Cái tôi của người Việt Nam
Từ Thức
“…chỉ khuyên bạn nên đọc để có thể hiểu, sửa bớt tật xấu của mình và nhiều người Việt đang mắc phải.” ([email protected])
Gặp một người bạn. Trong một giờ,anh ta nói về anh 57 phút, anh đã làm những gì khiến Tây phải le lưỡi. Ba phút còn lại, trước khi chia tay, anh ta mới hỏi: “À, hồi này bạn làm gì, sống chết ra sao.”
Tại sao cái tôi, cái “ego”của người Việt lớn thế? Gặp không biết bao nhiêu người vỗ ngực, tự cho mình là vĩ nhân. Không phải chỉ vỗ ngực,còn trèo lên nóc nhà gào khản cổ: tôi giỏi quá,tôi phục tôi quá, tại sao tôi tài ba đến thế!?
Một lần ngồi nhậu với 5 ông, có cảm tưởng ngồi với 5 giải Nobel văn chương. Nói chuyện với một ông bác sĩ trong hẻm,tưởng ông ta đã kiếm ra Pénicilline. Những ông như vậy, nhan nhản. Nói “ông,” vì hầu như đó là một cái bệnh độc quyền của đàn ông. Như ung thư vú là bệnh của đàn bà.
In một hai cuốn sách tào lao tặng bố vợ,nghĩ mình ngồi chung một chiếu với Marcel Proust, Victor Hugo, Beaudelaire, Nguyễn Du. Lập một cái đảng có ba đảng viên, kể cả em gái và mẹ vợ, nghĩ mình là lãnh tụ, ăn nói như lãnh tụ,đi đứng, tắm rửa như lãnh tụ.Viết vài bài lăng nhăng, đầu Ngô mình Sở, nghĩ mình là triết gia, đại trí thức,sẵn sàng dẫn dân tộc đi lên (hay đi xuống). Học gạo được cái bằng (chưa nói tới chuyện mua được cái bằng), nghĩ mình đã kiếm ra điện và nước nóng.
Tôi, tôi, tôi
Một ông bạn in một tấm danh thiếp khổ lớn,dầy đặc những chức tước, trong đó có “nhà nghiên cứu.” Những người quen không biết ông ta nghiên cứu cáí gì, lúc nào. Người viết bài này đáng nhận là nhà nghiên cứu hơn, vì thỉnh thoảng vào Google tìm mẹo trị mắc xương cá, hay cách nấu canh hẹ tầu hũ.
Bất cứ người Việt nào cũng là một cái nhà gì đó. Hơn một cái nhà, đó là những lâu đài.
Cũng lạ, cái TÔI to tổ bố ở một xứ như VN. VN, xứ người ta nói ảnh hưởng văn hóa Phật giáo, tôn giáo của vô ngã, cái tôi không có. Nơi chịu ảnh hưởng Lão giáo,những người đã ra suối rửa tai khi nghe thiên hạ nhắc tới tên mình. Nơi người công giáo hành đạo nhiệt thành, và Công giáo coi vị tha, nghĩ tới người khác, là đức tính hàng đầu. Khổng giáo? Khổng tử nói: biết, nói là biết; không biết, nói là không biết; thế là biết đấy. Người Việt ta cái gì cũng biết,quên rằng thỉnh thoảng nhận mình không biết là dấu hiệu của sự thông minh.
Không lẽ người Việt không hiểu tôn giáo mình đang theo? Có ai gặp một người Nhật mà họ chỉ vỗ ngực: tôi, tôi, tôi… không? Nói chuyện với người Nhật, chưa gì họ đã mang giấy bút ra ghi chép. Làm như những điều bạn nói là khuôn vàng, thước ngọc. Hỏi những người khác, mới biết cái ông ngồi trịnh trọng ghi chép đó là bực thầy.
Nhớ mãi một buổi hội thảo của người Việt. Ông MC nói về mình trước khi giới thiệu diễn giả. Không phải chỉ giới thiệu diễn giả, mà còn nói về tất cả những người ngồi trên bàn cử tọa, chức tước, bằng cấp, tiểu sử, nhất là những chi tiết oanh liệt mà không liên hệ gì tới đề tài thuyết trình. Sau phần giới thiệu chủ tọa đoàn, tới lượt… những người tham dự. Chúng tôi hân hạnh có sự tham dự của Giáo Sư X, Tiến Sĩ Y, Chủ Tịch Z. Vì tất cả đều có bằng cấp, chức tước cùng mình…Việc giới thiệu tất cả văn võ bá quan kéo dài cả giờ. Mời 14 giờ, bắt đầu 15 giờ 15, giới thiệu xong phải thảo luận vội vàng cho kịp giờ trả phòng. Thảo luận nghĩa là mỗi người lên cầm micro nói các anh láo cả, chỉ có tôi là có lý.
Tôi là chân lý
Nước Việt nghèo, chậm tiến, lạc hậu, thua thiên hạ mọi mặt. Đáng lẽ người Việt phải khiêm nhượng, biết người,biết mình. Nhưng không, trong tự điển cá nhân của người Việt không có chữ khiêm tốn. Nhiều lần tôi gân cổ cãi với bạn bè, về nhà nghĩ : không chừng nó có lý. Tại sao không nhìn nhận ngay ? Bởi vì cái tôi nó lớn quá. Bênh vực cái tôi trước đã, thực hư tính sau.
Socrate nói càng học càng thấy mình không biết gì. Những nhà khoa học nói khoa học bắt đầu bằng sự hoài nghi.Có hoài nghi mới đặt lại vấn đề, mới học hỏi, tìm tòi. Người Việt ta không bao giờ hoài nghi về cái biết mênh mông, cái tài quán thế, trùm thiên hạ của mình.
Nước Việt sống dưới ách đô hộ của một nhóm mafia, tự phong cho mình toàn quyền sinh sát. Thế kỷ 21 vẫn chưa có quyền suy nghĩ.Viết vài chữ, nói vài câu phải lo có đúng ý người trên hay không. Vẫn khư khư bám vào một chế độ kỳ quái đã bị cả thế giới từ bỏ. Trong hoàn cảnh đó, đáng lẽ không có người Việt nào nên hãnh diện quá đáng, nếu không xấu hổ vì quả thực không có gì vẻ vang phải cúi đầu để sống. Hay bất lực, nhìn quê hương mình lao xuống vực thẳm.
Ở đâu cũng có những cái tôi,nhưng ở người Việt, nó đạt một tỷ số đáng ngại. Mỗi lần, hiếm hoi, gặp một người đồng hương có khả năng nhưng khiêm tốn,tôi nghĩ bụng: ông nội này mất gốc rồi.Thảo luận với người Việt rất khó, vì ai cũng nghĩ là mình nắm chân lý trong tay. Nghĩ khác là xúc phạm ông ta, xúc phạm chân lý, bôi nhọ sự thật. Phải căm thù, phải tiêu diệt, phải triệt hạ, phải tố cáo, chụp mũ.
Cái tôi lớn, phải chăng đó là nét đặc thù của một dân tộc đầy tự ti mặc cảm? Trong cái kiêu hãnh lố bịch của người “mang dép râu mà đi vào vũ trụ”của Tố Hữu,có cái tự ti của những người vẫn mang dép râu ở thế kỷ 20, 21.
Trong y học, égocentrisme là một cái bệnh, pathologie. Và trong 9 trên 10 trường hợp, những người có mặc cảm tự cao, tự đại (complexe de supériorité) là để che đậy tự ti mặc cảm (complexe d’infériorité).
Những người có thực tài rất khiêm nhượng, vì họ không so sánh với người khác. Họ so sánh mình với mình, so sánh mình hôm nay với mình hôm qua,so sánh tác phẩm mới với tác phẩm cũ của chính mình, so sánh thành quả hôm nay với thành quả những năm trước. Và thường thường thất vọng.
Khi một nghệ sĩ thoả mãn với tác phẩm của mình,anh ta hết là nghệ sĩ. Anh ta không tìm tòi nữa, anh ta về hưu. Như một công chức, một tài xế xe đò về hưu.
Khi một nhà khoa học thỏa mãn với khám phá của mình, anh ta không khám phá nữa. Một lý thuyết gia thoả mãn, anh ta không đọc nữa, không tìm tòi nữa. Chúng ta không có khoa học gia, vì học xong có cái bằng là đủ sướng rồi, treo bằng lên tường ngắm mỗi ngày, tìm kiếm gì nữa.
Ðèn dầu và đèn điện
Thomas Edison nói nếu hài lòng với đèn dầu,tìm cách cải thiện đèn dầu, sẽ không bao giờ kiếm ra điện.
Người Việt ta dễ thoả mãn quá, dễ kiêu hãnh quá, dễ “tự sướng” quá. Chúng ta hài lòng với ngọn đèn dầu leo lét trong nhà, nghĩ là hải đăng. Hậu quả là cái gì của ta nó cũng nho nhỏ. Cùng lắm là xinh xắn, dễ thương, nhưng đồ sộ, vĩ đại thì không có. Không thể có. Tham vọng nhỏ, thành quả nhỏ.
Pablo Picasso khi thành công, được ca tụng ở “période rose” ( thời kỳ hồng), nếu thỏa mãn, sẽ không có “période bleue,” thời kỳ xanh.Nếu thoả mãn với “période bleue” sẽ không có tranh lập thể, đưa hội họa đi vạn dặm. Một giai thoại: Picasso mời bạn bè ăn tiệm. Cuối bữa ăn, gọi tính tiền. Chủ tiệm nói xin miễn chuyện tiền bạc, được tiếp Picasso là hân hạnh rồi. Pablo vẽ vài nét trên tấm khăn phủ bàn, tặng chủ tiệm. Ông này nói xin maitre ký tên. Picasso trả lời: tôi chỉ trả bữa cơm, không muốn mua tiệm ăn.
Nếu Picasso là người Việt, sẽ thấy đời mình đã quá đủ để thoả mãn: vua biết mặt, chúa biết tên, chữ ký đáng ngàn vàng, chỉ việc ngồi hưởng và chiêm ngưỡng dung nhan mình. May mắn cho hội họa, ông ta là người Tây Ban Nha, hỳ hục tìm tòi cho tới chết.
Mỗi lần nghe, hay coi Jean Marie Le Clézio, Patrick Modiano trong những chương trình văn học trên France Culture, hay trên France 5, ít người nghĩ họ đã chiếm giải Nobel Văn chương.
Họ khiêm nhượng, ngập ngừng, do dự, gần như cáo lỗi sắp sửa nói những điều tào lao.
Le Clézio, Nobel 2008, khoanh tay, chăm chú nghe một tác giả vừa chân ướt chân ráo vào nghề, nói về một cuốn sách đầu tay. Modiano, Nobel 2014, tìm chữ một cách khó khăn, ngượng ngập, ít khi chấm dứt một câu, như muốn nói: thôi, bỏ qua đi, những điều tôi muốn nói chẳng có gì đáng nghe. Ông ta thực sự ngạc nhiên không hiểu tại sao có người nghĩ đến mình để trao giải. Ông ta nói có người đọc sách của mình đã là một phép lạ.
Người và ta
Những năm đầu ở Pháp,có thời tôi cư ngụ Rue Marcadet, Paris. Bên cạnh là một cặp vợ chồng già, hiền lành, bình dị như một cặp thư ký hay công nhân về hưu. Mỗi lần gặp ở thang máy,bà vồn vã chào, hỏi thăm đủ chuyện. Thỉnh thoảng ông mời vào nhà,uống trà, hỏi chuyện về Phật giáo mà ông nói đã đọc nhiều, nhưng có điều không hiểu. Thí dụ ông muốn so sánh khái niệm về Niết bàn của Phật giáo với thiên đàng của Thiên Chúa giáo.
Ông là một người công giáo thuần thành, nhưng muốn tìm hiểu về những tôn giáo khác.
Tuyệt nhiên không bao giờ ông bà nói về mình. Nếu không coi TV, chắc không bao giờ tôi biết bà là Yvonne Loriot, danh cầm hàng đầu của Pháp, chiếm giải nhất 7 lần khi học ở Conservatoire de Paris, trước khi trở thành một giáo sư âm nhạc có uy tín.
Ông là Olivier Messaien, một trong những tác giả nhạc cổ điển lớn nhất của hậu bán thế kỷ 20. Rất nhiều các nhạc sư, nhạc trưởng nổi tiếng ở Âu Châu , như Pierre Boulez, Iannis Xenakis hãnh diện là đệ tử của ông. Tác phẩm opéra “Saint-Francois d’Assise” của ông được trình diễn trên khắp thê giới, được đón nhận như những tác phẩm của Mozart, Beethoven.
Ông bà sống trong một căn nhà bình dân, ăn uống đơn giản như một cặp vợ chồng nghèo…Tiền bản quyền nhạc đem tặng- một cách kín đáo- các hội từ thiện, hay giúp trùng tu nhà thờ Notre Dame de Lorette gần nhà. Những lúc rảnh rỗi, bà theo ông vào rừng, thu thanh để nghiên cứu tiếng chim hót.
Ai biết hai ông bà già, lễ độ, gần như vụng về, đang xếp hàng mua ổ bánh mì, là những nhân vật chiếm chỗ lớn trong bất cứ một tài liệu nào về âm nhạc cổ điển cận đại, tuần trước còn là thượng khách của hoàng gia Thụy Điển.
Khi nào ta có những người như Modiano, Le Clézio, Messaien – chưa nói tới tài năng, chỉ nói tới thái độ khiêm tốn -VN sẽ là một dân tộc trưởng thành.Trong khi chờ đợi, chúng ta tiếp tục leo lên nóc nhà, gào: tại sao tôi tài giỏi quá như vậy. Khi gào mỏi, leo xuống, đóng áo thụng vái nhau.
Đó cũng là một trò vui,nếu hậu quả không nghiêm trọng. Chúng ta đều đồng ý với nhau là đất nước đang trên bờ vực thẳm, không thể nhẫn tâm khoanh tay nhìn. Nhưng chúng ta không ngồi nổi với nhau. Những cái tôi đụng nhau chan chát, chúng ta ghét nhau hơn ghét kẻ thù. Người Việt nào cũng có lần uất ức vì không được đãi ngộ, đối xử xứng đáng với tài năng lớn lao của mình. Tổ chức nào cũng không sống nổi ba bảy 21 ngày, cũng phải chia thành hai, thành bốn, tách ra như những tế bào. Bởi vì trong thâm tâm mỗi người chúng ta nghĩ chỉ có mình mới xứng đáng lãnh đạo.Không được thỏa mãn, chúng ta phá nhau hơn phá kẻ thù…
Cái TÔI nó lớn quá. Lớn hơn cả vận mệnh dân tộc.
‘Với ngày như lá… tháng như mây’*
Phạm Công Luận
(Dư âm một bài viết)
Khi tôi đưa bài viết về đoạn đường Lò Đúc trên đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển) lên mạng xã hội, có nhiều người bấm “thích” bài này. Nhờ vậy, có thêm nhiều chuyện kể của những người từng sống ở Phú Nhuận. Có những ý kiến hay và giàu chi tiết, bổ sung về cuộc sống ngày xưa của cư dân ở đây và trở thành ký ức tập thể mà tôi xin mạn phép tổng hợp lại.
Đối với cư dân Phú Nhuận một thời, những địa danh như chợ Lò Đúc, xóm Mả Đỏ, xóm Mô, rạp Văn Cầm, nhà thuốc Ông Tiên, hẻm Đội Có… trở nên thân thương vì đã ấp ủ tuổi thơ của rất nhiều người.
Cuộc sống thuở ấu thơ khi nhớ lại luôn đẹp lung linh dù chỉ là những ký ức vụn vặt. Có người nhắc về những buổi tối cha đi làm về thường mua làm quà cho các con những chiếc bánh tiêu, bánh mè giòn thơm. Người khác nhớ những lần được mẹ dắt ra chợ, cho uống ly nước mía ngọt mát hoặc ly đậu đỏ bánh lọt thơm ngon. Họ nhớ ly nước mía ở cái xe góc đường Võ Di Nguy – Nguyễn Minh Chiếu, nhớ tô mì nóng, nhớ cả chuyện mỗi tháng một lần mẹ đi chợ Phú Nhuận mua cả thùng sữa đặc để cho em nhỏ uống và ba pha cà phê sữa. Nhớ mỗi dịp Xuân về ở ngã tư Phú Nhuận, nhà may Bảo Toàn và tiệm đồng hồ Alfana Watch thi nhau đốt pháo suốt mấy ngày Tết từ mùng 1 đến mùng 3 và không năm nào nhà Bảo Toàn thắng được tiệm Alfana. Bọn trẻ thành lệ Tết nào cũng đợi ngưng giữa các đợt pháo nổ để nhào vô lượm pháo lép.
