Hành trình từ trường làng đến Ðại Học Quốc Tế RMIT Việt Nam (kỳ 10)


Nguyễn Xuân Thu


Kết quả, trong mùa Hè năm 1961 này, tôi đã đạt được một mục tiêu nằm trong kế hoạch là đậu được chứng chỉ dự bị Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn và hai mục tiêu chưa bao giờ nghĩ tới. Ðó là có được người yêu và thi đậu vào trường đại học sư phạm thuộc Viện Ðại Học Huế. Thi đậu được vào trường đại học sư phạm rất quan trọng đối với tôi lúc này, vì trong thời gian đi học tôi có học bổng hàng tháng đủ để sống mà không phải đi làm thêm và lúc ra trường được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm đi dạy học tại các trường công lập.

Tại miền Nam lúc bấy giờ chỉ có hai viện đại học: Viện Ðại Học Sài Gòn được thành lập năm 1954 và Viện Ðại Học Huế năm 1957. Viện Ðại Học Huế có trường đại học khoa học, trường đại học văn khoa, trường đại học luật khoa, trường đại học y khoa, trường đại học sư phạm, trường nông lâm súc, trường âm nhạc và một số trung tâm nghiên cứu. Trường đại học sư phạm có nhiều ngành học và có nhiệm vụ đào tạo giáo viên cho các trường trung học đệ nhị cấp (cấp ba) thuộc các tỉnh miền Trung và vùng cao nguyên.

Lớp đại học sư phạm Ban Việt Hán của tôi năm ấy có 30 sinh viên được trúng tuyển. Ða số là nam, chỉ có hai nữ: Bùi Thị Ấu Lăng và Lê Thị Thanh Vân. Sau ba năm học chỉ có 7 sinh viên tốt nghiệp, trong đó có tôi. Trong số 23 sinh viên còn lại, khoảng 15 người ở lại lớp, một số đi nhập ngũ, vài người tham gia phong trào tranh đấu Phật Giáo hoặc đi theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lên rừng.

Trong năm đầu tại Huế, ngoài việc học năm thứ nhất Ban Việt Hán của trường Ðại Học Sư Phạm Huế, tôi còn ghi danh vào học Chứng Chỉ Hán văn và Chứng Chỉ Ngữ Học Việt Nam tại trường đại học văn khoa. Số sinh viên học trong mỗi lớp thường không quá 10 người. Cuối năm, tôi được lên năm thứ hai của trường đại học sư phạm và đậu cả hai chứng chỉ tại trường đại học văn khoa. Dĩ nhiên là tôi đã đầu tư rất nhiều thời gian và trí tuệ tương đương với quỹ thời gian ba năm học để đạt được những kết quả trên. Thực tế hầu như không có sinh viên nào trong một năm đậu được ba chứng chỉ như vậy.

Ðầu Tháng Tư của năm học thứ nhất, Hồng và tôi quyết định làm lễ thành hôn tại Quảng Trị, một thành phố cách Huế khoảng 70 km về phía Bắc. Trong số ít ỏi bạn bè đến dự có Trần Quang Long, đại diện sinh viên cùng lớp. Long là nhà thơ khá nổi tiếng và sau này anh tử trận trên chiến trường Tây Ninh.

Trong năm học 1962-1963, tôi học năm thứ hai của trường đại học sư phạm và ghi danh vào học hai chứng chỉ còn lại tại trường đại học văn khoa: Chứng Chỉ Lịch Sử Triết Học và Chứng Chỉ Văn Chương Việt Nam. Ðây là hai chứng chỉ có nội dung bao trùm rất nhiều lĩnh vực và đòi hỏi sinh viên phải đọc sách rất nhiều. Có nhiều sinh viên học nhiều năm mà không đậu được Chứng Chỉ Lịch Sử Triết Học. Về sau, vì môn học quá nặng cho nên mỗi chứng chỉ trên được chia thành hai chứng chỉ. Ví dụ Chứng Chỉ Lịch Sử Triết Học được phân làm hai, gồm Chứng Chỉ Lịch Sử Triết Học Ðông phương và Chứng Chỉ Lịch Sử Triết Học Tây phương, hoặc Chứng Chỉ Văn Chương Việt Nam thành hai là Chứng Chỉ Văn Chương Hán văn và Chứng Chỉ Văn Chương chữ Nôm.

Cuối năm học này, tôi lại một lần nữa gặp may mắn: được lên năm thứ ba tại trường đại học sư phạm và đậu cả hai chứng chỉ khó nhất của bằng cử nhân lúc bấy giờ. Với 5 chứng chỉ: chứng chỉ dự bị đại học, Chứng Chỉ Hán Văn, Chứng Chỉ Ngữ Học Việt Nam, Chứng Chỉ Lịch Sử Triết Học và Chứng Chỉ Văn Chương Việt Nam, tôi được Bộ Giáo Dục chính thức cấp “Văn-Bằng Cử-Nhân Văn-Khoa Giáo-Khoa.”

Cuối năm học 1963-1964, tôi tốt nghiệp trường Ðại Học Sư Phạm Huế và đến đầu tháng 10 được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm đi dạy tại trường Trung Học Nguyễn Huệ, thành phố Tuy Hòa, một tỉnh thời đó được xem là nơi khỉ ho cò gáy.


Ði học tại Hoa Kỳ


Ra trường đi dạy học ở một tỉnh nhỏ, thời đó ai cũng nghĩ là con đường học vấn đã hoàn toàn chấm dứt. Không ngờ chỉ bảy năm sau tôi lại có dịp được đi học lại, không phải tại Việt Nam mà tại Hoa Kỳ, một quốc gia mà tôi không bao giờ dám nghĩ tới. Cơ hội thật bất ngờ.

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT