Lan hồ điệp và truyện truyền kỳ

Viên Linh

Little Saigon mấy ngày nay buổi trưa buổi chiều nóng hơn 100 độ, tôi tả cây hoa y lăng cao vút cho nhà thơ Thành Tôn nghe, đó là hàng cây cổ thụ cả trăm năm mọc bên ngoài bờ tường trường nữ trung học Gia Long Sài Gòn, đó chính là hàng cây hoa y lăng, thứ hoa không bao giờ tàn lụi dưới gốc như hoa gạo hay hoa gì khác, loài hoa này chỉ khô đi, rồi khi rụng, nó vừa lìa cành thì bốn cánh hoa khô cứng xoay tròn trong không, bay xa khỏi cành cây, xoay tít như cái chong chóng, có chiếc bay sang tới Chùa Xá Lợi mới chịu ngưng cánh, rơi xuống.

Thấy bạn có ý lắng nghe, người kể liền có dịp kể tiếp. Cũng không phải chỉ vì trời quá nóng mà chuyện cây cao hoa liệng được đem ra kể, mà vì tôi mới cho bạn bản sao truyện ngắn “Phong Lan” trong cuốn “Thơ Nghiên Hoa Mộng” của Hư Chu in năm 1956, trong có chuyện cây tầm gửi mọc ở trên cành cây hoa y lăng cao nhất trước chùa Phù Ninh, vì muốn hái cây tầm gửi ấy mà một cư sĩ họ Phạm đời Lê đã trượt chân mất mạng. Đây là một câu chuyện thần kỳ, tác giả gọi là truyền kỳ, cây hoa tầm gửi đó là thứ phong lan có tên hồ điệp, hai cánh phía trên to, hai cánh phía dưới nhỏ, đêm nghe ngâm thơ bốn cách hoa đập nhẹ nhàng như con bướm bay, cả chùm hoa như đàn bướm rung động, nếu ngưng đọc thơ thì những cánh hoa cũng ngưng không đập nữa. Lời kể nôm na, phải nhà văn Hư Chu mới tả được thứ hoa hồ điệp mọc bám vào cây cao như thế nào, tôi sao ra một bản cho bạn mang về mà đọc. Bạn sẽ thấy nhà văn xưa tả một nho sinh họ Tống yêu hoa tha thiết đến độ nào:

“Sẵn gặp người bắt ốc [đi tới, Tống sinh] liền thuê gã trèo lên. Cây rất khó trèo, gã nhìn mà sợ. Rồi đó phải thưởng công hai lạng bạc, gã mới cẩn thận bám nhoài từng tấc, cố lấy xuống đưa cho. Tống cầm xem thì là một cây phong lan khác hết mọi cây thấy trước, gốc mọc chia làm 4 dây dài rủ xuống, rễ trắng mềm và óng như tơ, còn lá thì màu tía nhạt, thon như móng tay và mỏng như chất lụa. Nhìn các đốt dây lại thấy đốt nào cũng có nụ hoa nhỏ bằng hột quit, còn ở đầu 4 ngọn lại có chồi non đang sinh. Nhân cho là kỳ thú, liền bỏ bộ dùng thủy, đáp đò dọc về kinh [Hà Nội], cho thân cây khỏi chột.

“Đò ngược rất chậm, lúc đi lúc đậu, nửa tháng mới đến kinh đô. Đến bến, vừa khi hai chục nụ hoa vừa nở hết. Những hoa này đẹp lạ thường mà thơm rất nức. Nói về hương thì mùi thơm xông vài trăm bộ, nửa như cúc, nửa như mai. Còn nói về sắc thì cánh hoa lấm chấm chín màu bốn cánh dưới nhỏ trên to khiến cho ai đứng cách một khoang thuyền cũng phải ngờ là một đàn bướm đậu.” (trang 67).

“…Nhưng đêm ấy, ngồi bên đèn kể sách, bỗng thấy những con bướm phong lan đập đập 4 cánh như là bướm thật. Tống im thì bướm cũng yên. Tống kể thì lại đập. Mấy lần như vậy cả… (trang 68). Một đêm nọ, cây hồ điệp đang sắp tàn hoa, Tống thắp đèn ngồi học thì Tướng công [cũng khách chơi hoa] cho gọi đến bình văn. Vào dinh chưa ngồi nóng chỗ, bỗng nghe báo Tây vương Trịnh Tạc ra hỏi việc Tướng công, Tống sinh bèn vội tránh về. Về đến hiên, chợt trong nhà có tiếng ai gắt nói với ai ở phía căn buồng nhỏ [nơi treo chùm hoa]. Nghi hoặc quá, bèn đi vòng vách mà dòm. Dòm, thì lạ lùng thay, chàng thư sinh [mới quen]… đang đối diện với một cô gái dung nhan diễm lệ cực kỳ,… (tr. 70).

Câu chuyện càng ngày càng ly kỳ: cô gái chính là hoa-tinh (tinh của cây hoa phong lan hồ điệp) còn chàng thư sinh là hoa-tinh của cây lan hướng nhật ở vườn của vị Tướng công. Hai bên cãi nhau vì hoa hướng nhật muốn hoa hồ điệp qua bên vườn vị tướng công cho gần với gã mà hoa hồ điệp không chịu.

“Nàng vùng vằng nói:

-Tôi nghe Tống Uyên Bình kể sách đã quen tai, nay bỏ vào trong ấy với anh thì nhớ lắm!”