Một bác từng ở Phú Nhuận kể rằng mới hôm qua, bác đi uống cà phê với người con trai út nay đã ba mươi tuổi. Bác kể cho con trai nghe về những cái ghế xếp chân sắt mặt gỗ đặc trưng ở các xe hủ tíu mì của người Hoa ngày xưa nhưng hiện nay đã mất dần, nhường chỗ cho những cái ghế nhựa đủ màu. Những cái xe hủ tíu mì có gắn những bức tranh tráng thủy xanh đỏ vẽ những trận chiến cổ, đa số trích từ truyện Tam Quốc Chí rất bắt mắt mấy đứa con nít. Những cái xe của ngày xưa ấy dần rệu rã và trở thành hiếm có trên các vỉa hè. Không biết bác còn nhớ hồi xưa gần ngã tư Phú Nhuận có quán cà phê vớ ở đầu hẻm,tầm năm giờ sáng đã có mấy ông lớn tuổi, người đi làm hoặc đã nghỉ hưu ra nhâm nhi cà phê, rầm rì tán chuyện thời sự không?
Con đường Nguyễn Minh Chiếu do nằm trong chủ đề bài viết nên được nhắc nhiều. Tiệm mì Quảng Huê Viên là tiệm ăn duy nhất còn lại ở ngã ba Nguyễn Minh Chiếu – Võ Di Nguy (Nguyễn Trọng Tuyển- Phan Đình Phùng) từ trước 1975. Gần tiệm mì này có nhiều hàng quán và tiệm tạp hóa. Tiệm Huê Xương hồi đó là tiệm chạp phô bán đường, đậu, bán cả vài thứ đồ chơi con nít rất thích mua là mấy tấm bìa in hình màu các con thú, các loại khủng long, các loại côn trùng để vào trường chơi vích hình. Bên cạnh là tiệm Quảng Tín Xương cũng bán chạp phô.Đối diện Huê Xương là tiệm bán cà phê xay Trinh Ký nằm sát bên tiệm phở Phúc Ký. Tiệm Phúc Ký chuyên bán Phở Bắc, giá một tô phở là 5 đồng, con nít có thể kêu tô nhỏ giá 3 đồng. Một độc giả trên bảy mươi kể khi còn bé anh thấy ở đó luôn có một ông khách trung thành, sáng nào cũng chỉ ăn ở tiệm đó, nếu tới sớm thì đứng đợi mở cửa chứ không bỏ đi đâu. Cách Huê Xương vài căn là tiệm Tân Dân cho mướn sách. Những ngày của thời thơ ấu, niềm hạnh phúc lớn của một cô từng ở Phú Nhuận là vào những buổi trưa nắng vắng lặng, trốn ngủ lôi chiếc xe đạp ra, đến tiệm này để thuê truyện Tin Tin, Lucky Lucke. Sau năm 1975, Tân Dân và một tiệm cho thuê sách khác là Toàn Hiệp bị dẹp. Tiệm Huê Xương biến thành một tổ hợp thêu và các tiệm khác dần thay đổi chủ, nhất là sau năm 1978, nhiều người Hoa ra đi.
Xe cộ công cộng ở Phú Nhuận, thuận tiện nhất để ra trung tâm Sài Gòn vẫn là đến đón xe buýt vàng ở bến cuối bên vách tường hông nhà thờ Nam đầu đường Võ Tánh-Trương Tấn Bửu (nay là Hoàng Văn Thụ và Trần Huy Liệu) Ở đó cũng là bến xe taxi. Bến xe này khai mùi nước tiểu, đứng trong sân nhà thờ chỗ hồ nước hình bản đồ Việt Nam vẫn cảm thấy thoang thoảng mùi khai.
Để giải trí, ngoài vài tiệm cho thuê truyện, còn có các sạp báo rải rác trên đường Võ Di Nguy. Đặc biệt, đối diện lối vào trường tiểu học Võ Tánh có hai vợ chồng già bán nhạc tờ có in ảnh nghệ sĩ nổi tiếng. Ngày cận Tết họ bán rất chạy vì gần Tết ai nấy nhàn nhã, mua về tập hát hay tập đệm đàn.
