Lê Lạc Giao, kẻ đồng hành với ‘nhân chứng’ thời gian?

Du Tử Lê

Nhà văn Lê Lạc Giao ký sách “Có Một Thời Nhân Chứng” cho độc giả. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Từ ngày chính phủ Mỹ có chương trình H.O., dành riêng cho người tù “cải tạo,” những nạn nhân của chế độ CSVN, thì số lượng hồi ký, bút ký hay chuyện về những đời tù được xuất bản cũng gia tăng theo thời gian.

Tuy nhiên, với tôi, đa số những truyện ký loại này, thường có tính chủ quan, với ngọn lửa hận thù nóng hực. Rất chính đáng. Nhưng chính sự “chính đáng” kia, đã là vạch phấn giới hạn tính khách quan, cần thiết, làm nên gíá trị tác phẩm.

Thản hoặc, chúng ta cũng có vài truyện ký ra khỏi “khuôn mẫu” vừa kể. Nhưng đó lại là những mảnh rời, những góc khuất đặc thù của một số nhân vật nào đấy. Chúng không đại diện số đông, cũng không mang tính xuyên suốt một giai đoạn lịch sử của nhân chứng khách quan. Những nhân chứng với kiến thức thực tế sâu rộng ở nhiều lãnh vực, bên cạnh vốn liếng đời sống trại tù…

Gần đây, khi tác phẩm “Có Một Thời Nhân Chứng” của Lê Lạc Giao, xuất bản, truyện dài này đã dấy lên trong tôi tin tưởng: Tác phẩm như một bản đồ khởi đầu (tuy chưa chi tiết lắm), những chỉ dấu quan trọng, cho một nhìn lại khả tín ở nhiều lãnh vực – dù chỉ giới hạn trong bảy năm sau cùng (1968-1975) của cuộc chiến cận đại, 20 năm Quốc/ Cộng ở miền Nam Việt Nam.

Với tôi, truyện dài “Có Một Thời Nhân Chứng” giải mã được phần nào, về một giai đoạn lịch sử phức tạp, rối nùi, không chỉ liên quan tới hai ý thức hệ đối nghịch: Tự do và độc tài – mà còn là một vùng đất, một dân tộc bị nhìn như một cơ hội để chia chác, trao đổi quyền lực bởi nhiều cường quốc!

Cuốn truyện dài dày gần 650 trang, khổ 5.5 x 8.5 khiến tôi biết chắc mình sẽ không có thì giờ để đọc ngay, từ trang đầu, đến cuối; nhưng vì háo hức, tôi đã chọn cho mình hình thức nhắm mắt mở một trang sách nào đó (như bói Kiều) để được đọc sớm…

Trang sách tôi mở ra mang số 548, là chương thứ 13 với tiểu tựa “Ở đây cũng có con người.”

Chỉ với tiểu tựa này không thôi, nó cũng đã mang lại cho tôi, những cảm xúc mâu thuẫn, chập chờn giữa hai cực bi thảm và lạc quan.

Vào sâu hơn chương truyện, dài mấy chục trang chữ in này, tôi nghĩ, dường như tác giả đã sớm hiển lộ cho người đọc thấy một cái nhìn khác về trại tù. Về “cải tạo.” Đó là cái nhìn của một nhà văn ở vị trí nhân chứng, dù họ Lê có hơn bảy năm tù từ Nam ra Bắc.

Tôi muốn nói tới những trang văn xuôi, không chỉ ghi nhận tiêu cực mà, còn lấp lánh tích cực.

Tôi muốn nói tới những trang văn xuôi xao xuyến thơ mộng, nồng nàn tình yêu. Một hòa nhập ý nghĩa, giữa một tù nhân và thiên nhiên (nguồn sữa sự sống).

Tôi nghĩ, có dễ nhờ đứng ở vị trí “nhân chứng,” nên Lê Lạc Giao đã có được cái bình thản (hiếm hoi), khi viết về thời gian bị “tẩy não”: “Nhiều đêm, Hiếu suy nghĩ, anh giống như một khối vật chất dơ bẩn từ trong ra ngoài, và chính cán bộ Cộng Sản đang tìm cách làm sạch bằng nhiều cách. Anh nhớ đến ‘tẩy não’ và thầm so sánh, có lẽ họ không nói sai, ‘mình cần phải tẩy não!’ Nhưng không biết có được như ý họ hay không và phải mất thời gian bao lâu mới sạch sẽ được cái đầu vốn dơ bẩn của mình?” (“Có Một Thời Nhân Chứng” trang 551)

