Kiểm điểm các tập thơ tuyển Việt Nam

Viên Linh/Người Việt

Thi sĩ Trần Tuấn Kiệt. (Hình: Viên Linh cung cấp)

Nhiều năm trước, vào những ngày đầu năm mới Quý Tỵ, Tháng Hai, 2013, một dự án Tuyển Tập Thơ Việt được bàn thảo, dự trù sẽ hoàn tất trong vòng hai năm.

Như thế ta sẽ có những bài thơ chọn lọc của 90 năm thơ Việt trong một bộ sách lớn. Cũng sẽ có câu hỏi: Từ xưa tới nay đã có ai làm được một tuyển tập thơ Việt Nam bao gồm một thời kỳ dài như thế chưa? Hay đó chỉ là mơ mộng?

Tới nay 2018 dự án sẽ là Tuyển Tập 100 Năm Thơ Việt.

Hãy kiểm điểm, chúng ta sẽ có câu trả lời.

Sách viết về thơ có khá nhiều, song vừa trích vừa phê bình, lại là thứ phê bình phán xét mà người phán xét không đề ra một phương pháp nào, không xuất thân từ một ngành văn chương ngôn ngữ nào, lại cũng không là thi sĩ không làm thơ, lại mang thi pháp, chữ nghĩa ra khen chê các thi sĩ.

Như kiểu Vũ Ngọc Phan ca ngợi Nguyễn Giang (tác giả câu thơ “Đường không tịch mịch cỏ hoa rêu”), hay Hoài Thanh-Hoài Chân qua Thi Nhân Việt Nam, loại bỏ Đinh Hùng để ca ngợi những Mộng Huyền, Lưu Kỳ Linh (mươi mười năm sau ai biết đến những Giang, Huyền, Linh – chứng tỏ sự chọn lựa đã sai lầm, đương nhiên nó không tồn tại nổi với thời gian).

Rồi ở trong nước trước kia cũng như bây giờ, có những cuốn tuyển tập thơ mà soạn giả không có chút quá khứ nào đáng kể về thơ, chưa từng làm được một bài thơ khiến cho độc giả nhớ đến, mà viết sách phê bình thơ, soạn sưu tập thơ, những trường hợp đó có thể là có một số giá trị về tìm tòi, phát giác riêng lẻ.

Một tuyển tập do đó không nên theo chủ đề, chỉ nhằm mục đích sưu tập những bài thơ điển hình của các thi sĩ, cố gắng quy tụ càng nhiều tên tuổi càng nhiều khuynh hướng càng tốt, đặng đời sau có một kho tàng thi ca phong phú, người thưởng ngoạn nhìn vào, đọc đến, có thể hình dung ra thời đại tác giả, đó là điều thật đáng mơ ước.

Kiểm điểm chung các sách bàn về thơ trong quá khứ, ta thấy như sau:

-Nhà Văn Hiện Đại, Vũ Ngọc Phan, quyển nhì về thơ viết về bốn người, quyển ba viết về 10 người. Biên soạn khoảng 1941, xuất bản 1942.

-Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh-Hoài Chân, 1942. Viết về 26 người.

-Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại, Phạm Thanh, Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, 1959. Viết về 58 người.

-Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, cuốn 3, “Thơ và các nhà làm thơ sau 1932,” phân tích kỹ thuật Thơ Mới, Phạm Thế Ngũ, Sài Gòn, 1965.

-Kim Văn Tân Tuyển, Phạm Thế Ngũ, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1966. Phần thơ có 20 người trước và sau 1932.

-Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng, Sống Mới, Sài Gòn, 1967, hơn 30 người.

-Những Hàng Châu Ngọc trong Thi Ca Hiện Đại (1933-1965), Huy Trâm, Sáng xuất bản, Sài Gòn, 1969. In nguyên văn thơ của hàng chục thi sĩ, trích dẫn tới trăm người.

-Những Nhà Thơ Hôm Nay, Nguyễn Đình Tuyến, Sài Gòn, 1967, viết về 36 người. Cuốn này có ghi chú là “Tự Điển Tuyển Hợp,” thi sĩ có thơ được chọn được in lần lượt từ trang đầu sách tới trang cuối sách theo thứ tự chữ cái ABC.

-Văn Học Miền Nam, thơ, Võ Phiến, Văn Nghệ xuất bản, California, 1999. Có 32 người.

Có thể còn một vài công trình nữa, song không có một tổng tập vĩ đại nào – trừ một cuốn, cuốn duy nhất – dày tới 1156 trang, đó là Thi Ca Việt Nam Hiện Đại (1880-1965), tác giả Trần Tuấn Kiệt, do Khai Trí xuất bản năm 1967 ở Sài Gòn.

Thi Ca Việt Nam Hiện Đại (1880-1965), như nhan đề và niên đại, bao gồm thơ Việt xuất hiện trong thời gian 85 năm, cuốn sách dày nhất và tuyển chọn nhiều thơ nhất, của một số lượng thi nhân nhiều nhất. Sách có bìa cứng, khổ lớn, mỗi thi sĩ có thơ tuyển chọn đều được tác giả, nhà thơ Trần Tuấn Kiệt, viết phẩm bình trong khoảng một trang.

