“Khu Rừng Lau” là bộ trường thiên tiểu thuyết được Doãn Quốc Sỹ viết nhằm tái hiện giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử cận đại Việt Nam. Nhưng lấp lánh đâu đó, giữa những trang văn của ông, vẫn là niềm tin nơi con người, nơi dân tộc. Nó chịu được sự đọc lại, không chỉ hôm nay mà còn với nhiều thế hệ mai sau.
Kỳ 90
Cuối hạ sang thu địch mở tiếp chiến dịch CITRON đánh cả Hải Dương, Thái Bình. Giữa hai tỉnh này là con sông Luộc, chiến dịch đồng thời diễn ra ở hai tỉnh như hai nửa trái chanh đã cắt mà lưỡi dao phân đôi là con sông Luộc. Chiến thuật của địch quây tròn rồi thắt chặt lại để tiêu diệt cán bộ và bộ đội ta. Chúng bắt cả ngàn người đưa đến trại hỏi cung. Tôi bị bắt ở Ninh Giang (Hải Dương). Camp de Triage của chúng loại dần, sau cùng còn lại chừng ba ngàn người tình nghi, già có trẻ có, thuần là đàn ông. Chúng tập trung chúng tôi vào một khu đất trống giữa trời, xung quanh rào dây thép gai. Mười tám ngày ròng, dầm mưa dãi nắng như vậy. Tới bữa chúng chia cho mỗi người một nắm cơm với con cá mắm, chúng tiếp tục lọc dần để gửi những người tình nghi thực sự lên camp Hải Dương và camp Hải Phòng, tôi bị giải lên camp Hải Dương. Tới đây tôi mới biết em rể tôi là Mạnh, tỉnh ủy viên Hải Dương, cũng bị bắt trong chiến dịch CITRON và cũng bị giam ở khu đất lộ thiên mà trước đây vì đông quá không biết nhau. Phương pháp hỏi cung của nhân viên Phòng Nhì nơi đây là đánh phủ đầu, đánh tối mặt mũi rồi hỏi dồn dập: “Mày có phải cán bộ Việt Minh? Mày có phải Việt Minh quan trọng?” Mình chối nó tiếp tục đánh. Mạnh, em rể tôi, chịu qua đợt đòn này thì được thả vì y có bộ mặt nông dân nên Phòng Nhì Pháp cho là bắt nhầm. Chúng kêu là tôi có bộ mặt trí thức và chắc chắn là “Việt Minh quan trọng”; tôi nhất định khai mình là giáo sư trường trung học Ngô Sĩ Liên ở Bắc Giang về thăm gia đình ở Ninh Giang nhưng gia đình đã vào Hà Nội, không biết ở phố nào. Chúng tiếp tục tra tấn tôi, chúng đánh đòn theo kiểu Nhật “xin âm dương”, nghĩa là đánh cho té sấp lật ngửa liên tiếp, chúng cột tôi vào phía sau xe Jeep, rồi cho xe chạy khiến tôi phải chạy giật lùi, mỗi lần ngã khụy là một lần trầy xương bánh chè, chúng cho quay điện rồi dí vào hai tai tôi… Tôi chịu qua thời gian truân đó, giữ vững lời khai. Một số cán bộ công an cũ của ta về hàng địch và được cử tới nhận diện, may thay tôi mới về công tác đồng bằng nên chúng không biết. Sau cùng tôi dược xếp hạng tù binh nhốt trong phòng C, ngày ngày đi phu làm đường, làm cổng hoặc đi hầu các dinh thự. Tòa hành chánh Ninh Giang, các công sở khác, cùng các đồn bót, nhà cửa đều còn lợp tôn với hàng rào dây kẽm gai vây quanh. Ở salle C này tôi may mắn gặp được đồng chí liên lạc viên công tác đội trong cơ quan địch vận của tôi. Trong lúc giả vờ đánh cờ hút thuốc chúng tôi mới dám nhận nhau và trao đổi một vài câu thầm lén. Nơi đây là cả một cuộc tranh sống! Chính nhờ chú Khải – tên đồng chí liên lạc viên công tác đội – tôi mới có được bát cơm đầy mà ăn, có được bát nước mà uống. Salle C có hai dãy sàn gỗ, giữa là lối đi, tù nhân ngủ trên và dưới gầm sàn, chật ních; chính nhờ chú Khải mà tôi có được một chỗ nằm dưới gầm sàn gần một khe hổng để bắt lấy tia gió mỏng qua đó mà đỡ ngạt thở phần nào. Sáng sáng vào lúc rửa cầu tiêu, chính nhờ đồng chí Khải mà tôi có được một bơ nước để tắm, tắm bằng cách kỳ cho bở ghét rồi rắp nước vào khăn mặt mà lau. Trong lúc giả vờ đánh cờ hút thuốc, chú Khải thường bảo tôi: “Thế nào em cũng được tha trước anh, không sao. Các anh bị giam tối ngày ở Salle D họ mới nhớ mặt, còn anh ở salle C này thì không lo. Vả lại Nô-en, hoặc Tết Nguyên Ðán tới, anh cũng được tha; nếu không thì ngày Phật Ðản mùng tám tháng tư hoặc cùng lắm đến ngày rằm tháng bảy sang năm là cùng anh cũng phải được tha, ngày đó em ra cũng được, không sao. Quả nhiên hơn một tuần sau chú Khải được tha, tôi đã đội tên chú mà ra trước như đã bàn định với nhau; họ cấp cho tôi một mảnh giấy nhỏ để về nguyên quán là một làng thuộc huyện Ninh Giang (như lời chú Khải đã khai hồi bị tra tấn). Ra khỏi trại giam tôi rẽ tay trái tới bến ô tô gần vườn hoa, mua vé về Ninh Giang cho khỏi bị nghi ngờ, nhưng khi ô tô qua khỏi Cầu Cất (cầu kéo lên được) một quãng xe ngừng, tôi nhảy xuống đồng tìm vào một làng tề, bắt liên lạc được ngay với anh em đi về Việt Bắc. Và đoàn thể cử tôi sang đây vừa kịp theo học Lục quân khóa Bảy”.
Hãng ngồi xuống, mọi người biết là bản bổ túc phản tỉnh thư đã hết. Một đồng chí đứng ngay lên cất tiếng nói hằn học:
– Tôi thấy cần chỉnh đốn lại danh từ, lần trước cũng như lần này, đó chỉ là bản bổ túc tiểu sử chứ không phải là bản bổ túc phản tỉnh thư bởi đồng chí Hãng có chịu nêu lên những tội lỗi gì của mình đâu?
– Tôi đồng ý với đồng chí – Hãng đáp – thực ra đó chỉ là những bản bổ túc tiểu sử để các đồng chí căn cứ vào đấy mà chất vấn, giúp tôi tìm ra tội lỗi. Sở dĩ tôi không bộc lộ tội lỗi vì tôi chưa nhìn thấy tội lỗi của tôi đâu cả.



























































































