Hành trình từ trường làng đến Ðại Học Quốc Tế RMIT Việt Nam (kỳ 5)


Nguyễn Xuân Thu


Chương 2:
Những chặng đường học tập


Học hành dang dở


Gia đình tôi ở vùng nông thôn rất nghèo. Như đã nói ở trên, mẹ tôi cố gắng cho tôi đi học chỉ vì bà thương tôi, không muốn tôi bị thất học phải bị bắt làm xâu.

Tôi không nhớ chính xác ngày đầu cắp sách đến trường, lúc ấy tôi bao nhiêu tuổi. Tôi chỉ nhớ hôm ấy mẹ tôi dắt tôi đến trường của thầy giáo Huy trong làng. Thật ra đây chỉ là một ngôi nhà không có người ở.

Thầy Huy mướn làm trường dạy con em trong làng. Trường có trên dưới 10 học trò học các lớp từ vỡ lòng đến biết đọc biết viết. Mấy học trò lớn hơn có học thêm môn toán cộng trừ nhân chia. Thầy giáo Huy chưa bao giờ dạy tôi mà chỉ có mấy học trò lớn chỉ cho học trò nhỏ tập đọc, tập viết. Mỗi buổi sáng thầy giáo Huy chỉ dạy mấy trò lớn một lúc rồi nằm dài trên một bộ phản và bắt các trò thay nhau nhổ tóc bạc. Khi thầy giáo ngủ thì chúng tôi ra sân chơi nhưng không đứa nào dám làm ồn vì sợ làm thầy thức giấc.

Trong thời gian học tại trường thầy giáo Huy tôi chỉ còn nhớ vài chuyện nho nhỏ. Chuyện thứ nhất là nhổ tóc bạc cho thầy. Ðó là việc mà bọn trẻ con chúng tôi rất sợ. Ðến phiên trò nào nhổ thì biết chắc là sẽ nhổ rất lâu vì các trò khác bỏ chạy ra chơi ngoài sân hết, không có trò nào thay thế. Muốn đi tiểu cũng không dám. Thời ấy, ở làng quê hẻo lánh không có ai có đồng hồ.

Gần nhà tôi có trò Phàn cũng đi học cùng trường. Mỗi buổi sáng Phàn đi qua nhà tôi rủ tôi cùng đi. Một hôm trên đường đi chúng tôi gặp một bác lớn tuổi. Chúng tôi khoanh tay chào. Bác hỏi, “Các con đi học trường nào?” Tôi trả lời, “Dạ, trường thầy giáo Huy.” Ði được một lúc, trò Phàn bảo: “Sao trò dám gọi tên tục của thầy? Tôi sẽ đến thưa thầy.” Tôi sợ quá, năn nỉ Phàn đừng thưa với thầy. Từ đó mỗi lúc có gì không vui Phàn dọa “sẽ mách thầy.” Có lẽ phải mất rất lâu sau Phàn mới quên chuyện ấy. Thời đó lũ học trò nhỏ ít ai dám gọi tên tục của bất cứ ai, từ thầy giáo, cha mẹ, cho đến người lớn tuổi. Ðó là kỷ niệm tôi còn nhớ mãi về ngôi trường đầu đời của tôi.

Tôi học ở trường thầy giáo Huy có thể gần được hơn một năm. Khi tôi biết đọc biết viết và làm được toán cộng trừ nhân chia thì mẹ tôi cho chuyển đến học trường sơ cấp trong làng. Từ nhà đến trường đi bộ thong thả chỉ mất khoảng từ 10 đến 15 phút. Vì khoảng thời gian học tại đây quá ngắn, có lẽ khoảng dưới một năm nên tôi không có kỷ niệm nào đáng kể về nó.

Sau đó tôi được chuyển lên học Lớp Năm (bây giờ gọi là Lớp Một) trường tiểu học Vĩnh Linh tại Hồ Xá. Trường tiểu học này có 6 lớp gồm các Lớp Năm, Lớp Tư, Lớp Ba, Lớp Nhì nhất niên, Lớp Nhì nhị niên và Lớp Nhất. Tiếng Pháp được dạy từ lớp thấp nhất. Học hết ba lớp năm, tư, ba thì đi thi lấy bằng Yếu Lược. Học tiếp các Lớp Nhì Nhất Niên, Nhì Nhị Niên và Lớp Nhất (Lớp Năm bây giờ) thì đi thi lấy bằng Primaire (bằng Tiểu Học). Có bằng Tiểu Học và được 17 tuổi là có thể xin đi dạy học tại các trường làng. Mỗi buổi sáng học sinh phải chào cờ và hát bài quốc ca Pháp.

Ðối với tôi, hồi ấy trường Tiểu Học Vĩnh Linh là một ngôi trường rất đẹp và rộng bao la. Ði vào cổng trường phía bên phải là khu nhà thầy hiệu trưởng, bên trái là vườn hoa. Ði tiếp lên một bậc cao hơn là sân dưới, đi tiếp là đến sân trên, nơi học trò thường xếp hàng chào cờ trước khi vào lớp mỗi buổi sáng. Những buổi chào cờ học trò đứng rất nghiêm trang.

Ngôi trường là một dãy nhà ngói vách gạch rất đồ sộ, được chia ra làm 6 phòng, mỗi phòng dành cho một lớp. Không có phòng dành cho văn phòng hiệu trưởng hay phòng họp của giáo viên. Nhà vệ sinh không nằm chung trong dãy nhà này mà nằm riêng bên ngoài. Gần khu vệ sinh có nhà dành cho phu trường (bảo vệ) ở.

Phía sau trường là một dải đất được chia làm 6 ô, mỗi ô khoảng 30 mét vuông được chia cho mỗi lớp. Học sinh các lớp, trừ lớp đệ nhất (Lớp Năm ngày nay), học môn Cách trí thường ra ô vườn của lớp mình trồng và chăm sóc cây vào các ngày Thứ Năm hàng tuần. Ðây là môn học giúp tôi biết yêu quý cây cỏ, quý từng tấc đất và nhớ mãi trong đời.

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT