Nguyễn Xuân Thu
Sau khi thu thập đủ tư liệu cho một chương của luận án, tôi bắt đầu ngồi viết tại phòng ngủ trong cư xá sinh viên của mình. Khi đưa ra một chương trình làm việc, tôi thường rất có kỷ luật để hoàn thành đúng kỳ hạn.
Mỗi buổi sáng tôi thức giấc lúc 6:30. Vệ sinh cá nhân xong, đúng 7 giờ tôi bấm thang máy xuống nhà ăn. Ðúng 8 giờ tôi trở lại phòng ngủ chuốt khoảng 30 cây bút chì (bằng máy chuốt) và bắt đầu ngồi viết. Ðến đúng 12 giờ trưa, tôi nghỉ, bấm thang máy xuống nhà ăn. Từ 2 giờ tôi ngồi làm việc lại cho đến 5 giờ. Buổi tối tôi cũng làm việc 3 tiếng đồng; đến 10 giờ đêm là đi ngủ. Lúc bấy giờ chưa ai có máy tính cá nhân. Sau mỗi chương tôi mang đến cho người đánh máy chuyên nghiệp. Thời đó phí đánh mỗi trang là 1.00 USD nếu không có chú thích nào. Nếu mỗi trang có một chú thích dưới hai dòng thì thêm 20 xu. Tôi được quỹ nghiên cứu của trường cho một khoản phí nhỏ đủ để trả tiền thuê đánh máy và tiền in 10 quyển luận án. Mỗi khi có một chương đánh máy xong, thông thường khoảng hai tuần lễ, tôi nộp cho giáo sư hướng dẫn, thầy August Eberle, gặp thầy để nghe thầy nhận xét về chương đã viết trong kỳ trước, và kế hoạch làm việc cho các chương sau. Kết quả, luận án gần 400 trang của tôi được viết xong trong vòng sáu tháng, được xem là một kỷ lục ít có sinh viên đạt được. Luận án này sau đó được trung tâm Microfilm tại Ann Arbor, Michigan in và phổ biến khắp nước Mỹ. Ðến năm 1982, quyển luận án này được in lại ở London, Anh quốc.
Trong thời gian học ở đại học Indiana tôi có nhiều kỷ niệm với thầy August Eberle, giáo sư hướng dẫn của tôi, và Giáo Sư Robert Shaffer, trưởng khoa. Thầy Eberle là một giáo sư người Mỹ gốc Ðức. Thầy là một vị giáo sư rất tận tụy với sinh viên. Trong suốt cuộc đời làm nghề nhà giáo, thầy đã hướng dẫn cho gần 300 sinh viên làm luận án thạc sĩ và tiến sĩ. Thầy đọc bài “Lời cuối” của thầy giã từ bục giảng vào mùa Hè năm 1985. Lúc ấy tôi đang ở Úc không đến Mỹ để nghe lời cuối của thầy, nhưng tôi có gửi thầy một bài viết ngắn của mình.
Mãi đến năm 1990 tôi mới có dịp đến thăm lại hai thầy tại Bloomington. Lúc này hai thầy đã rất yếu, cả hai đều sống một mình. Vợ của hai thầy đã mất mấy năm trước đó. Thầy Eberle không có con, còn thầy Shaffer có một người con trai tử trận trên chiến trường Việt Nam trong lúc đang lái máy bay tác chiến. Hai năm sau tôi được tin thầy mất.
Năm 2000 tôi trở lại Bloomington lần nữa với mong muốn đến đặt một bó hoa trên mộ thầy Eberle. Nhưng mong muốn ấy không thành vì xác thầy đã được hỏa thiêu lúc thầy mất. Còn thầy Shaffer thì đã dời về ở tại tiểu bang Florida ở phía Nam. Tôi chỉ có dịp nói chuyện với thầy qua điện thoại và đó cũng là lần cuối cùng trong đời tôi có dịp thăm hỏi sức khỏe của thầy.
Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ, tôi từ giã các thầy và bạn bè. Hai vợ chồng Georgia và Christoph Kohler (vợ Mỹ chồng Ðức), hai người bạn thân của tôi trong thời gian học ở Bloomington, đã tiễn tôi đến sân bay Indianapolis cách thành phố Bloomington khoảng trên 100 km. Christopher ngậm ngùi còn Georgia đã khóc lúc chúng tôi chia tay. Ðến gần cuối tháng 5 năm 1974, tôi có mặt tại Việt Nam giữa lúc đất nước chiến tranh đang diễn ra trong giai đoạn cực kỳ sôi động nhất.
Gần một năm sau, ngày 20 tháng 4, 1975, vào một buổi sáng tôi nhận được điện thoại của Christoph gọi từ Ðức bảo tôi rằng anh đã gửi số tài khoản của anh đến các hãng máy bay quốc tế tại Sài Gòn và dặn tôi phải mua vé máy bay rời Việt Nam càng sớm càng tốt. Nhưng lúc ấy đã quá muộn. Không có một hãng máy bay dân dụng quốc tế nào còn hoạt động ở Việt Nam.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày miền Nam rơi vào tay của Cộng Sản Bắc Việt.

















































































