Trung Dũng, ngụ ngôn, mới


Du Tử Lê

Cuộc họp mặt của chúng tôi gồm Ða Mi, T., Sóc, Ðình Nguyên, Trương Anh Tuấn, Huỳnh Quang Vũ,… cuối cùng cũng đã có được một bất ngờ thoải mái – – Khi Ða Mi thu xếp được với các nhân viên nhà hàng, cho chúng tôi một phòng riêng, trên lầu, để hút thuốc.

Và, một bất ngờ thoạt tiên nhuốm nhiều lo lắng… Nhưng rất mau chóng biến thành những trận mưa tâm tưởng riêng cho từng hiện diện. Ðó là lúc Ða Mi yêu cầu mọi người ngưng nói chuyện, để lắng nghe bạn ông đọc thơ.


Nhà thơ Trung Dũng. (Hình: FB)

Người đàn ông bề ngoài bụi đời, bậm trợn, được mô tả là một trong những người trình bày sách nổi tiếng trong giới làm bìa sách ở Saigon, cất tiếng.

Bằng giọng đọc nặng âm hưởng miền Trung (?), không dễ nghe lắm, nhưng chậm rãi, rõ từng chữ, người đàn ông tương đối xa lạ với nhiều bạn cùng bàn, bắt đầu bằng bài “Thừa…”

“Em thừa ra một mình anh
Hạt mưa thừa hạt mưa thành cơn mưa
Năm thừa ra phút giao thừa
Chia tay thừa cuộc tiễn đưa cũng là…
Ta thừa ra một mình ta
Một mình ta vẫn thừa ra… một người.”

Tôi tin mỗi người ngỡ ngàng theo cảm thụ riêng của mình, khi nhận được trận-mưa-ngụ-ngôn những “thừa ra” của “một mình ta vẫn thừa ra… một người.”

Người đàn ông có dáng vẻ bậm trợn bề ngoài, dứt tiếng. Ông quơ tay tìm gói thuốc lá. Châm thuốc. Căn phòng dường cũng lặng đi, chìm sâu trong cơn mưa – – Tựa nó cũng thấy nó “thừa ra” trong một hoạt cảnh xã hội mà, tình nghĩa cũng bị lãng quên, bị phủ nhận: “Em thừa ra một mình anh”…

Người cúi xuống bàn tay trơ trọi, tênh hênh trên mặt bàn. Người kín đáo nhìn nhau. Tôi bắt gặp ánh mắt của T. (ngồi xa). Tôi hiểu T. muốn nói gì đó…

Vẫn Ða Mi lên tiếng trước, như muốn xua đi cơn mưa của “năm thừa ra phút giao thừa” bằng yêu cầu người bạn thi sĩ của ông, cho nghe thêm một vài bài thơ nữa.

Người đàn ông từng khẳng định, ngay khi chỉ có một mình, ông vẫn thấy… thừa ra một con người nào đó. (Con người khuyết tật? Con người bất lực trước cuồng phong xã hội, dập vùi ?) – – Có cảm nhận được sự nôn nóng của bằng hữu, muốn được nghe thêm thơ của ông? Chỉ biết, ông chậm rãi “kéo” thêm vài hơi thuốc, với khuôn mặt và, đôi mắt lơ mơ (tựa lạc lõng) ngước nhìn trần nhà…

Lần này, ông nói vắn tắt ít câu, trước khi đọc thơ. Ông bảo, vẫn là những đoản thi nói về mưa. Nằm trong bài “12 hột mưa” – Nhưng ông chỉ gửi mọi người một vài, trong số mười hai hạt mưa ấy:

“Sài Gòn đáng lẽ mưa to
Nhưng bên khí tượng chỉ cho mưa vừa”

Hỏi: răng chừ Huế không mưa?
Ðáp: nha khí tượng bảo – chưa tới giờ.”

“Hồn rừng, tục bản, tình buôn…
Ðã trôi theo trận mưa nguồn về kinh.”