Thư sinh như nổi cơn ghen, giận bảo:

-Nàng mê tên họ Tống, sẽ biết tay ta!” (trang 71)

Chuyện còn khá dài, người đọc theo dõi thích thú tuy bắt đầu tự hỏi không rõ đây là sáng tác của nhà văn Hư Chu hay do ông phỏng từ một truyện hay nhiều truyện rồi hợp thành, như ý kiến của nhà thơ Thành Tôn? Có điều truyện khá dài, 22 trang, bối cảnh thời vua Lê chúa Trịnh, và rất có hậu, có tình nghĩa vẹn toàn. Cây phong lan hồ điệp xuất xứ từ cây hoa y lăng trước chùa Phù Ninh, do đó, vì tôn trọng tác giả, người viết tin rằng đây là sáng tác của Hư Chu. Sách lại do chính một cây bút thận trọng là ông Nguyễn Hiến Lê xuất bản, và có ghi mấy dòng ngay ở trang nhất: “Hoa (Phong Lan) [thể văn] truyền kỳ cổ thể.”

Nhà văn Hư Chu tên thật Nguyễn Kỳ Thụy, sinh khoảng năm 1922-23, quê Nam Định, Bắc Việt, dạy học, viết văn, có bài đăng trên báo Việt Thanh từ năm 1953. Ông là tác giả các sách Nam Hải Truyền Kỳ, 1953; Thơ, Nghiên, Hoa, Mộng, 1956; Để hiểu thơ Đường luật, 1958. Từ năm 1958, Hư Chu đã cộng tác với các tạp chí Bách Khoa, Tân Phong. Mất tại Sài Gòn ngày 10 tháng 3, 1973.

Đọc văn ông thấy rõ phong vị cổ xưa, thanh nhã mà ý vị trầm tư. Câu chuyện ông kể có thể cũ, mà văn phong biến đổi, cho dù ông dùng thể văn truyền kỳ hay ma quái. Cảm tưởng của người đọc có thể khác, song đọc để tìm hiểu con người tác giả, người ta sẽ thấy Hư Chu là một thanh niên thế kỷ XX mà có một vốn Hán văn sâu rộng, chứng tỏ ông đã đọc rất nhiều cổ văn, nhất là nếu người ta đọc tác phẩm “Thơ, Nghiên, Hoa, Mộng” của ông: bốn chữ là bốn phần, mỗi phần thể hiện bằng một thể văn do ông đúc kết, viết ra. Phần Thơ, nhân vật là thi sĩ trong bài “Gã Nguyễn, Nàng Thơ;” phần Nghiên, bài văn thuộc thể tiểu thuyết kịch, nhan đề “Cái nghiên mực;” phần Hoa, nhân vật là hoa, những bông hoa, và hoa có đời sống như người, ông gọi là “tinh” khá quyến rũ với sáng tác “truyền kỳ cổ thể” nhan đề “Phong Lan.” Trong phần Mộng là bài “Mộng trung tùy bút.”

Trong “Nam Hải Truyền Kỳ,” ông viết về những chuyện thần bí cổ xưa, còn trong “Thơ, Nghiên, Hoa, Mộng,” ông sử dụng nhiều thể văn, nhiều sự tích, văn chương tươi sáng. (1)

Bên ly cà phê trong khu Làng Ý, kế cận khu Làng Cổ người Đức bên kia đường Center ở Huntington Beach, chúng tôi đưa câu chuyện về cây cỏ. Cây phong lan hồ điệp của Hư Chu có thật hay tưởng tượng? Lại có một loài cây biết đập cánh khi nghe ngâm thơ hay kể sách sao? Cây hồ điệp, hay cây bươm bướm, tên ấy hẳn là do tưởng tượng, mà tưởng tượng được như thề thất là kỳ diệu. Hoa y lăng lúc lìa cành thì đã khô, bay như chong chóng tôi đã thấy, đẹp và có khi gây tiếng động khi chiếc hoa vỡ trên mặt đường, sân gạch. Bạn tôi chỉ vào hai hoặc ba thân cây khô trắng bên đường Newland thị xã Giữa Đàng (cái tên do Phạm Duy gọi), nói rằng những cái cây ấy đã phải “vặn mình” mà sống; cái đó nhìn thấy rõ, từ gốc sát đất, hai ba thân cây cùng một gốc đã không thể mọc thẳng, phải uốn quanh thân nó và quanh mấy nhánh cùng gốc để có thể có chỗ vươn lên, ngang tầm nhau, to bằng nhau. Sự uốn vặn ấy để lại dấu vết trên thân cây, mà lớp vỏ đã bong mất trong sức nóng mùa Hè Cali, phơi ra những thớ gân gỗ trắng trơ xương. Thiên nhiên như thế cũng tự “nói” nhiều lắm.

Như một bài thơ tưởng tượng về cây san hô (hỏa thụ – cây lửa) dưới đáy biển đông bên những xác người:

Hỏa thụ nằm sâu đáy đại dương
Trời trong mặt nước trời vô lương
Ẩn xanh tần thủy vài cây đỏ
Dạo cảnh vu vơ mấy xác truồng.
(Viên Linh, Thủy Mộ Quan, 1982, trang18)

  1. “Thơ, Nghiên, Hoa, Mộng” viết từ 1955 trở về trước, nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê in năm 1956, 106 trang, giá bán 28 đồng [có ghi: ngoài Nam Việt thêm 2 đồng cước phí].
video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT