Đọc ‘Người Đạp Xe Vào Thành Phố Buổi Sáng’ của Hoàng Ngọc Biên

Trần Doãn Nho/Người Việt

Nhà văn Hoàng Ngọc Biên vừa từ giã chúng ta vào ngày 16 Tháng Năm, 2019, tại San Jose, California, thọ 81 tuổi.

Tưởng niệm nhà văn tài hoa này, Thận Nhiên, một tác giả hải ngoại, viết: “Truyện của Hoàng Ngọc Biên, giọng văn của ông, bút pháp của ông, không khí văn chương của ông, không lẫn với ai. Tôi nghĩ, với bốn truyện ‘Chuyến Xe,’ ‘Đêm Ngủ Ở Tỉnh,’ ‘Thành Phố Dốc Đồi,’ ‘Người Đạp Xe Vào Thành Phố Buổi Sáng’ là đủ cho ông có một vị trí riêng trong văn xuôi đương đại Việt Nam. Trào lưu tiểu thuyết mới mà ông từng theo có lẽ không hấp dẫn độc giả đại chúng, tuy nhiên văn của ông là một mẫu mực đáng để cho tôi, và không chừng, cho những người viết trẻ hôm nay tham khảo.”

Cách đây đúng hai năm, trong một bài viết trên Người Việt, Tháng Sáu, 2017, về Alain Robbe-Grillet, cha đẻ của trào lưu “tân tiểu thuyết” Pháp, tôi cũng có nhắc đến Hoàng Ngọc Biên, người đã giới thiệu trào lưu này vào văn học miền Nam, và hứa sẽ viết một bài về ông. Lần này, xin giới thiệu một truyện ngắn tiêu biểu, “Người Đạp Xe Vào Thành Phố Buổi Sáng.”

Đây là một sáng tác ít nhiều chịu ảnh hưởng của trào lưu “tân tiểu thuyết.” Truyện khá ngắn, chỉ hơn 4,000 chữ. Gọi là truyện, nhưng không có cốt truyện và lại giống như một tùy bút. Thông thường thì người ta dùng văn để viết truyện. Ở đây, Hoàng Ngọc Biên dùng truyện để viết văn. Đúng hơn, ông viết văn mà không cần truyện.

Ông sử dụng lối văn tường thuật, soi rọi và diễn tả những chi tiết lỉnh kỉnh từ đầu đến cuối, chẳng có một biến cố hay một sự kiện nào gây nên ấn tượng. Thay vì tạo ra cảm xúc mạnh của một câu chuyện, Hoàng Ngọc Biên cho ta cảm giác chìm vào và trôi đi theo nhịp chữ, tưởng như đang bơi theo con nước chảy trong một giòng sông.

Truyện bắt đầu như thế này: “Người đàn ông đạp chiếc xe cũ sơn màu lá cây xanh đi trên con đường gần nhất về thành phố. Chiếc xe đạp sơn màu lá cây xanh, nhưng vào giờ này của buổi sớm mai, không ai nhận ra được màu của nó. Người đàn ông thỉnh thoảng đưa mắt nhìn hai bên đường, nhưng chân ông vẫn tiếp tục đạp thật đều, không nhanh lắm, bởi vì ông không đủ sức, có lẽ thế, và chắc chắn ông không có ý để cho xe chạy chậm hơn nhịp đang bình thường của mình một tí nào.”

Người đàn ông là nhân vật duy nhất của câu chuyện, không tên, không tuổi. Qua một số chi tiết nằm rải rác đâu đó trong toàn chuyện, ta có thể tìm thấy “lý lịch” sơ sài của nhân vật này như sau: Ông ta có da  ngăm đen, sạm nắng, hai gò má cao và hóp. “Ông giống như một người lính già bại trận, nhưng thật ra, ông chưa bao giờ đi lính.” Vợ ông bán hàng ở chợ làng, đẻ cho ông tám đứa con, bảy trai, một gái. Trong số con trai, những đứa lớn đã chết trận, còn những đứa khác đã phải bỏ nhà đi làm ăn xa, chỉ đứa con trai út còn nhỏ là ở nhà với hai vợ chồng ông, mà ông “không đành để chết trận nữa.” Đứa con gái độc nhất mà “vợ chồng ông còn có thể cố gắng cho đi học” nhưng rủi thay, đã bị xe cán chết hai năm trước.

Đi làm, ông ăn mặc xuềnh xoàng, đầu đội một chiếc mũ nhà binh đã bạc màu, nhưng chưa rách, mặc một chiếc áo xanh, cũng đã bạc màu, bên ngoài khoác thêm một chiếc áo len nhà binh có nhiều lỗ rách, rất ngắn, còn quần cũng thì không rõ là màu gì. Chiếc xe đạp ông đi rất cũ, vành xe, cũng như tay lái và cản chắn bùn đều có màu xanh lá cây rẻ tiền được sơn đi sơn lại hàng chục lần. Tóm lại, ông là một công nhân nghèo, ngày hai buổi đạp xe vào thành phố làm việc để nuôi gia đình.

Truyện tập trung vào việc mô tả mọi chi tiết một cách khá khách quan y như thể ta cầm chiếc máy ảnh ghi lại mọi thứ, mọi sự diễn ra chung quanh vào ống kính, và được chắt lọc qua một giọng văn nhiều hình ảnh, sâu lắng. Trước hết, là cảnh ông đạp xe đi; kế đến là cảnh vật và sinh hoạt ông nhìn thấy trên đường và đan xen vào đó là những cảm nghĩ vụn vặt của ông về gia đình, về cái nghèo, về hoàn cảnh sống bấp bênh của họ khi một sự vật nào đó được nhìn thấy, gợi lên. Suốt truyện, có những hình ảnh được lập đi lập lại nhiều lần: người đàn ông, chiếc xe đạp, người đàn bà (vợ ông), mặt trời, con đường đi.