“Sài Gòn sót mấy con ve
Cũng bày đặt dấu mùa hè trên cây
Chiều qua có một đám mây
Rơi bên Gia Ðịnh mang đầy hột mưa”

“Sài Gòn mưa 9 hạt mưa
Hạt 10, 11 chắc chừa ngày mai
Có người bảo tớ đếm sai
Nhà Bè rơi hạt 12 lâu rồi
Dzậy mà cũng bày đặt đếm.
Haaaa…”

Ðó là thơ của một người trẻ làm thơ, tên Trung Dũng. (*)

Ghé tai Huỳnh Quang Vũ, tôi hỏi Vũ có nhận ra lục bát Trung Dũng có những câu thiếu chữ? Và, những câu nói trần trụi đời thường? Vũ gật đầu. Tôi nói, với tôi, những khấp khểnh, trúc trắc này, tựa những dòng nước đang xuôi, bỗng bị khựng lại vì một vật cản lớn… Ta cũng có thể ví chúng như những khuyết tật hay, dị dạng của hoạt cảnh đời sống xã hội hôm nay. Và thêm:

-Khi một xã hội bị quá nhiều băng hoại, phá sản nhiều lãnh vực thì, thơ trào phúng hay ngụ ngôn sẽ hiện ra. Như một phản ứng tiêu cực của các thi sĩ. Những bài thơ có thể không có tên tác giả. Nhưng nó là một thứ lịch-sử-đường-phố hay, lịch-sử-lề-trái.

Tuy nhiên, nếu thơ trào phúng là loại thơ châm chích, chế diễu cái rởm, cái mục nát thời thế; mang nụ cười đến cho người đọc một cách trực tiếp thì, đặc tính của thơ ngụ ngôn lại là những ẩn dụ, mỉa mai một cách bóng gió. Cần một trái tim nhậy cảm. Tuy hai loại thơ có chung đặc tính hài hước, nghĩa là ngụ ngôn cũng mang đến cho người đọc những nụ cười – – Nhưng lại là những nụ cười điếng, lặng! Những nụ cười héo hắt, ngậm ngùi thắt ruột! Nó là một thứ nước mắt khô. Chảy ngược về tim: Như ngụ-ngôn-trung-dũng.

Gần đây, nhờ công sưu tầm của T., tôi mới biết, ngụ-ngôn-trung-dũng không chỉ tức nghẹn những giọt lệ lăn ngược về tim mà, chúng còn lấp-lánh-chua-xót ở những thể thơ khác, như bốn, năm chữ. Hoặc nhiều hơn:

“Vừa bước vào nhà
Cái bóng biến mất
Chưa kịp tháo ra
Ðể mang đi cất…”

“Ngắm cái bóng dưới nước
Chợt gương hồ lung linh
Thì ra là có đứa
Ném sỏi vào mặt mình.”

“Người trong gương là mình
Thằng soi gương là ai
Ðôi khi cóc cần biết
Mà sao vẫn thở dài?”

“Cái nhớ ở trong tim
Vắt ráo hai con mắt
Cứ dày dày vò vò
Như là trong máy giặt.”

Cũng nhờ sưu tầm của T., gần đây tôi còn được đọc một loạt thơ ngụ-ngôn-trung-dũng phản ảnh rõ nét hơn lịch-sử-lề-trái đất nước. Như:

“Ðất nước đã bày lên sạp chợ
Dao thớt phân chia: lòng-sườn-nạc-mỡ…”

“Ðất nước ngoảnh lại ngó cổng làng
Mặt rất buồn, đất nước lang thang…”

“Ðất nước bỏ đi đâu biền biệt
Hỏi ai cũng lắc đầu: không biết!!!…”

“bị nhiều vết tẩy xóa
Tấm bản đồ rất đau
Lịch sử ai bôi bẩn
Bằng những bệt mực Tàu?”

“Ðất nước phá rừng, chặn dòng, xả lũ…
Ngồi đánh cờ không biết chỗ ‘sang sông’…”

“Trưa nằm mơ thấy người Giao Chỉ mặt buồn vác hột thóc trên lưng
Cái nông chống cuốc, (Cái nông đứng chung với cái cò cái vạc)
Ngoảnh mặt nhìn cái đói bỏ làng đi.”

“Ðất nước ai cũng kêu thiếu nước
Ðến sương mù cũng nhiễm mặn có lạ không?”

“Khi đất nước kết thân với giặc Tàu
Những vết thương trong tiền kiếp rất đau.”