Và, cũng rất bình thản khi họ Lê nhận ra: “…Triết học duy vật do cán bộ ở trại cải tạo giảng dễ hiểu hơn nhiều. Hiếu cảm giác mọi thứ hiểu biết từ kinh nghiệm cô đọng giản dị dần dần theo thời gian cải tạo. Tâm hồn anh cũng dường như co lại như chiếc bao tử mỗi ngày thường không chứa quá sáu củ khoai lang; và buổi tối nằm trong mùng, Hiếu hay nghe bụng mình réo gọi.” (“Có Một Thời Nhân Chứng” trang 553)

Nhưng không vì thế mà nhà-văn-nhân-chứng Lê Lạc Giao không có những giây phút thả hồn, nhập lại vào nguồn sữa thiên nhiên của nhân loại: “…Tiếng cuốc đất đều đặn xen tiếng gió luồn trong từng vạt lá buông gợi lòng người tù nhớ một thứ gì đó thật xa vời! Hiếu dừng cuốc lắng nghe âm thanh xào xạc của rừng lá, ngước mắt thẫn thờ nhìn các phiến mây trắng đục lững lờ trên nền trời u ám. Rồi rền vang âm ỉ tiếng mưa xa vọng về một mùa ký ức. Nơi đó cô đọng một nụ hôn hoàn toàn tan rã, nhưng chút dư vị mỏng manh tươm thấm vào trí não lại kéo dài bất tận. Nụ hôn ấy vượt qua bao rào cản chính trị, len lỏi vào sâu tận mọi ngóc ngách của tâm hồn Hiếu. Anh chợt ngây ngô đờ dẫn, liếm môi và trên làn da của mười đầu ngón tay, gợn cảm giác đôi mông rắn chắc của Cầm đêm say rượu tám năm trước.” (“Có Một Thời Nhân Chứng” trang 564, 565)

Những ghi nhận về tương quan hữu cơ giữa thiên nhiên và bẩm sinh vượt cao khỏi vật chất của con người, như trích đoạn trên, rải rác khá nhiều trong “Có Một Thời Nhân Chứng.” Những mô tả mang nhiều thi tính ấy của Lê Lạc Giao, một cách chủ quan, khiến tôi liên tưởng tới những trang văn xuôi thơm thảo thi ca trong trường thiên “Bác Sĩ Zhivago” của Boris Pasternak (*). Và, tôi tự hỏi với thời gian, rồi đây, ai sẽ “tẩy não” ai?

Nhắc tới thời gian tôi cũng tìm thấy trong “Có Một Thời Nhân Chứng” của họ Lê, một nhân chứng bất ngờ, đặc biệt: Nhân-chứng-thời-gian.

Với tôi, “Có Một Thời Nhân Chứng” không chỉ mang tới người đọc nhiều chỉ dấu dự báo khả năng trả lời được câu hỏi lớn, về toàn cảnh chiến tranh Việt Nam, trong một giai đoạn – mà, tác phẩm này còn hé lộ cho ta thấy, nhân-chứng-thời-gian đã đồng hành với họ Lê, từ con chữ đầu tiên, tới con chữ cuối cùng – – như thể thời gian cũng đã nghiêng vai gánh vác một phần thảm nạn và, chữ, nghĩa chất đầy đôi quang gánh lầm than tổ quốc, trên vai định mệnh oan, nghiệt: “Ngày hôm nay hơn tám năm trôi qua, từ một nụ hôn tình ái đầu tiên cho đến bảy năm tù tội, Hiếu lúc nào cũng thấy mình ngây thơ và vô tội. Với tình yêu anh ngây thơ và trong ván bài chính trị anh vô tội. Anh bảo ‘tôi không có tội gì ngoài tội sinh ở miền Nam! Việc này hoàn toàn ngoài ý muốn bản thân, thế nên tôi vô tội!’ Hiếu viết rõ như thế trong nhiều bản tự khai của mình và chỉ một lập luận suốt bảy năm cải tạo. Tuy nhiên, không cán bộ Cộng Sản nào phê phán anh đúng hay sai, và chỉ chiếc bóng thời gian là nhân chứng duy nhất cuộc đời tù tội mà anh cho là vô lý đó. Hiếu kể mỗi đêm trước khi chìm vào giấc ngủ, anh luôn thấy bóng đen thời gian mỉm cười với anh. Trong giấc ngủ nhiều lần, anh bắt tay với gã đàn ông đen đúa khốn kiếp ấy! Khi thức giấc nhớ lại Hiếu cho là anh thỏa hiệp với nó, nhưng anh cũng tự bào chữa, ‘không thỏa hiệp với thời gian chỉ có một con đường tự sát!’”  (“Có Một Thời Nhân Chứng” trang 563)

Cũng rất nhân bản, khi tác giả viết lúc nhân vật Hiếu nhận được giấy tạm tha: “Hôm sau, trước khi đi lao động, cán bộ giáo dục trại đọc lệnh tha. Hiếu được lệnh cùng hai mươi lăm người còn lại trở về buồng thu dọn tư trang chuẩn bị ra về vào buổi trưa. Ông già Sửu đến gần ôm Hiếu bịn rịn nói, ‘mày nói đúng bởi mày vô tội nên không thể ở chung với kẻ nặng tội như tao, thôi về vui vẻ nhé!’ Nói xong quay đi thì Hiếu chộp chặt tay ông run run bảo, ‘tháng sau sẽ lên thăm ông, mua cho ông bánh thuốc lào hạng nhất!’” (“Có Một Thời Nhân Chứng” trang 574)

Và, sâu sắc: “Đêm đọc thơ Đường với Phác và Cung ở Quang Trung, cùng những lần uống bia với Phan tại Thủ Đức. Đấy là chiến tranh hệ lụy một thời, và kéo dài một đời trên thân thể dân tộc. Hiếu và đám bạn Phác là những người muôn năm cũ thì làm sao quên được lịch sử, dù một thời tưởng như đã lãng quên! Số phận mỗi người vun đắp nên số phận lịch sử, vì chính họ cũng là lịch sử…” (“Có Một Thời Nhân Chứng” trang 576)

***

Nhân quan niệm: “Số phận mỗi người vun đắp nên số phận lịch sử…” của Lê Lạc Giao, tôi muốn nói, số phận những tác phẩm có được sự đồng hành với nhân-chứng-thời-gian thì, cũng sẽ đồng hành được với lịch sử. Như truyện dài “Có Một Thời Nhân Chứng” của họ Lê, vậy. (Du Tử Lê)

—–

(*) Tác phẩm “Bác Sĩ Zhivago” của Boris Pasternak (1890-1960) đoạt giải Nobel Văn Chương 1957.

Video: Tin Trong Ngày Mới Cập Nhật

Copyright © 2018, Người Việt Daily News

Lưu ý: Để mở âm thanh, xin bấm vào nút muted icon imagephía góc phải bên dưới của khung video.

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Truyện chưởng Kim Dung của Trần Văn Tích: Từ hư cấu đến hiện thực

Dựa theo bối cảnh, sự kiện cũng như các nhân vật trong truyện chưởng Kim Dung, tác giả Trần Văn Tích lần lượt nêu lên nhiều chi tiết lý thú

Tại sao vĩ tuyến 17 mà không là vĩ tuyến khác?

Lê Công Tâm đã mang ra ánh sáng tại sao Việt Nam lại bị vĩ tuyến 17 chia đôi, phân cách mà không phải là một vĩ tuyến khác? Thí dụ 15 hay 18?

Viễn Châu và bài ca vọng cổ ‘Chim Vịt Kêu Chiều’

Dân đờn ca tài tử rất thích học bài “Chim Vịt Kêu Chiều” bởi vì đây là bài ca vọng cổ có xen vào nhiều lớp kịch.

‘Hồng bay mấy lá…’

Một bài thơ của Tản Đà, không có nhan đề, đúng ra nhan đề bài thơ ấy đã được dùng làm nhan đề cho cả cuốn sách, in ở ngoài bìa: hồng bay mấy lá

Tháng Ba, Đà Nẵng và Em – thơ Lê Tấn Dương

Ta vẫn nhớ thương về nơi ấy/ Những chiều nắng nhạt Ngũ Hành Sơn/ Nhớ đỉnh Sơn Trà trong gió lộng/ Tiếng oán than như tiếng gọi hồn.

Lê Công Tâm ghi nhận được những gì qua Hiệp Định Geneva 1954?

Luật Sư Lê Công Tâm cho rằng, ông thật may mắn khi có thể truy lục được các tài liệu liên quan về lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử cận đại.

Bài vọng cổ xưa ‘Nỗi Lòng Nàng Khương Nữ’ của Huỳnh Thủ Trung

Đến giữa thập niên 1950, soạn giả Huỳnh Thủ Trung đã dựa theo trang tình sử bi thảm của nàng Khương Nữ tìm chồng viết lên bài vọng cổ 12 câu

Nhìn lại một tạp chí miền Nam: Hiện Đại

Trong năm 1960 miền Nam Việt Nam xuất hiện tới ba tạp chí văn chương: Hiện Đại xuất bản vào Tháng Tư, tới Thế Kỷ Hai Mươi, và Sáng Tạo.

Tình muộn – thơ Thọ Khương

Giọt mưa buồn thánh thót/ Thu vàng gợi tình xưa/ Lá rơi chiều cúi mặt/ Thầm lặng đời lay đưa

Hành Tây Bắc – thơ Lê Tấn Dương

Ta đã lưu phương Tây Bắc này/ Hai sáu mùa, theo lá thu bay/ Hết năm, Xuân đến, hoa đào nở/ Mới thấy cuộc đời lắm đổi thay.