Mụ ra sao?


– Không sao cả, mụ sắp chết.


Và hắn xoạc cẳng bước lên núi.


Buổi tối hôm đó, không ăn uống gì cả, hắn lấy cây gậy và đi ra.


Tôi hỏi:


– Bác đi đâu đó? Ðến làng hả?


– Không. Tôi đi dạo một chút. Tôi trở về ngay.


Hắn rảo bước về phía làng một cách quả quyết.


Tôi mệt, và leo lên giường ngủ. Tâm trí tôi lại bắt đầu duyệt lại toàn thể trái đất, kỷ niệm dâng lên, sầu đau trở lại, tư tưởng tôi bay trên những ý tưởng xa vời nhất và cuối cùng trở lại trụ trên Zorba.


“Nếu trên đường hắn đụng phải Manolakas, tôi nghĩ, tên khổng lồ Crete này sẽ nhẩy xổ vào hắn ngay. Hình như trong những ngày gần đây gã nhốt mình trong nhà. Gã xấu hổ không dám thò mặt ra ngoài làng và không ngừng đe rằng nếu gã bắt được Zorba ‘gã sẽ cắn xé hắn như một con cá trích’. Ngày hôm qua, vào lúc nửa đêm, một người thợ còn gặp hắn, võ trang, lảng vảng quanh lều. Nếu họ gặp nhau đêm nay thế nào cũng sẽ có một cuộc tàn sát.”


Tôi đứng phắt dậy, mặc quần áo và vội vã đi xuống đường làng. Ðêm dịu dàng, ẩm ướt, phảng phất mùi hoa thập tự dại. Một lát sau, tôi trông thấy Zorba chậm chạp bước, như thể mệt mỏi lắm. Thỉnh thoảng hắn ngừng lại, chăm chú nhìn sao, nghe ngóng; đoạn hắn lại bước đi nhanh hơn, và tôi nghe thấy cây gậy của hắn trên đá.


Hắn lại gần vườn góa phụ. Không khí ngát mùi hoa chanh và kim ngân. Ngay lúc đó, trong rặng cam trong vườn, thánh thót vang lên tiếng hót đứt ruột của con họa mi, tiếng trong veo như nước suối. Nó hót và tiếp tục hót trong đêm tối với vẻ đẹp sững sờ khiến người ta muốn đứt hơi luôn. Zorba đứng dừng lại hắn cũng kinh ngạc vì sự dịu dàng quá mức.


Thốt nhiên lau say hàng rào lay động; những chiếc lá sắc cọ vào nhau san sát như những lưỡi dao cạo thép.


– A, mi đây rồi! Một giọng nói man rợ gầm lên. A, lão già lẩm cẩm! Ta thấy mi đây rồi!


Tôi lạnh người. Tôi đã nhận ra giọng nói.


Zorba tiến lên một bước, giơ cao cây gậy và đứng lại. Dưới ánh sao, tôi thấy rõ từng cử động của hắn.


––––––-


(*) Kinh đô của Crete thượng cổ, cường thịnh vào thế kỷ XXI trước công nguyên ố N.H.H.

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Hà Nội, những mùa Xuân phai

Tôi chưa hề nghe ai nói “yêu muốn khóc” bao giờ, chỉ độc nhất có một người làm thơ là Hoàng Anh Tuấn. Yêu đến như thế là... yêu quá là yêu.

Những cánh hoa cuối năm

Vào những ngày cuối tháng của năm, tôi có dịp lên thành phố Saigon, không khí sinh hoạt trông nhộn nhịp hẳn lên, bao hình ảnh xem như đã chuẩn bị trước từ nhiều tháng qua, những sắc màu,những...

Em có hay xuân về! – Thơ Mặc Phương Tử

Em có hay!/ Những chiếc lá thức tàn canh/ Cây chuyển mạch,/ Dòng đời thay sắc áo/ Hoa đương nụ dưới ngàn sương huyền ảo/ Cánh chim về chở trĩu ước mơ xanh.

Sương chiều ngồi nhớ bằng hữu – Thơ Trần Tuấn Kiệt

Sương lạnh chiều vây phủ/ Ngồi rồi nhớ cố nhân/ Độc ấm trà ra khói/ Thời gian quyện lững lờ.

Sắc màu tình yêu – Thơ Lê Minh Hiền

mùa đông lá đỏ/ mùa hạ lá vàng/ xuân hồng thấp thoáng/ thu nay mắt huyền

Dấu vết dòng sông – Thơ Phan Nam

Những con sông rời xa bến đợi/ Nặng trĩu nỗi niềm cỏ hoa/ Mùa chạp bay trong nhang khói/ Tháng giêng lặng lẽ đưa thoi.

Mùa Xuân đến – Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh

Ban mai đến/ Ngày đưa tôi đến/ Lời hôm qua mối đùn/ Lời hôm qua xanh cỏ/ Mớ ý nghĩ nháo nhào tiếng sấm

Xuân bồi hồi – Thơ Giao Yên

Bánh chưng xanh hương ngát/ Mai vàng rung cánh ngân/ Ngoài trời mưa lấm tấm/ Trong nhà rượu lâng lâng

Nhạc lính

Trong suốt những tháng năm dài chinh chiến, người lính là hình ảnh nổi bật trong cuộc sống, gắn chặt với cuộc chiến, diễn ra từng ngày từng giờ trên khắp đất nước.

Nguyễn Sỹ Tế, người đứng ở ngoài nhóm Sáng Tạo?

Nhà văn Nguyễn Sỹ Tế là một trong hai nhân vật được coi là “lý thuyết gia” của nhóm Sáng Tạo, ngay tự những ngày còn phôi thai, theo nhà văn Mai Thảo.