(Vân vân…)

Viết tới đây, tôi thực sự không thấy cần phải chú thích bất cứ một điều gì về những bài thơ ngụ-ngôn của Trung Dũng. Bởi vì ngụ-ngôn-trung-dũng đã chính là lịch-sử-lề-trái của con người, đất nước Việt Nam. Hôm nay. Chúng là âm bản của một thời đại mà, chỉ có rung động tự trái tim mới thẩm thấu hết được.

Ðể kết thúc bài viết ngắn này, tôi cầu xin bình an cho thi sĩ, như vẫn thầm cầu xin điều tương tự cho những người bạn trẻ khác.

(California, Tháng Năm 2016)

———-

(*) Dường như để tránh sự nhầm lẫn bút hiệu với những “Trung Dũng” khác, nhà thơ/họa sĩ Trung Dũng thường có thêm 3 mẫu tự đi kèm sau hai chữ “Trung Dũng”; thành “Trung Dũng Kqđ.” Tôi nghĩ phân biệt hay nhấn mạnh này, không cần thiết. Bởi vì, chỉ cần đọc dăm ba câu thơ hay, xem đôi ba bìa sách của ông thì, dù không ký tên, giới thưởng ngoạn vẫn nhận ra ông. Bởi ông: Duy nhất!!!


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Vĩnh Quyền, nhà văn vượt trên chính mình

Có người hỏi tôi, đâu là lý do đưa tôi tới cụm từ (thậm xưng): Vĩnh Quyền một “tín đồ sẵn sàng ‘tử đạo’ chữ nghĩa?”

Tháng Hai-Ba và Thiếu Tá Phạm Văn Hồng

Là kẻ rất muộn màng, tôi thấy hiện lên hình ảnh của anh Phạm Văn Hồng qua nhiều phóng sự đã được rất nhiều người xem... Và hôm nay thì bao nhiêu hình ảnh cũ liên quan tới anh lại hiện về...

Cả mùa xuân hương – thơ Mặc Phương Tử

Bốn mùa như thế... chuyện đầy vơi./ Non xanh mây nổi hình vân cẩu/ Ráng đỏ chiều nghiêng giấc mộng đời

Nắng Mùa Xuân – Thơ Trần Vấn Lệ

Hôm qua nắng/ và hôm nay cũng nắng!/ Nắng mùa Xuân/ Mồng Bốn Mồng Năm!

Tản mạn về ngày Tết Nguyên Đán

Chẳng biết tự bao giờ người ta chia ra một năm gồm có bốn mùa và bao giờ mùa Xuân cũng là mùa mở đầu và là mùa đẹp nhất. Mùa Xuân được đánh dấu và bắt đầu bằng Tết Nguyên Đán.

Lời của mùa Xuân – thơ Nguyễn Minh Phúc

nghe tiếng ai cười ngoài ngõ/ tưởng mùa xuân ngập ngừng sang/ cành mai thẹn thùng đón gió/ mây trôi đầy giấc mơ màng

Trần Tuấn Kiệt và bộ Thi Ca Việt Nam Hiện Đại

Năm 1973, nhà văn Nguyễn Đông Ngạc thực hiện một cuốn sách “lịch sử” “Hai Mươi Năm Văn Học Việt Nam, 1954-1973,” sách vừa xuất bản thì Miền Nam cũng rơi vào chương kết thúc.

Về quê ăn Tết với cái bụng đói

Nhớ cái thời “ăn độn” thập niên 80, có những cái Tết đầy khó khăn, thiếu thốn đã để lại trong tâm khảm tôi dư vị thật chua chát, nay ngồi chợt nhớ lại mà không khỏi chạnh lòng áy náy, sượng sùng, tội nghiệp cho chính mình...

Hoài niệm Tết xưa trên miền quê Lục Tỉnh

Không gì thú vị trong dịp Tết bằng những ngày trước Tết, nhất là ở miền quê xưa, nơi lưu giữ đậm nét phong vị của văn hóa cổ truyền.

Tuyển tập thơ Tô Thùy Yên

Nhà thơ Tô Thùy Yên vừa cho phát hành tập thơ mới nhất của ông: Tô Thùy Yên - Tuyển Tập Thơ vào cuối năm 2018. Đây là một tập thơ bìa cứng, trang nhã và đơn giản.