Nhớ học giả Hoàng Văn Chí

Viên Linh/Người Việt

Ông Hoàng Văn Chí (1913 - 6 Tháng Bảy 1988). (Hình: Viên Linh cung cấp)

Vào cuối mỗi tháng cận kề với một tháng mới, người viết bài này có thói quen lược lại cuốn “sổ sinh tử” để xem trong thời gian mấy chục ngày đang tới sẽ thuộc vào tháng nào, và tháng ấy có gì đáng nói hơn cả.

1-Có thể nhiều người sẽ nói, việc ấy tùy theo từng người, điều ấy rất đúng, song cái đúng của số đông so với cái đúng của thiểu số không tạo nên sự quan trọng chung, cái đúng của tôi chỉ quan trọng cho riêng một cá nhân mình, và tùy theo sự giải thích của cá nhân ấy. Trong cuốn Lịch Sinh Tử mà tôi soạn từng ngày, Tháng Bảy và Tháng Hai có nhiều người ra đi nhất.

Đành rằng Tháng Bảy, 1954, có cả triệu người ra đi từ Bắc xuôi Nam, song Tháng Bảy ra đi nói ở đây có những người trong tâm khảm này biết đến tưởng đến hoặc từ khi còn niên thiếu dưới mái học đường, hoặc trong lúc đang và đã vào đời…:

-Tháng Bảy, 1105: Lý Thường Kiệt.

-Tháng Bảy, 1119: Không Lộ.

-Tháng Bảy, 1294: Trần Quang Khải.

-Tháng Bảy, 1947: Huỳnh Phú Sổ.

-Tháng Bảy, 1959: Phan Khôi.

-Tháng Bảy, 1963: Nhất Linh.

-Tháng Bảy, 1986: Cao Văn Luận.

-Tháng Bảy, 1987: Nguyễn Tuân.

-Tháng Bảy, 1988: Hoàng Văn Chí, Thanh Tịnh.

-Tháng Bảy, 1990: Nguyễn Ngọc Huy.

-Tháng Bảy, 1995: Văn Cao.

-Tháng Bảy, 1996: Đỗ Thúc Vịnh.

-Tháng Bảy, 1999: Trần Lê Nguyễn, Lê Uyên Phương (chồng), Đan Quế.

-Tháng Bảy, 2000: Ngọc Dũng, Dương Trữ La.

Đó là chưa kể những người ra đi vào Tháng Bảy sau năm 2000 như Ngọc Linh, Hoài Trung, Lữ Liên. Lê Hoàng Hoa, Nguyễn Văn Xuân, Quỳnh Giao…

Tháng Bảy theo ghi chú của tôi, là những người phần nhiều đã có tên tuổi hay sự nghiệp đối với xã hội hay lịch sử, hay ở trong lãnh vực mà tôi hằng lưu tâm. Tháng Bảy so ra thường là Tháng Sáu Âm Lịch, khoảng giữa một niên kỷ.

Bài này là những đoạn ghi chép từ nhiều lúc khác nhau, do tôi may mắn được gặp học giả Hoàng Văn Chí nhiều lần, nhất là lúc mới đặt chân tới thủ đô Washington, Tháng Tám, 1975, và cư ngụ Beltway trong 10 năm đầu.

Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam từ cuối thập niên 1950 trở đi, mấy chữ “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” – nhan đề một cuốn sách căn bản của tác giả Hoàng Văn Chí, hay cụm từ “Vụ Nhân Văn Giai Phẩm” luôn luôn là đề tài nóng hổi của truyền thông các ngành. Bởi vì nó không những bao hàm cuộc tranh đấu sinh tử, nhiều người mất mạng, nhiều kẻ phải tự tử và hàng trăm gia đình văn nghệ sĩ trí thức bị tù đày, hành hạ; nó còn kéo dài tới các thế hệ sau bằng những cuốn hồi ký, tự phê, qua phim ảnh hay báo chí… thật bẽ bàng cho nhân phẩm, đáng xấu hổ cho giới văn hóa Việt Nam liên hệ… Những chữ ấy đều hiện ra lần đầu tiên và tồn tại, phần lớn từ cuốn sách nói trên của tác giả Hoàng Văn Chí, bản Việt Ngữ xuất bản tại Sài Gòn sau khi bản Anh Ngữ ra đời trước đó.

2-Giữa thập niên 1970 tại vùng tam biên Washington, DC-Maryland-Virginia, nổi bật hình ảnh hai lão trượng râu bạc như cước, mảnh mai, điềm nhiên thanh thản, người lúc nào cũng cầm trong tay một cái tẩu thuốc màu gụ, kẻ tươi cười hỏi han các thanh niên, phụ nữ dù quen thuộc hay không; đó là học giả Hoàng Văn Chí còn đang làm việc tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, và nhà thơ họa sĩ Trương Cam Khải, cư ngụ trong ngôi nhà có vườn tược xanh um, thoai thoải từ sân trước xuống thấp dần vào thung lũng sân sau.

