Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 115)


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


 
Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 115


 


Zorba lấm lét nhìn tôi. Tu sĩ và dân làng rút lui một cách thận trọng. Những con la bị cột bắt đầu hí lên. Lão Demetrios to lớn quị xuống, hổn hển.


– Lạy Chúa, xin Chúa thương xót chúng con! Lão sợ hãi cầu nguyện.


Zorba giơ tay lên, quả quyết:


– Không sao hết. Cây đầu tiên bao giờ cũng vậy. Bây giờ máy đã trơn rồi… Nhìn đây!


Hắn phất cờ, ra hiệu lần nữa và bỏ chạy.


– Và Ðức Chúa Con! Tu viện trưởng run run kêu lên.


Thân cây thứ hai đã thả xuống. Cột trụ lung lay, thân cây phóng nhanh, nhẩy nhót như một con cá heo và lao về phía chúng tôi. Nhưng nó không đi xa, nó tan tành ở lưng chừng núi.


– Ma quỉ bắt nó! Zorba vừa lẩm bẩm vừa ngậm ria. Ðộ dốc trời đánh này chưa đúng!


Hắn nhẩy tới cột trụ và điên cuồng phất cờ ra hiệu lần thứ ba. Những tu sĩ lúc bấy giờ đứng sau những con la của họ, làm dấu. Những hương mục thấp thỏm đứng chờ, sẵn sàng chạy.


– Và Ðức Chúa Thánh Thần! Tu viện trưởng ấp úng cầu nguyện vừa vén áo lên chuẩn bị.


– Nằm xuống! Zorba hét lên trong khi chuồn thật mau.


Những tu sĩ nằm sấp xuống đất, dân làng chạy vắt giò lên cổ.


Thân cây nhẩy lên một cái, rồi lại rơi xuống đường dây cáp, xẹt ra những chùm tia lửa và trước khi chúng tôi kịp trông thấy cái gì xảy ra, nó lướt qua sườn núi, bãi biển, cắm sâu xuống biển, tung bọt lên mãi tận ngoài xa.


Cột trụ lung lay một cách đáng sợ. Nhiều cột ngả xuống. Những con la dứt đứt dây cương chạy trốn.


Zorba nổi xung la lên:


– Không sao hết! Không sao hết! Bây giờ máy đã trơn tru, có thể bắt đầu thực sự được rồi!


Hắn phất cờ một lần nữa. Người ta cảm thấy hắn tuyệt vọng và vội vã muốn thấy tất cả những cái đó kết liễu ngay.


– Và Ðức Mẹ Trừng Phạt! Cha tu viện trưởng lắp bắp trong khi ba chân bốn cẳng chạy tới tảng đá.


Thân cây thứ tư lao xuống. Một tiếng “rắc!” khủng khiếp vang lên, rồi một tiếng “rắc!” thứ hai và tất cả cột trụ, tiếp theo nhau sụm xuống như một cỗ bài tây.


– Kyrie eleison! Kyrie eleison! (*) dân làng, thợ thuyền vừa la hét vừa bỏ chạy tán loạn.


Một mình Ðức Mẹ Ðồng Trinh đứng thẳng trên bệ đá, dáo trong tay, nghiêm khắc và lạnh lùng nhìn đám người phía dưới. Bên cạnh Ðức Mẹ lông xanh dựng cả lên, con két đáng thương run rẩy, thừa chết thiếu sống.


Những tu sĩ ôm lấy Ðức Mẹ Ðồng Trinh, đỡ Demetrios đang rên rỉ đứng dậy, tụ tập la, cưỡi lên và rút lui. Người thợ phụ trách quay thịt, trong lúc hoảng hốt, đã bỏ con cừu chạy và thịt bắt đầu khét.


– Con cừu sắp cháy thành than mất! Zorba vừa lo lắng kêu lên vừa nhào tới để quay cái xiên nướng.


Tôi ngồi xuống bên hắn. Không còn ma nào trên bãi, chúng tôi hoàn toàn cô độc. Hắn quay lại nhìn tôi một cách dụt dè, lưỡng lự. Hắn không biết tôi sẽ có thái độ nào đối với tai biến đó, cũng không hiểu cuộc phiêu lưu này sẽ kết thúc ra sao.


Hắn cầm lấy con dao cúi xuống con cừu, xẻo một miếng, nếm, lập tức lôi ngay con vật ra khỏi đống lửa và dựng xiên nướng vào một thân cây. Hắn nói:


– Chín rồi, chín rồi ông chủ! Ông có muốn dùng một miếng không?


– Mang cả rượu và bánh lại đây nữa, tôi đáp, tôi đói rồi.


Zorba nhanh nhẩu lao tới lăn cái thùng rượu nhỏ lại gần con cừu, mang lại một ổ bánh trắng và hai cái ly.


Mỗi người chúng tôi cầm một con dao, cắt hai miếng thịt, những lát bánh lớn và bắt đầu nhồm nhoàm ăn.