Thỉnh thoảng ngày lễ chạp có hát Đình ở đình PhúNhuận trên đường Lê Tự Tài (nay là Mai Văn Ngọc). Tuy nhiên, thú xem xi nên vẫn hấp dẫn nhất theo lời một cựu cư dân Phú Nhuận hơn bảy mươi tuổi. Ông kể trên đường Võ Di Nguy có hai rạp hát nhưng rạp Cẩm Vân không duy trì lâu, không quen thuộc như rạp Văn Cầm mé ngã ba Nguyễn Huỳnh Đức-Võ Di Nguy (Huỳnh Văn Bánh-Phan Đình Phùng). Rạp Cẩm Vân chuyên chiếu phim Ấn Độ, rạp Văn Cầm chỉ chiếu phim Hồng Kông. Mỗi rạp thường chiếu hai phim khác nhau cùng lúc, giá rất bèo vì dùng toàn phim cũ đã được chiếu hết ở các nơi rồi mới về đó. Xem phim ở Văn Cầm là nguồn hạnh phúc của thiếu nhi và tuổi mới lớn thời ấy, cũng đang trong thời điểm vàng son của Hollywood với những phim cao bồi miền viễn tây và sử thi La Mã. Phim được thông dịch sang tiếng Việt, như phim Étoile brisée (kể chuyện ông Shériff bị cướp bắn,may trúng cái ngôi sao đeo trên ngực, ngôi sao bể nhưng ông thoát chết) được dịch là Ngôi sao tan vỡ. Phim Coup de fouet en retour (cái roi quất của tụi cao bồi) dịch là Ngọn roi phũ phàng. Phim“L’étranger dans la ville” dịch là “Kẻ lạ tới thành,” phim “Le Roi et moi” dịch là “Vua Xiêm và thiếp.” Mùng Một Tết Nguyên Đán bọn con nít Phú Nhuận rủ nhau đi xem phim Cao-bồi “L’homme qui n’a pas d’étoile” (dịch là Kẻ xấu số) với diễn viên Kirl Douglas, về nhà bị ba mẹ biết chuyện rầy cho là sẽ bị xui cả năm vì cái tựa phim nghe thảm quá. Đối với người khác, kỷ niệm về rạp hát này là trong buổi đi học đến trường Võ Tánh từ xóm Đội Có phải đi tắt qua hẻm nhỏ bên hông rạp hát, có khi dừng lại coi cọp qua lỗ mọt của cửa sắt có rèm xem bên trong những phim kiếm hiệp đang chiếu. Có bạn còn nhớ rõ mình đã coi phim “Ngũ hổ tướng” có năm tài tử đóng là Khương Đại Vệ, Địch Long, Trần Quang Thái, Vương Chung và Lý Tu Hiền. Nhiều người lại nhắc Văn Cầm qua ký ức có mùi… nước tiểu giữa các hàng ghế gỗ. Dù vậy, thời phim Hồng Kông đang thịnh, khán giả mua vé phải đứng xếp hàng tới tận đường Cô Bắc hay Cô Giang.
Ở Phú Nhuận có một đoạn đường mà có bạn ví như “một thị trấn Châu Âu.” Đó là khúc đường Trương Tấn Bửu nối dài, đi qua chợ Ga và gần giáp với đường rầy. Ở đó, có các nhà chuyên đắp tượng Chúa Giê-Su, các vị thánh, Đức Mẹ Maria… Những bức tượng đúc từ khuôn mẫu khá đẹp, cân đối không kém các bức tượng trong ảnh bên Tòa thánh La Mã, cao bằng người thật hoặc hơn, đặt hai bên đường với những cái nhìn sâu thẳm nhìn xuống người đi qua lại. Ngày Noel,đi qua con đường đó nghe nhạc Giáng Sinh vừa thấy rộn rã vừa man mác của một thời đang thời chiến: “Lại một Noel nữa, mấy mùa giáng sinh rồi, anh ở đồn biên giới,mong về một khung trời…”Hẻm là một đặc sản ở Phú Nhuận, giống như ở vài quận xưa là vùng ven Sài Gòn. Hầu như đường nào cũng có những con hẻm nhỏ luồn lách qua lại. Đó là di sản của một vùng đô thị tự phát từ trăm năm trước, đường phố hình thành từ các đường làng, nhà cửa mọc lên không phép tắc sau những đợt di cư, tỵ nạn chiến tranh. Đường Trương Tấn Bửu có nhiều hẻm lớn ngay hàng thẳng lối ở khu cư xá đối diện hông nhà thờ Nam. Hẻm có ca sĩ Thanh Phong ban tam ca Sao Băng ở thì gọi là hẻm Thanh Phong. Hẻm nhà ông Đội Có thì gọi là hẻm Đội Có. Hẻm gần nhà thuốc Ông Tiên là hẻm Ông Tiên. Hẻm có quán cà phê mang tên Hẹn Hò là hẻm Hẹn Hò. Hẻm là nơi con nít có thể chơi bắn bi, nhảy cò cò, tạt lon… an toàn hơn ngoài đường phố nên ký ức hẻm đậm đà hơn ký ức đường phố. Nhiều người nhớ hẻm đi tắt từ ngã ba vào trường Võ Tánh (Trung Nhất bây giờ) có nhà ông già người Tàu có tiệm trò chơi điện tử với mấy bàn pinball cực kỳ hấp dẫn bọn nhóc tì, so với những trò chơi banh bàn đơn điệu thì trò banh điện này đèn chớp, âm thanh rất lôi cuốn.
Đường Cô Giang, thực chất là một con hẻm, có nhà nghệ sĩ hài Thanh Hoài, có đền thờ Võ Di Nguy, bên trong nữa có đền thờ vua Hùng của làng Vân Đồn tương tế. Hẻm Duy Tân (tức xóm Mả Đỏ) từng có nhà ca sĩ Elvis Phương, con hẻm trên đường Nguyễn Huỳnh Đức đâm ra hông Phú Nhuận từng có nhà của ca sĩ Chế Linh.
Tiệm phở Bắc Huỳnh trên đường Võ Tánh (Hoàng Văn Thụ) ngày xưa thuộc hàng cao cấp, dân thường không vào nhiều vì giá cao. Phở Quyền rẻ hơn một chút tuy cũng khá mắc so với mức sống thời đó. Trước 75, những quân nhân đi làm trong trụ sở Tổng Tham Mưu gần sân bay thường ghé ăn sáng ở phở Quyền. Tiệm thực phẩm cao cấp Thái Bình có từ trước 1975, nghe nói chủ tiệm là người trong gia đình kịch sĩ Vân Hùng thường đóng cặp cùng nghệ sĩ Kim Cương. Những đứa nhỏ nhà khá giả ở Phú Nhuận thích được cha mẹ dẫn đến tiệm đó mua fromage hay beurre, có khi được cho ăn kem foremost. Tiệm tồn tại đến bốn mươi năm sau 1975 mới đóng cửa để xây lại, đến giờ vẫn là một công trường quây kín.