Hội hè nào có hai bóng dáng ấy là hiện ra vẻ văn hiến và phong thái của một cộng đồng lễ nghi trật tự hiếm hoi trong những năm đầu của di tản, của tị nạn Cộng Sản. Đầm ấm hơn nữa, lễ nghi hơn nữa khi có thêm những nhân vật văn hóa khác, như các cụ Trần Công Kiêm và nữ sĩ Song Khê, em ruột bà Tương Phố, ông Trần Văn Kiện, dòng dõi học giả dịch giả Trần Văn Giáp, chủ biên bộ  “Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam,” xuất bản từ giữa thế kỷ trước.

Khi được gặp tác giả “Trăm Hoa…” cũng như của cuốn “Từ Thực Dân đến Cộng Sản” đã được dịch ra 12 thứ tiếng, kẻ hậu sinh nào không ngưỡng mộ? Không những thế, từ con người ấy toát ra một phong thái uyên áo, những nhận xét sắc bén kèm theo các thí dụ cụ thể.

Được gặp cụ đôi lần, sau này đi định cư xa thì cụ nhắn “khi nào về thăm vùng DC, ông nhớ ghé tôi.” Tôi có tới thăm cụ trong ngôi nhà Hoàng Môn ở Maryland, dường như chỉ hai hay ba năm trước khi cụ qua đời, Tháng Bảy, 1988. Ngôi nhà mơn mởn hoa đào hồng phấn, một thứ hoa mà dịch giả tác phẩm “Bác Sĩ Jivago” Nguyễn Hữu Hiệu – người đưa tôi tới thăm nói rằng không ở đâu có: “Lá thì đỏ, hoa màu phấn hồng.”

Hiệu từng được cụ ghi lời cảm ơn trên sách, cùng vài người khác, do Hiệu đã giúp cụ phần Phạn Ngữ (Sankrit) trong cuốn “Duy Văn Sử Quan” xuất bản sau này; hay trên những văn bản khác. Hồng Phấn, tên đọc lên nghe từa tựa khuê danh của cụ bà, Hằng Phấn. Cụ bà không bệnh tật gì, đã lẳng lặng theo chồng nghe nói trong vòng năm bảy tháng. Tôi cũng được gặp hai cụ đôi ba lần trước khi dời qua California.

Nhắc đến học giả Hoàng Văn Chí, người ta có nhiều điều để chiêm nghiệm, nhiều điều để kể cho nhau nghe; ngay cả về cụ bà (một trong ba con gái của danh sĩ Sở Cuồng Lê Dư, chiến sĩ Đông Du qua Nhật năm 1905 và sau đó qua Trung Quốc, ông cùng hoạt động với Nguyễn Bá Trác, bỉnh bút các báo Nam Phong, Hữu Thanh… Hai bà này, một người có làm thơ, ký tên thật là Hằng Phấn, vợ của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, một lấy Tướng Nguyễn Sơn, do Hữu Loan mai mối). Điều cụ Hoàng làm tôi phải lắng nghe chăm chú lần thứ nhất là khi cụ nói về “giới truyền thông Hoa Kỳ, chi phối bởi Do Thái.” Lúc ấy khoảng 1980.

Lúc ở Sài Gòn, tôi đã có cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của cụ, bản giấy láng, khổ lớn, do Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa tái bản. Bản in lần đầu nhỏ hon, ký tên Mạc Đình. Nay trực tiếp gặp tác giả, nghe chuyện tác giả, tôi đã tìm hiểu về tác giả Hoàng Văn Chí nhiều hơn.

Ông Hoàng Văn Chí sinh ngày 1 Tháng Mười, 1913, tại Thanh Hóa; khi ra Hà Nội, học trường Trung Học Albert Sarraut (1928-1935), và đậu cử nhân khoa học tại Đại Học Đông Dương (1940). Bút hiệu Mạc Đình. Ông kết hôn với bà Lê Hằng Phấn, ái nữ tác giả Sở Cuồng Lê Dư, có ba người con, một trai hai gái. Lúc còn niên thiếu đã tham gia bãi khóa (1926), gia nhập phong trào “Le Travail” (1936); hoạt động trong đảng Xã Hội SF10 (1937-39). Tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp từ 1946, chính thức hoạt động với chính quyền Việt Minh (1949-53) với tư cách chuyên viên phụ trách đúc tiền, làm giấy in bạc, chế tạo hóa chất cho quốc phòng, thiết lập hệ thống thủy điện. Năm 1954 ông bỏ kháng chiến trở về thành.

Sau Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, ông di cư vào Nam (1955); cộng tác với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, làm phó lãnh sự tại Tân Đề Li Ấn Độ (1959-60). Tự ý dời khỏi Ấn Độ (Tháng Hai, 1960) qua Âu Châu lưu trú tại Pháp (1960-65) bắt đầu viết sách và hoạt động văn hóa. Sang Mỹ từ năm 1965, theo lời mời của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.

Nghiên cứu và sưu khảo các tài liệu về chính trị, văn hóa, triết lý cổ kim, Đông Tây với tham vọng đưa ra trong một cuốn sách, tổng nhận định về bước tiến hóa của nhân loại, dẫn đến một học thuyết mới, khả dĩ hướng dẫn được những ai lưu tâm trong tiến trình kiến quốc và hưng quốc. Cuốn sách này được thực hiện mang tựa đề: “Duy Văn Sử Quan” với chương XXI đang viết dở dang 1988, thì tác giả mệnh chung.

Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Tư, ngày 5 tháng 7 năm 2017

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Ôi tội hồng phúc! (Kỳ 52)

Nói xong, Thiện và Khôi lần lượt nhẹ bước trở về trên chiếc giường sô pha, nhâm nhi cà phê, xem truyền hình và sôi nổi bàn luận với nhau đủ thứ đề tài mãi tận đêm khuya. Tuấn tiếp tục im lìm bất động, chìm đắm trong dòng suy tư day dứt muộn màng...

Tuyển tập văn học nghệ thuật và văn hóa của Ngô Thế Vinh

Đây là một công trình mang tính anthology hay “hợp tuyển tác giả” vừa công phu vừa mang tính sử của nhà văn Ngô Thế Vinh.

Ôi tội hồng phúc! (Kỳ 51)

Đoạn đưa mắt nhìn Tuấn một cách thông cảm, Khôi tắc lưỡi bình phẩm: - Nói thiệt nghen. Con nhỏ đó nóng hôi hổi như vậy. Mèn ơi! Nội chỉ ngó nó thôi là chưn cẳng thằng nào thằng nấy đã mềm nhũn như cọng bún rồi. Rờ dzô nữa là tan ra thành nước luôn.

Thành Tôn, chàng ‘thư si’

Thú mê sách của chàng, rốt cuộc, không chỉ là cái thú cá nhân. Nhà chàng trở thành một kho chứa văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học miền Nam Việt Nam.

Ôi tội hồng phúc! (Kỳ 50)

Tuấn chợt lặng người, nhớ đến Quỳnh Hương, người vợ sắp cưới mà chàng hằng thương yêu, nhớ đến vẻ bồn chồn thấp thỏm của nàng khi buộc chàng cam kết chấm dứt việc kết bạn và chít chát qua mạng ảo.

Thêm nhiều huyền thoại về câu chuyện ‘Hồ Nguyệt Cô Hóa Cáo’ (phần 3)

Kể từ nay giới đờn ca tài tử hải ngoại họp mặt sinh hoạt hằng tuần lúc 6 giờ chiều Thứ Năm, tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, 14771 Moran St., Westminster, CA 92683.

Tô Kiều Ngân và mặc khách Sài Gòn

Tô Kiều Ngân tên khai sinh là Lê Mộng Ngân, sinh năm 1926 tại Huế, khoảng giữa thập niên 50 nổi tiếng qua làn sóng phát thanh bằng giọng ngâm thơ và tiếng sáo của ông hơn là bằng ngòi bút.

Ôi tội hồng phúc! (Kỳ 49)

Giời ơi! Đất hỡi! Bỗng dưng rơi sập vào chiếc bẫy tình tua tủa giăng ra bởi một nữ “yêu quái” chính hiệu. Rõ là oan nghiệt trái ngang mà!

Ôi tội hồng phúc! (Kỳ 48)

Diễm vòng bàn tay nõn nà nhè nhẹ ve vuốt gáy Tuấn rồi mơn trớn trượt dài trên sống lưng một cách đầy nhột nhạt. Chàng đứng lặng, da chợt nổi gai trước những đụng chạm nhạy cảm đến... tê người.

Ôi tội hồng phúc! (Kỳ 47)

Diễm tỉnh bơ nói, đoạn đủng đỉnh đẩy túi hành lý đi về phía buồng khách, không cho Tuấn có đủ thời gian... khước từ. Chưng hửng đứng chôn chân tại chỗ, chàng bất lực nhìn theo dáng điệu tự nhiên như đang ở... nhà riêng của Diễm.