– Ngon quá phải không, ông chủ? Nó tan trong miệng! Ở đây không có cỏ tươi, súc vật quanh năm ăn thuần những cỏ khô, vì thế thịt nó mới ngon như vậy. Thịt ngon như thế này, trong đời tôi, tôi chỉ được ăn có mỗi một lần. Tôi còn nhớ đó là hồi tôi thêu nhà thờ Saint-Sophia bằng tóc tôi và mang trên mình như bùa hộ mệnh. Tôi đã kể cho ông nghe rồi, chuyện cũ rích!


– Kể đi, kể đi!


– Chuyện cũ rích ấy mà, ông chủ! Những cái ngông cuồng Hy Lạp, những cái ngông cuồng điên rồ!


– Kể đi Zorba, tôi thích!


– Một buổi chiều tụi Hung Gia Lợi vây chúng tôi. Tôi nhìn thấy chúng đốt lửa trên sườn núi, xung quanh chúng tôi. Ðể làm chúng tôi sợ, bọn chúng bắt đầu đánh não bạt và hú lên như một bầy chó sói. Ít ra phải có tới ba trăm tên. Trong khi đó chúng tôi chỉ có hai mươi tám mống thêm Rouvas, xếp chúng tôi – Chúa cứu vớt linh hồn ông ta, nếu ông ta chết, ông ta là một thanh niên bảnh lắm! Ê, Zorba, ông ta nói, đặt cừu lên xiên nướng đi! Thưa, đào lỗ quay ngon hơn đại úy, tôi nói. Tùy, muốn làm sao thì làm, nhưng phải làm nhanh lên, anh em đói rồi!” Chúng tôi đào một cái lỗ đặt con cừu xuống đó, phủ một lớp than hồng lên trên, lấy bánh trong túi dết ra và ngồi quanh ngọn lửa. “Ðây rất có thể là con cừu cuối cùng của chúng ta ăn! Xếp Rouvas nói, ở đây có ai sợ không?” Cả bọn chúng tôi phá lên cười. Không ai thèm trả lời ông ta. Chúng tôi lấy bình rượu ra. “Mừng xếp!” Chúng tôi uống, uống nữa đoạn lôi con cừu ra khỏi lò. A, con cừu tuyệt làm sao, ông chủ! Khi tôi nghĩ tới nó, tôi còn chẩy nước miếng ra! Nó tan ra như kẹo loukoum. Không ngần ngại, chúng tôi nhai ngấu nghiến “Trong đời tôi chưa bao giờ được ăn con cừu nào ngon hơn!” Xếp của chúng tôi nói.


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

‘Ánh Trăng’ của Nguyễn Xuân Thiệp – bài thơ như bút ký đời người

Thơ Nguyễn Xuân Thiệp là một làn gió mới thổi vào sinh hoạt văn học hải ngoại đầu 1990. Kết cấu thơ không cách tân thời thượng, nhưng mới.

Thơ Bùi Giáng ảnh hưởng Nguyễn Du, Huy Cận?

Bùi Giáng là một trong những thi nhân cách biệt với đám đông. Tuy vậy, tiếng thơ ông khởi đầu ít phổ cập đại chúng.

Nhân một cái phân ưu

Tháng Giêng, 2019, cũng khoảng tháng này nhà thơ Nguyễn Bính qua đời ngay nơi quê quán Nam Định của ông, nhưng vào năm 1965.

Sân khấu Hậu Tấn với tuồng chiến tranh hiện đại

Đoàn hát Hậu Tấn ra đời đầu năm 1950 và khi gánh Hoa Sen hình thành khai trương bảng hiệu (1951) thì Hậu Tấn rã gánh.

Thơ Trần Vấn Lệ – Ôi Sao Thơ Buồn Vậy

Có bóng bởi có hình...Có hình nên có bóng.../ Anh nhớ em, bất động...sao trời rớt thành sương!/ Em ơi, anh dễ thương...làm thơ như vậy đó...

Mỹ như Tôi

Nhưng nếu tôi cũng thấy không được thoải mái, chính là vì tôi không thể không tự hỏi: Đây là nước Mỹ nào vậy.

Thơ Hoa Nguyên – Cho hết thời lãng mạn

Ta lãng mạn cho hết thời lãng mạn/ Vẽ chân dung mình lên những củ khoai/ Ta lãng mạn cho hết đời bỉ vận/ Thơ về đâu quang gánh ở phương đoài

Một thứ tự do hoang dại

Lần đầu lên Đà Lạt, tôi được nghe kể là người Pháp trước kia đề ra những quy chế rất gắt gao cho việc xây dựng các biệt thự ở đây.

Thơ Phạm Mạnh Tiến – Một Đời Người

Bàn tay níu vội/ Bàn tay với/ Nụ cười tắt vội/ Tắt trên môi/ Hoàng hôn sao vợi/ Trên đôi mắt/ Trăm năm một thoáng/ Thả mây trôi.

Hương cổ tích

Sáng nay trong khí đông lạnh của miền Nam Calif. tôi mở cửa căn phòng, nơi ấy tôi đã để 7 bức tranh của thời gian, của ký ức, của giấc mơ...