Chú Nguyễn Cương Phú sống ở Phú Nhuận cách nay hơn bảy mươi năm như là một nhân chứng cho cuộc sống ở Phú Nhuận khoảng cuối thập niên 1940 đến đầu thập niên 1950. Thuở ấy, chú bé Phú cùng mẹ và anh em dọn từ Bà Chiểu sang Phú Nhuận. Mẹ Phú thuê căn nhà ở hẻm Mã Đỏ, là con hẻm nằm trên đường Lò Rèn (còn gọi là đường Chùa Phật, nay là đường Huỳnh Văn Bánh). Con hẻm này (nay là đường Duy Tân) khá rộng, là đường đất nên khi trời mưa đi xe đạp dính bùn không đạp nổi. Nhà Phú ở là căn nhà đầu tiên của hẻm, mái ngói, vách ván, không có hàng rào.Hẻm nhỏ này thông ra đường nhựa Mac Mahon có một bót lính kín chuyên lùng bắt Việt minh. Từ ngôi nhà thuê này, mẹ và em gái của Phú ngày ngày gánh cơm ra ngồi phía trước nhà lồng chợ Xã Tài (chợ Phú Nhuận ngày nay) bán cho giới bình dân, phu xích lô, phu xe kéo. Rồi Phú sang ở cùng một vị sư ở Cầu Bông để giúp việc tu hành, thỉnh thoảng về Phú Nhuận thăm mẹ. Có kỷ niệm khó quên thời đó là khi về nhà ăn Tết năm 1950. Phú may được một bộ đồ mới kiểu cách thời đó nên mừng lắm, mang bộ quần áo về để diện mấy ngày Tết với mẹ. Đêm Giao thừa, mẹ nấu bánh chưng trước cửa nhà, Phú nằm ngoài hiên trên chiếc chiếu mới, thấp thỏm không dám chơp mắt vì sợ ngủ quên. Đến đúng giao thừa, mẹ thắp nhang trước bàn thiên lạy trời đất rổi đốt phong pháo điển đón năm mới. Sáng mùng một Tết, Phú diện đồ mới chúc tết được mẹ lì xì cho tiền, liền phi ra cửa chợ Xã Tài chơi “bầu cua cá cọp.”Từ gánh cơm mà đứa em gái mười hai tuổi đầu ngày ngày theo mẹ ra ngồi bán, đến khi khấm khá lên một chút mẹ Phú sang luôn cái sạp ngay giữa chợ và gánh hàng cơm cũng chuyển đổi thành tiệm cơm. Quanh tiệm là dãy ghế liền nhau hình chữ U. Khách hàng kẻ ngồi xổm, người ngồi bệt trên ghế.
Quán khá dần nên mẹ Phú thuê rồi mua đứt luôn căn nhà phố đối diện với chợ Xã Tài số 118 Louis Berland cạnh vài căn là tiệm thuốc Bắc. Phía sau lưng chợ hồi đó chưa có đường nhựa, dân lao động nghèo sống trong những căn nhà lá, vách lá dừa,hai dãy nhà cất đối diện nhau. Cuộc sống của người dân nghèo nhưng yên bình, nhiều nhà không có cửa, trong nhà chỉ có một cái chõng cho vợ chồng và một cái võng. Khách đến chơi, muốn ngủ thì cứ tự nhiên trải chiếu trên nền đất mà ngủ, có lạnh thì kéo chiếu lên đắp. Mọi người tắm rửa bằng nước rạch Nhiêu Lộc ngày nay, nước phông tên chỉ để ăn uống và phải gánh từ cổng chợ.
Hàng xóm ở đó tuy nghèo nhưng Phú có thể đến lục cơm nguội bất cứ nhà nào để dằn cơn đói. Muốn ngủ lại thì lên võng ngủ. Phú nhớ có một gia đình mà chủ nhà là một anh phú-lít (cảnh sát), còn gọi là Mã Tà. Chồng đi làm, vợ ở nhà giữ con. Hôm nào không đi làm, viên phú lít này về nhà cởi đồ lính, mặc quần xà lỏn ôm đứa con nhỏ ngồi trên chiếc ghế bố (khung gỗ, mặt ghế bằng bao bố đựng gạo tháo chỉ đóng thành cái giường nho nhỏ). Chú gọi Phú ra ngồi chơi, kể chuyện làm cảnh sát ngoài đường cho Phú nghe rất hấp dẫn.
Một chị là cư dân cũ ở đây, nay đã ở Tân Phú viết rằng ngày xưa sao mà bình yên hiền lành thân thiện từ con đường, mái nhà, góc phố. Chỗ chị ở bây giờ, giống như khu Phú Nhuận, cũng thay đổi rất nhiều, khi chị mới đến còn êm ả, có nhiều ruộng rau muống và mương thoát nước, hễ trời mưa là đám con nít chạy ra đường ngập nước để bắt cá rồi hè nhau đắp bờ tát mương vui không kể xiết. Bây giờ nhà bê tông thay cho nhà ngói, hàng rào gỗ và những khoảng cây xanh thay bằng bê tông và sắt.
