Vàng Ðen (Kỳ 5)


LTS:
“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (”vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323)722.4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 5


 


Tin chắc người đàn bà không có tiền, một tên có vẻ dễ chịu nhất trong bọn nói:


“Thôi được, bà theo chúng tôi, cách mạng sẽ cho bà một bữa cơm rồi bà tự lo liệu lấy.”


Người đàn bà lẽo đẽo theo sau những tên cán bộ, vở kịch đời ma mãnh vừa được hạ màn, người kịch sĩ giỏi, tồn tại lại được với sự đào thải của dòng đời. Vở kịch cô Lụa vừa đóng đã lấy hết tất cả sinh lực cuối cùng của cô, người cô nhũn ra, chân lê không muốn nổi. Từ nửa đêm, hừng sáng cho đến giờ, cô đã vật lộn với cái chết một cách hung hãn, sau khi đốm lửa của trái B 41 làm nổ tung đuôi chiếc ghe tam bản, cô cùng gia đình dùng để lặng lẽ vượt sông trốn qua Thái Lan tìm tự do.


Mọi chuyện chắc như ăn bắp, chỉ vượt con sông, chỉ cần hai chục phút, nhưng chuyện không ngờ nhất đã xẩy ra cho chính gia đình của cô, hứng nguyên trái B 41. Cô chỉ nhớ đốm lửa, tiếng nổ, chồng cô, con rể, con gái cùng hai đứa cháu nội bắn tung lên theo đốm lửa, cô ngất ngay vì sức công phá, hơi ép của trái tạc đạn.


Không biết bao lâu cô ngất đi, chắc cũng chỉ vài phút, vì khi cô tỉnh dậy nhờ hơi lạnh của nước sông, cô nghe tiếng lao xao, có bóng ghe đang rà đèn pin lục soát trên mặt nước khá xa. Những tiếng lao xao, cô nghe mù mờ qua tai vì tai của cô lùng bùng, lạo xạo như có tiếng chân ai đang đi trên sỏi. Trái B 41 ác nghiệt như phá vỡ màng nhĩ, người đau như dần nhưng cô không dám lên tiếng rên rỉ, cô chỉ nhận thức được chồng cô, con rể của cô đã cản hết tất cả sức phá của trái đạn. Ðầu mũi ghe dập dềnh nổi trên mặt nước, len vào đám lục bình rồi trôi theo dòng nước đã cứu thoát cái thân xác phì nộn của cô khỏi bàn tay những tên Pathet Lào.


Lâu lắm, cô không biết được bao lâu, tất cả dạt vào một cồn đất với đầy lau sậy, nước triều đang xuống. Trí óc cô làm việc dữ dội, phải giải quyết ngay mũi ghe, cô đẩy, cô kéo, cuối cùng mũi ghe cũng trôi ra được đến giữa sông và lại lặng lẽ lên đường. Trước hay sau, thể nào cô cũng chạm trán với tụi Pathet Lào, phải tìm ngay ra lời giải thích cho hợp lý dù hình ảnh nổ tung của gia đình cô, trước đó vài giờ đang bóp chặt trái tim cô.


Lần mò quanh người, không có đến một vết thương, tay cô sờ đúng một vật cồm cộm bên hông, hai chục tờ giấy một trăm Mỹ kim vẫn nằm trong giải lưng quần, kẹp chặt bởi một chiếc kim băng. Trước khi đi, cô đã cẩn thận chia cho mỗi người hai ngàn Mỹ kim để đề phòng trường hợp thất lạc nhau. Món tiền vẫn còn đó, cả gia đình cô tan nát, biến vào hư không. Phải làm sao dấu ngay số tiền, tụi Pathet Lào thể nào cũng lục soát, tiền mất không đáng kể, chỉ sợ chúng phăng ra chuyện vượt sông, biết cô là ai.


Sau khi ăn xong nắm cơm nếp trắng với mắm pà đẹc (mắm cá của người Lào) lót lòng do đám bộ đội cho, cô vội vã, tất tả xin phép chúng để đi tìm người quen. Cô sẽ đến thẳng nhà cô Hai, con dì, con cậu với cô, nơi cô và cả gia đình đã ở nhờ hơn hai tuần lễ và mới rời khỏi trước nửa đêm vừa qua.


Hơn năm năm sống dưới chế độ Pathet Lào, kể từ ngày miền Nam Việt Nam sụp đổ, cả gia đình cô cảm thấy càng lúc, càng khó khăn. Chuyển được một số Mỹ kim vô cùng quan trọng sang Thái Lan, gia đình cô đã từ Vạn Tượng xuôi Nam xuống Sà Vằn để tìm lối vượt biên, vì nơi đây không một ai biết đến gia đình của cô, ngoại trừ gia đình người em gái họ giầu nứt đố đổ vách, cô đã lưu lại ở đấy cho đến đêm qua.