Hãy đọc qua vài trích đoạn tả khung cảnh trên con đường đi: “Bây giờ ông đã bắt đầu tránh được những chỗ có mu rùa, hay ổ gà. Phía sau thành phố mà ánh đèn bắt đầu mờ dần, mặt trời đỏ như đã muốn báo hiệu ló dạng. (…) Hai bên đường, cây cỏ trong các vườn bỏ hoang cuối cùng vừa hiện mù mờ một màu đỏ thẫm thì ông đã bắt đầu đi vào một xóm đông dân cư. Các khu nhà chung quanh cửa hãy còn đóng kín, xám đen dưới chân trời đang bắt đầu ửng hồng. Từ một vài chiếc cửa sổ nhỏ hắt ngang ra những ánh đèn vàng hiếm hoi, những vệt sáng nhợt nhạt kéo dài trên cả quãng đường vắng ngắt bắt đầu hẹp dần mà người đàn ông đang đi qua.”

Cảm nghĩ về người vợ ở nhà: “Người đàn bà bây giờ đang len lỏi giữa chỗ đông người, đưa gánh trước vạch một đường nhỏ để tìm đến một chỗ xa nhất trong góc chợ. Da bà ngăm đen, sạm nắng, hai gò má cao và hóp không làm cho cả khuôn mặt gầy kia yếu đuối đi, trái lại. Bà đội một miếng vải trắng trên đầu, thay cho miếng vải sọc vuông cũ của bà: có lẽ bà đang muốn cứ vẫn để tang cho người con trai lớn vừa tử trận? Bà mặc một chiếc áo dài đen, nhưng sẽ không ai thấy được đó là màu đen, bởi vì áo đã bạc màu.”

Mãi đến hơn nửa truyện, ta mới thấy một sự kiện tương đối có ý nghĩa: công nhân hãng ông làm đang đình công. Dẫu vậy, tác giả không tập trung nhiều vào cảnh đình công, mà vào tâm trạng không vui của người đàn ông trước cảnh này. Lúc đầu, người đàn ông không muốn tham gia, nhưng cuối cùng, ông cũng phải nhập vào với họ một cách miễn cưỡng. Vì ông “đã bị đặt trước một việc quá khó xử, bởi vì ông còn có một mái nhà phải giữ cho khỏi sụp, một gia đình phải nuôi sống, đặc biệt là đứa con trai sau cùng, đứa con còn lại trong tám lần sinh nở của vợ ông – đứa con mà ông không đành bỏ cho chết trận, như những đứa khác.” (…)  “Ông nhìn bãi cỏ lúc nhúc những đầu người, nhìn những bực thềm đã bị choán hết chỗ, nhìn tòa nhà lớn và những tòa nhà khác trong xưởng máy, và ông có cảm tưởng lo âu như sắp đánh mất một cái gì, một cái gì mà ông vẫn bấu víu vào để sống đến ngày nay.”

Buồn bã và thất vọng, ông đạp xe ra về.

“Ông không tìm thấy ai, và mặt trời thì sắp lặn mất, sau những mái nhà thấp nhất của thành phố. Một cơn gió dường như đang thổi tới, trước khi ông có cảm tưởng một cơn mưa sắp đổ xuống trên thành phố này. Không có cơn gió nào đang thổi tới, đó là sự chờ đợi. Khi người đàn ông đạp chiếc xe đạp cũ sơn màu lá cây xanh đến quãng đường trước các khu vườn bỏ hoang, thì cơn mưa chiều bắt đầu đổ xuống, nhưng ở đây mặt trời vẫn tiếp tục chiếu thẳng vào ông.”

Một ngày trôi qua đi hoàn toàn vô ích và vô nghĩa.

Hoàng Ngọc Biên không hư cấu nên một câu chuyện, nhưng qua diễn tiến của một ngày hơi khác mọi ngày, ông phác họa khá đậm nét khung cảnh của cả một thời kỳ trong đó chiến tranh, nghèo đói, mất mát và tương lai bất định đã chi phối cuộc sống của một gia đình bình thường. Có thể nói, ông vẽ nên một nỗi buồn, riêng nhưng rất chung, lặng lẽ và sâu lắng.

Hoàng Ngọc Biên đã rời bỏ chúng ta, nhưng văn chương ông vẫn ở lại. Xin thắp một nén hương lòng, dẫu muộn, cầu chúc ông ra đi thanh thản.

***

Hoàng Ngọc Biên sinh năm 1938 ở Quảng Trị. Ông vừa là nhà biên khảo, nhà văn, nhà thơ, dịch giả, họa sĩ, tác giả của nhiều tập thơ, tập truyện, tranh vẽ, công trình biên khảo được nhiều người biết từ khi còn ở Sài Gòn trước năm 1975.

Về hội họa, ông đã triển lãm tranh ở Viện Đại Học Đà Lạt, Viện Goethe, Pháp Văn Đồng Minh Hội, Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, cũng trước năm 1975. (Trần Doãn Nho)

Chú thích:

-Thận Nhiên, đọc “Đêm Ngủ Ở Tỉnh” của Hoàng Ngọc Biên (www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=20270)

-Trần Doãn Nho, Alain Robbe-Grillet, cha đẻ của trào lưu ‘tân tiểu thuyết’ Pháp (www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/alain-robbe-grillet-cha-de-cua-trao-luu-tan-tieu-thuyet-phap/)

Video: Tin Trong Ngày Mới Cập Nhật

Copyright © 2018, Người Việt Daily News

Lưu ý: Để mở âm thanh, xin bấm vào nút muted icon imagephía góc phải bên dưới của khung video.
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT