Viên Linh
Nhân dịp qua Ba-Lê phát hành thi phẩm Thủy Mộ Quan đã in từ đầu năm 1982 tại Hoa Kỳ, năm 1992 tái bản và lần đầu mang qua Âu Châu, tác giả Viên Linh đã trả lời hai cuộc phỏng vấn phát thanh, một do Tô Vũ và Thế Huy thực hiện cho đồng bào Ba-Lê qua đài RadioAsie, hôm thứ tư ngày 1-7-1992, và một do ký giả Thụy Khuê thực kiện truyền thanh về Việt Nam qua đài RFI (đài Pháp Quốc hải ngoại) hôm chủ nhật ngày 5-7-1992. Nội dung cuộc phỏng vấn với đài RFI (truyền về Việt Nam) dài hơn 12 phút, được in lại một phần sau đây. Tháng 4.2016 biến cố Biển Đông với ngàn vạn con cá chết nổi lên trong khoảng ba tỉnh: Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị và cho tới nay một tháng sau, hàng ngàn người đang biểu tình từ Sài Gòn ra Hà Nội, trong khi các phiên chợ như chợ Cửa Việt và quanh đấy đang vắng tanh, Biển Đông lại một lần nữa đang dậy sóng. Biển Đông là đề tài của 172 bài thơ Thủy Mộ Quan từ 40 năm trước… nhưng vẫn là chuyện hôm nay.

Biển Đông vần vũ trong lòng. (Tranh Nguyễn Hữu Nhật)
Thụy Khuê: Được biết anh qua Ba-Lê nhân dịp tái bản thi phẩm “Thủy Mộ Quan,” thưa anh, tại sao lại là “Thủy Mộ Quan?”
Viên Linh: Có thể hiểu đó là Cửa-mở-vào-thế-giới-mồ-mả-ở-đáy-nước. Có thể hiểu như Nhạn Môn Quan, Ải Nam Quan, v.v…
Thụy Khuê: Tập “Thủy Mộ Quan” có ba phần. Nội dung mỗi phần như thế nào?
Viên Linh: Phần chính mang tên cả tập thơ, “Thủy Mộ Quan,” gồm 171 bài ngắn và một bài dài là bài “Gọi Hồn.” Những bài này được làm trong hai năm 1981,1982, nhân thảm cảnh Biển Đông. Chính từ thảm cảnh Biển Đông mà tôi tự hỏi tại sao phụ nữ ta, dân tộc ta phải theo nhau tìm vào sóng nước như thế? Mới thấy ngay từ trang thứ nhất của Lịch Sử và Huyền Sử Dân Tộc, đã là mặt nước. Là Động Đình Hồ. Ngay từ đầu, ta sống với thủy quái, nên có tục vẽ mình. Những cái chết được nhắc nhở nhiều là những cái chết nơi đáy nước. An Dương Vương mất nước, chém công chúa rồi nhảy vào lòng biển. Trọng Thủy nhảy xuống giếng chết sau khi biết Mỵ Châu đã không còn. Chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh. Cái chết của Hai Bà ở Hát Giang. Những mối oan tình thác nơi sóng nước như Trương Chi Mỵ Nương, Thiếu phụ Nam Xương, Hòn Vọng Phu, nàng Tô Thị, v.v… Và sông Gianh chia cắt sơn hà, Bến Hải phân đôi đất nước, v.v… Những Trâu vàng Hồ Tây, những Hồ Hoàn Kiếm, những Đầm Dạ Trạch, những Chữ Đồng Tử sống truồng ngoài bể xưa và những người nữ lõa lồ trên các hoang đảo bây giờ… Có 172 bài thơ trong “Thủy Mộ Quan” cảm xúc từ những đề tài này, đều làm trước 1982. Tất cả đều liên hệ đến nước…
Thụy Khuê: Đúng như vậy, xin anh giải thích phần tiếp theo…
Viên Linh: Phần thứ hai là “Ngoại Vực,” những bài thơ làm ở hải ngoại từ 1975 đến 1982. Phần thứ ba là “Dư Tập” một số thơ làm trước 1975, ở trong nước, may mắn tìm được ở các tạp chí cũ trong thư viện nước người.
Thụy Khuê: Được biết trước 1975, anh có khoảng 17 tác phẩm đã in thành sách ở Việt Nam, vậy mà cho tới nay sau 17 năm ở hải ngoại, anh chỉ in được một tập “Thủy Mộ Quan” này. Tại sao vậy?
Viên Linh: Ở Việt Nam viết được bao nhiêu, các nhà xuất bản mua in bấy nhiêu. Riêng năm 1969 tôi có 5 tác phẩm được in thành sách. Ở hải ngoại thì khác, ít độc giả, phát hành kém, và riêng nhà văn thì cảm xúc nghèo đi vì phải sống trong một môi trường khác môi trường đất nước, dân tộc. Một nhà văn nhà thơ lữ thứ không cầm bút để giải trí, không thể không thấy trên trang giấy mình viết những thống khổ của Lịch Sử, Dân Tộc và đồng loại…
Thụy Khuê: Anh đã có ý định này khi cho tái bàn cuốn “Thị Trấn Miền Đông?”
Viên Linh: Vâng. Những chia rẽ, xung đột, hoài nghi, mưu mô, phỉ báng… vào năm 1963, khi tôi viết “Thị Trấn Miền Đông,” bây giờ vẫn còn y nguyên. Sau khi dụ 4 đứa con lưu lạc trở về, sau khi thấy thái độ của các con với nhau, với mình, thái độ với quê hương nơi chúng sinh ra, bà mẹ đã tự tử! Bây giờ, có viết lại cuốn truyện này, đề tài này, chắc tôi cũng không thể viết khác, cho nên tôi cho nhà xuất bận Thế Giới tái bản cuốn “Thị Trấn Miền Đông” vào đầu năm qua.
Thụy Khuê: Đất nước đang ở trước những đổi thay lớn, là một nhà văn, nhà thơ, anh nghĩ sao về đề nghị giao lưu văn hóa?
Viên Linh: Nếu đề nghị này đến từ những người cầm quyền ở Hà Nội, tôi đề nghị họ hãy giao lưu văn hóa với những bạn văn đồng chí hướng với tôi trước. Có Doãn Quốc Sỹ, Như Phong, Hoàng Hải Thủy, Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thụy Long, v.v… Họ là những tác giả tên tuổi từ trước 1975, có hàng triệu độc giả, mà 17 năm nay không được viết, không dược in. Hãy giao lưu với họ, để họ cầm bút và in lại tác phẩm. Giao lưu với họ là giao lưu với chúng tôi. Không thể giao lưu với chúng- tôi-ở-ngoài mà không giao lưu với chúng-tôi-ở-trong. Tại sao vây?
Thụy Khuê: Xin anh cho biết dự định gần nhất?
Viên Linh: Về Sài Gòn, Hà Nội, Huế, tổ chức những Đêm Thơ Dân Tộc, Đêm Thơ Lục Bát với những người bạn yêu thơ, những người đã cùng tôi làm thơ 30, 40 năm về trước như Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Tuệ Sỹ, Mai Trung Tĩnh, Vương Đức Lệ, Thái Thủy, (LTS: Đa số những người vừa kể còn ở trong tù). Vâng, đó là một dự định gần của tôi. Dự định xa ư? Tục bản tuần báo văn học nghệ thuật Khởi Hành và tạp chí Thời Tập. Chắc cũng phải khoảng 3 năm nữa…

Tác giả Thủy Mộ Quan (trái) và Thụy Khuê ở Paris, 1992. (Hình: Viên Linh cung cấp)
Thụy Khuê: Để kết thúc cuộc phỏng vấn, anh có thể đọc cho đồng bào trong nước nghe vài đoạn thơ mà anh thích nhất?
Viên Linh: Tôi rất sung sướng. Xin đọc hai đoạn. Đoạn thơ đầu là tâm sự một người cầm bút lưu vong, viết chữ Quốc ngữ. Và đoạn thơ sau là lòng mong ước của một người Việt Nam sau này, hay bây giờ, trước cảnh đoàn tụ của thế hệ trẻ Việt Nam, lớn lên ở nước người, nói đủ thứ ngôn ngữ, nhưng chỉ mong họ khóc bằng một ngôn ngữ thôi, khi trở lại quê hương:
Thổ Ngữ
Viết những năm lữ thứ
Mênh mông ngoài biển Nam
Nghe thì thầm thổ ngữ
Gọi nhau ngoài non sông.
Trăm Dòng
Sinh ở đâu mà giạt bốn phương
Trăm con cười nói tiếng trăm dòng
Mai sau nếu trở về quê cũ
Hy vọng ta còn tiếng khóc chung.
(Thơ Viên Linh, Thủy Mộ Quan)
Thụy Khuê thực hiện.
Biển Đông trong thơ mấy chục năm qua vẫn là một, nếu không nói là tồi tệ hơn; trước kia dân miền Nam từ phía Nam Bến Hải là nạn nhân, hiện nay 2016 cả dân tộc Việt ở trong nước là nạn nhân. Đoạn dưới đây không phải thơ, chỉ có ý thơ, song lời và ý ngổn ngang một tấm lòng biển chết.
Từ nơi bàn viết lữ thứ
Thao thức tiếng sóng không nghe
Tưởng năm ngàn năm nổi trôi tần hải
Thấy xưa Động Đình Hồ xanh ngắt
Thấy bằn bặt phân ly.
An Tiêm ngoài đảo hận
Thục Phán tới nước cùng
Cát Dã Tràng vẫn nổi
Đá Tinh Vệ còn buông
Biển Đông chưa lấp
Cửa Thần Phù Mã Viện lật ghe
Hợp Phố vắng châu
Kẻ xâm mình làm rồng làm rắn.
Nhớ đáy nước Trương Chi
Đầm hoang Chữ Đồng Tử
Nhớ Nam Xương oan thác
Ngư nữ hoàn thân.
Cảm vọng từ dật sử
Thấp thoáng ý thuyền nhân
Khinh chồn quái Xiêm la
Gờm giao long Hà nội
Người Việt ven Biển Đông
Sự thật hay huyền thoại?

































