Bước thấp, bước cao, cô hỏi dò đường bằng tiếng Lào với những người bản xứ đường về nhà cô Hai. Trong lòng cô chỉ còn trộn lẫn sự tan nát về hình ảnh tối hôm qua cùng sự sôi sục muốn biết ngay tin tức của cả gia đình.


Cô Lụa cảm thấy thật khó chịu với chính cô, khi cô cố thu nhỏ cái thân xác phì nộn của cô lại để len lén đến trước cửa nhà cô Hai, hầu tránh sự để ý của những người hàng xóm chung quanh. Gõ nhẹ cửa đến lần thứ hai, cô mới nghe trong nhà có tiếng dép lệt sệt, rồi cánh cửa hé mở, một cánh tay kéo tuột cô Lụa vào trong nhà, căn nhà ba từng ngay phố chính của Sà Vằn, mặt hướng về phía sông Cửu Long và xa hơn nữa, bên kia bờ, trên lầu cao của nhà cô Hai, vẫn có thể nhìn thấy rất rõ xe cộ qua lại nơi xứ Thái. Nơi đấy, chỉ cách một dòng sông, cả gia đình cô Lụa đã coi như miền đất hứa từ những ngày trước. Hai chị em họ đứng nhìn nhau, nước mắt vòng quanh.


“Em không ngờ chị thoát được.”


“Trời Phật còn độ trì cho chị. Em nghe được những gì, cứ nói cho chị nghe. Ðừng dấu chị.”


Biết người chị họ là một người cứng rắn, không cứng rắn đã không thể làm chủ thầu buôn thuốc phiện cả hai chục năm qua, cô Hai chẳng dấu điều gì cô biết được, từ chuyện lính Pathet Lào bắn chìm ghe tam bản, vớt được một người đàn ông duy nhất, con rể của cô Lụa, đến việc người ấy bị thương ra sao, cùng việc Pathet Lào kéo ra giữa chợ để mất máu chết thế nào, nhất nhất cô Hai đều kể lại.


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Truyện chưởng Kim Dung của Trần Văn Tích: Từ hư cấu đến hiện thực

Dựa theo bối cảnh, sự kiện cũng như các nhân vật trong truyện chưởng Kim Dung, tác giả Trần Văn Tích lần lượt nêu lên nhiều chi tiết lý thú

Tại sao vĩ tuyến 17 mà không là vĩ tuyến khác?

Lê Công Tâm đã mang ra ánh sáng tại sao Việt Nam lại bị vĩ tuyến 17 chia đôi, phân cách mà không phải là một vĩ tuyến khác? Thí dụ 15 hay 18?

Viễn Châu và bài ca vọng cổ ‘Chim Vịt Kêu Chiều’

Dân đờn ca tài tử rất thích học bài “Chim Vịt Kêu Chiều” bởi vì đây là bài ca vọng cổ có xen vào nhiều lớp kịch.

‘Hồng bay mấy lá…’

Một bài thơ của Tản Đà, không có nhan đề, đúng ra nhan đề bài thơ ấy đã được dùng làm nhan đề cho cả cuốn sách, in ở ngoài bìa: hồng bay mấy lá

Tháng Ba, Đà Nẵng và Em – thơ Lê Tấn Dương

Ta vẫn nhớ thương về nơi ấy/ Những chiều nắng nhạt Ngũ Hành Sơn/ Nhớ đỉnh Sơn Trà trong gió lộng/ Tiếng oán than như tiếng gọi hồn.

Lê Công Tâm ghi nhận được những gì qua Hiệp Định Geneva 1954?

Luật Sư Lê Công Tâm cho rằng, ông thật may mắn khi có thể truy lục được các tài liệu liên quan về lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử cận đại.

Bài vọng cổ xưa ‘Nỗi Lòng Nàng Khương Nữ’ của Huỳnh Thủ Trung

Đến giữa thập niên 1950, soạn giả Huỳnh Thủ Trung đã dựa theo trang tình sử bi thảm của nàng Khương Nữ tìm chồng viết lên bài vọng cổ 12 câu

Nhìn lại một tạp chí miền Nam: Hiện Đại

Trong năm 1960 miền Nam Việt Nam xuất hiện tới ba tạp chí văn chương: Hiện Đại xuất bản vào Tháng Tư, tới Thế Kỷ Hai Mươi, và Sáng Tạo.

Tình muộn – thơ Thọ Khương

Giọt mưa buồn thánh thót/ Thu vàng gợi tình xưa/ Lá rơi chiều cúi mặt/ Thầm lặng đời lay đưa

Hành Tây Bắc – thơ Lê Tấn Dương

Ta đã lưu phương Tây Bắc này/ Hai sáu mùa, theo lá thu bay/ Hết năm, Xuân đến, hoa đào nở/ Mới thấy cuộc đời lắm đổi thay.