Một anh bạn khác khi đọc những đoạn kể chuyện về Phú Nhuận ngày xưa, đã chân thành thốt lên: “Cám ơn, đã cho tui trở về thời mặc… xà lỏn. Trường Võ Tánh,Hoài An, Quốc Anh, Đạt Đức.Rạp Cẩm Vân, Văn Cầm, đường Lò Đúc với nhà cô giáo Bông. Nhà làm chả lụa, tiệm cho thuê sách có cái bao giấy dầu rất khó quên. Đường Thái Lập Thành với mấy cái chuồng nuôi ngựa và Quán Bích Câu Kỳ Ngộ.”
Những cái tên anh kể có gì lạ đâu, mà với cư dân Phú Nhuận lâu đời, nghe như có tiếng chuông ngân, vang lên và reo trong niềm hoài nhớ về “Những ngày như lá, tháng như mây” (*) nhẹ tênh và xanh mướt thuở ấu thơ, ám ảnh ta mãi, một cách êm dịu đến tận sau này.
Nói thêm: Sau bài viết “đường Lò Đúc,” tôi rất vui vì tìm ra được anh bạn cũ đang ở nước ngoài, đã cùng sống trong hẻm 152 Nguyễn Trọng Tuyển cách nay hơn bốn mươi năm. Ngoài ra, một chị cũng đang ở nước ngoài có hỏi về một khu nghĩa địa nào đó ở gần chợ Lò Đúc mà tôi không biết. Rất mong cựu cư dân Phú Nhuận nào biết được xin trả lời giúp!
(*) thơ Thanh Nam
(*) Phạm Công Luận
(Nguồn: http://khaiphong.net/showthread.php?30968-V%26%237899%3Bi-ng%E0y-nh%26%23432%3B-l%E1-th%E1ng-nh%26%23432%3B-m%E2y-Ph%26%237841%3Bm-C%F4ng-Lu%26%237853%3Bn)
Thơ Phạm Quốc Bảo
Tự riễu mình
Lận đận bao phen sắp tám mươi
Cuộc đời cứ thế mải mê trôi
Trí theo lý tưởng chưa hề mỏi
Lòng gắn ngãi nhân chẳng thể rời
Mới hay từng trải chân cứ vội
Mà thực nghĩa tình bạc hơn vôi
Thôi thế thì thôi đời đã thế
May ra còn lại mảnh trăng chơi.
11:45PM Thứ Tư, 11 Tháng Ba, 2020.
Thơ Phạm Hồng Ân
Với Khéo, ở San Jose
(Tặng các em và các bạn tôi ở San Jose)
Xuống Bắc rong chơi
một lần đến bắc Cali
lòng tôi chợt muốn một đi không về
thế rồi có lúc nhớ quê
xếp khăn gói lại rụt rè xuôi nam
xuôi nam nhưng vẫn âm thầm
gởi con tim giữ chỗ nằm bên em
trời Cali thật êm đềm
lửng lơ một cánh mây hiền lành trôi
một lần xuống bắc rong chơi
câu thơ bỗng nhắc một thời yêu nhau.
(8 Tháng Hai, 2020)
Hiên phố
tháng ba ngây ngô rắc hoa
mùi núi thơm nhan sắc rừng thiêng
chiếc quán năm xưa tọa thiền
cái ghế cũ vẫn tươm hương rêu mốc
có lẽ nơi này
phố đã lâm chung
từ lúc nắng trôi
bóng em trồi ra biển
từ lúc hàng hiên nằm gục cổ
trận thảm sát rừng
ngổn ngang đại thụ thơ.
có lẽ nơi này
Nữ Oa đội đá vá trời
những tảng đá quên đội
ngửa ngực chờ hơi thở thần linh
những mảng trời vá chịt vá chằng
nghìn năm sau
mãi chưa tiệp sắc
nghìn năm sau
anh vẫn là đất
đành chôn tình
cất giữ quê hương.
lẻ loi giọt mưa rớt muộn
ướt hiên phố bạch lạp đêm
lửa táp mặt mưa
cháy tan giá rét
áo não một dung nhan
thời đại vàng son
đã chết.
tháng ba trở về
thơm lừng trầm hương rừng núi
chiếc quán tọa thiền
hương rêu phủ kín bầu trời.
(Núi trinh nữ)
(Nguồn: sangtao@org;)
Thơ Huỳnh Minh Lệ
Bán cả tương lai
khi người nông dân không còn gì để bán
họ bán đất mặt ruộng tích trữ phù sa
đám ruộng trở thành vùng đất chết
không còn màu xanh không nở hoa
người nông dân ở giồng trôm ba tri
ruộng đất càng ngày càng nhiễm mặn
trong nhà không còn gì để bán
họ bèn đào bán cả tương lai
7 Tháng Ba, 2020
Đơn giản
cái thân cái xác này đây
không đau không nhức mỗi giây là mừng
bây giờ một chén cơm lưng
mỗi đêm yên giấc chỉ chừng ấy thôi
3 Tháng Ba, 2020
Sau mùa dịch
gặp nhau sau mùa dịch
sùm sụp cái khẩu trang
đứng trên bờ miệng vực
không hệ số an toàn
gặp nhau sau mùa dịch
không ai nhận ra nhau
tất cả đều một mặt
một bộ mặt buồn rầu
2 Tháng Ba, 2020
(Nguồn:sangtao@org;)
Thơ Quyên Di (Đại Học UCLA)
Bài giảng ‘online’ đầu tiên
Các con ơi,
Khuôn viên trường đã đóng lại rồi
Chúng ta sẽ không gặp nhau trong giảng đường nữa
Những buổi học vui niềm vui tuổi trẻ
Thầy ân cần trao tri thức cho con
“Face-to-face” từ nay sẽ không còn
Thầy dạy”online” bằng ứng dụng “Zoom,” con ạ.
Không còn những buổi nói cười rộn rã
Hết giờ học rồi,
con vòng tay chào thầy khi bước chân ra.
Không còn những lần các con tụm bảy tụm ba
Đưa thầy ra xe, dặn dò thầy lái xe cẩn thận.
Trận đại dịch này vô cùng lớn rộng
Vượt cả ra ngoài tầm vóc quốc gia
Ảnh hưởng trên toàn thế giới chúng ta
Người ta cấm cản nhau, nghi ngờ, bối rối…
Không còn thể thao, vui chơi, dạ hội
Tụ họp đông người là chuyện không nên
Bởi vì sao? Ai cũng sợ lây lan
Lỡ chẳng may nhiễm siêu vi Vũ Hán.
Và người ta rối trí lên, hoảng loạn
Vào Costco vơ vét các mặt hàng
Mì, gạo, nước, thuốc men… vốn dĩ tràn lan
Nay “dọn sạch” chỉ còn là kệ trống…
Hôm qua thầy buồn như tử đằng dưới cơn mưa lênh láng
Ủ rũ, tả tơi, ướt át, âu sầu
Thoảng nghe như có tiếng hát… ở đâu đâu
Bản thánh ca, con người vốn thân tro bụi…
Nhưng con ạ, dù âu lo, buồn tủi
Ta phải vươn lên, vượt khỏi thương đau
Thầy dặn các con: trước hết phải thương nhau
Và chia xẻ những thứ gì mình có
Chẳng lẽ mình no mà người kề bên không còn gì cả
Chẳng lẽ mình dư, mặc anh em thiếu thốn trăm bề.
Các con ơi, ta phải thoát cơn mê
Đầy sợ hãi và quơ quào ích kỷ
Phải trách nhiệm về nhau, đừng lạnh lùng, kỳ thị
Bảo vệ ta mà cũng nghĩ cho người
Gắng sức ta nhưng cũng khấn cầu Trời
Ban ơn phước cho thế giới qua cơn đại nạn.
*
Sáng hôm nay bầu trời không còn u ám
Giàn tử đằng trở lại dáng vui tươi
Trước sân nhà thầy, cây vả đã đâm chồi
Màu xanh mát của lộc non lá thắm.
Ngày mai thôi, tương lai không xa lắm
Đại dịch không còn, loài người sẽ hân hoan
Lại gặp nhau, tươi cười, tay bắt và môi hôn
Thầy trò ta lại trở về trường lớp.
Ngày ấy sẽ vui, một niềm vui choáng ngợp
U ám tan rồi, nắng ấm sẽ dâng cao.
Các con ơi, đây là bài giảng thầy trao
Bài giảng đầu tiên qua “online”
dành cho các con thương mến.
(Nguồn:[email protected];)
Thơ Trần Vấn Lệ
Chinavirus
Không ai tin như thế:”Thành phố này sẽ buồn!”.
Mới hôm qua, một hôm, sáng nay trời ảm đạm!
Cả bầu trời màu xám, xám xịt, không bình minh!
Những con chim vô hình mất trong trời vô tận!
Mưa bay bay như phấn.Phấn trắng trên bảng đen,
những thông báo đổ ghèn, những con mắt đổ lệ…
Không ai tin như thế!
“Thành phố này sẽ buồn!”.
Hiện tại mà, phải hôn?
Hỏi như thầm tình tự…
Chinavirus bay tứ xứ
từ Vũ Hán bay đi,
bay tới Italie,
bay sang tận nước Mỹ…
Xe Cảnh Sát chậm rãi chạy trong phố thênh thang…
Không thấy nữa rộn ràng, không có gì rộn rịp.
Thấy tiếp tiếp tiếp tiếp, thành phố buồn mênh mông…
“Chao ôi buồn vương cây ngô đồng!”
Đang còn Xuân Trời ạ…
mà trên từng nhánh lá…
mùa Thu như nhẩy dây!
Thành phố này, hôm nay,
bài thơ từ cửa sổ!
Hoa Mùa Hạ
Tôi và em đi vòng công viên
Không hoa nào nở, chỉ mình em!
Tôi hôn hoa ấy – Hoa Mùa Hạ
Em nở nụ cười – Một Đóa Duyên!
(Nguồn:[email protected];)
Thơ Nguyễn Văn Gia
Nằm mơ giữa mùa dịch
Những chiếc lá
không còn rơi về cội
Những dòng sông
hờ hững chảy bên trời
Đời quạnh hiu
như rừng cây đã chết
Lên tiếng gọi người –
chẳng thấy người đâu
Lũ quạ đen
bay rợp trời nắng đẹp
Bầy hạc vàng thương nhớ
bỏ đi đâu
Phố vắng bóng người –
phố xưa bỗng hẹp
Những cột đèn đêm
buồn bã gục đầu
Mặt nhìn mặt
mà vô cùng e ngại
Và lòng ai
cũng cửa đóng then cài
Trái đất hỡi –
sao mong manh đến vậy
Cầu xin ơn trên
thần thánh hai vai
Trên đầu ta
vẫn trời cao xanh biếc
Dưới chân ta
vẫn mặt đất thân quen
Không còn thấy chim chóc,
gian hùng, du côn, nhà thơ và nhan sắc…
Những bước đi
nghe lành lạnh dưới chân
Ôi chỉ là mơ thôi
Mà sao sợ quá một trần gian
lạnh lẽo giá băng…
(Nguồn:sangtao@org;)


















