Theo sự hiểu biết của tôi, trong các sách vừa kể, tác giả là những nhà giáo, nhà phê bình, người thưởng ngoạn, chỉ có hai nhà soạn sách là thi sĩ chân chính, đó là Huy Trâm và Trần Tuấn Kiệt. Thi sĩ họ Trần người Sa Đéc, sinh năm 1939, như thế khi cuốn sách ra đời, 1967, anh mới 28 tuổi. Chắc chắn anh là soạn giả tổng tập thi ca Việt Nam trẻ tuổi nhất.

Tổng tập thi ca của anh đã được soạn trong quan điểm nào? Xin trích dẫn vài đoạn trong bài Tựa của Trần Tuấn Kiệt, viết trong năm 1967, tương tự như suy nghĩ của chúng tôi bây giờ, và mong rằng các thi sĩ Việt Nam khi đọc những dòng này, sẽ liên lạc và cho chúng tôi ý kiến về một cuốn “Thi Ca Việt Nam Hiện Đại” mới – sẽ được thực hiện “Sách Thi Ca Việt Nam Hiện Đại” in ra để bù đắp vào sự thiếu thốn một quyển sách về thơ ngày nay. Việc làm của chúng tôi trước nhất như thế, sau nữa chúng tôi nhận thấy, gần một trăm năm thi ca, trải qua nhiều thời kỳ, tiếng thơ Việt có nhiều sự xoay chiều đổi hướng, trên địa hạt tư tưởng và nghệ thuật. […]

“Trong quyển này chúng tôi đứng về phía người thưởng ngoạn khi sưu tầm thơ. Khi cảm thông được với nguồn rung cảm chân thành và đặc biệt, từ người từng nổi danh trên thi đàn hay người mới xuất hiện hôm nay, hoặc chúng tôi nhận thấy bóng dáng họ sẽ rực rỡ ở ngày mai, chúng tôi đều ghi tiếng thơ họ vào sách này. Nhưng điều mà chúng tôi đặt trên sự làm việc này, là tuyển chọn thật đầy đủ (các thi sĩ) gần một trăm năm thi ca, gần một thế kỷ gian lao đã qua trên bước đường thơ Việt, một thứ ngôn ngữ thơ làm nền tảng cho lịch sử Việt bền vững. Sức sống mãnh liệt bốc lên trong từng lời thơ, những suy niệm, những chân trời mộng tưởng mà người thơ đã thực hiện được cho nền văn học Việt Nam.” (Viên Linh)

Mời độc giả xem chương trình “Quê nhà quê người” với chủ đề “Món nợ máu và một lời xin lỗi”(Phần 2)


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Những hình thái chiêm bao trong thơ Bùi Giáng?

Thiên nhiên trong thế giới thi ca Bùi Giáng là một thứ thiên nhiên được vẽ ra bởi lý trí và tiềm thức ấu thơ, làm bật nổi những khát vọng

Thanh Nam, giấc ngủ cô đơn

Nhà văn Thanh Nam tên khai sinh Trần Đại Việt, sinh năm 1931 tại Nam Định, Bắc Việt Nam, mất năm 1985 tại Seattle, Hoa Kỳ, vì bệnh ung thư.

Tuồng chiến tranh thịnh hành thời đầu thập niên 1950

Không hiểu do nhận định thế nào về nhu cầu giải trí, mà khán giả cải lương những năm đầu thập niên 1950 lại đổ xô đi coi tuồng chiến tranh.

‘Ánh Trăng’ của Nguyễn Xuân Thiệp – bài thơ như bút ký đời người

Thơ Nguyễn Xuân Thiệp là một làn gió mới thổi vào sinh hoạt văn học hải ngoại đầu 1990. Kết cấu thơ không cách tân thời thượng, nhưng mới.

Thơ Bùi Giáng ảnh hưởng Nguyễn Du, Huy Cận?

Bùi Giáng là một trong những thi nhân cách biệt với đám đông. Tuy vậy, tiếng thơ ông khởi đầu ít phổ cập đại chúng.

Nhân một cái phân ưu

Tháng Giêng, 2019, cũng khoảng tháng này nhà thơ Nguyễn Bính qua đời ngay nơi quê quán Nam Định của ông, nhưng vào năm 1965.

Sân khấu Hậu Tấn với tuồng chiến tranh hiện đại

Đoàn hát Hậu Tấn ra đời đầu năm 1950 và khi gánh Hoa Sen hình thành khai trương bảng hiệu (1951) thì Hậu Tấn rã gánh.

Thơ Trần Vấn Lệ – Ôi Sao Thơ Buồn Vậy

Có bóng bởi có hình...Có hình nên có bóng.../ Anh nhớ em, bất động...sao trời rớt thành sương!/ Em ơi, anh dễ thương...làm thơ như vậy đó...

Mỹ như Tôi

Nhưng nếu tôi cũng thấy không được thoải mái, chính là vì tôi không thể không tự hỏi: Đây là nước Mỹ nào vậy.

Thơ Hoa Nguyên – Cho hết thời lãng mạn

Ta lãng mạn cho hết thời lãng mạn/ Vẽ chân dung mình lên những củ khoai/ Ta lãng mạn cho hết đời bỉ vận/ Thơ về đâu quang gánh ở phương đoài