Trần Doãn Nho/Người Việt
KENNEDALE, Texas (NV) – “Lấy Chồng Khác Làng” của Tô Hoài, một truyện ngắn tôi vừa được biết gần đây khi nghe “Sách Nói” trên YouTube, tác giả đã làm nổi bật cuộc sống hoàn toàn thu hẹp trong phạm vi làng xã của người nông dân miền Bắc vào khoảng đầu thế kỷ 20.

YouTube, một trang mạng trực tuyến do Chad Hurley, Steve Chen, và Jawed Karim thành lập vào Tháng Hai, 2005, tại San Bruno, tiểu bang California, Hoa Kỳ, không chỉ để xem, mà còn để nghe. Do đó, nó đảm nhận luôn vai trò của “Sách Nói” (Audiobooks), một dịch vụ phổ biến hiện nay, nhất là đối với những người không có thì giờ hoặc không có sách để đọc, những người… lười đọc, kể cả những người nghe sách đọc để… ngủ, thay vì nghe nhạc.
“Sách Nói” tiếng Việt xuất hiện càng ngày càng nhiều, thượng vàng hạ cám gần như không thiếu thứ gì, từ những tác phẩm văn chương cao cấp cho đến các tiểu thuyết bình dân và tiểu thuyết… ba xu. Thu hút thính giả nhiều nhất có lẽ là loại truyện tình cảm lãng mạn được mệnh danh là “ngôn tình” do một số tư nhân tung ra, được giới thanh thiếu niên đón nhận nồng nhiệt.
“Sách Nói” với những truyện cho đọc nhiều thể loại, trong đó, có một số phản ảnh nhiều mặt sinh hoạt xã hội hiện nay ở trong nước, nhưng để câu khách và kiếm lợi nhuận, không thiếu những truyện có nội dung cường điệu, kèm thêm nhiều tình tiết phản cảm và phản đạo lý. Tuy vậy, bên cạnh hiện tượng tiêu cực đó, chương trình đọc sách, đọc truyện rất bổ ích cho những ai muốn thưởng thức các tác phẩm văn chương có giá trị.
Ngoài chương trình đọc truyện “Thư Viện Sách Nói Dành Cho Người Mù,” còn có nhiều trang đọc truyện do tư nhân phụ trách như “Tủ Sách Tinh Hoa của Thái Hoàng Phi,” “Kênh Cô Trinh,” “Kênh Cô Vân” hay một số trang chỉ đọc truyện của một tác giả nào đó như “Kênh Nguyễn Ngọc Ngạn.”
Cũng cần ghi nhận, “Tủ Sách Tinh Hoa của Thái Hoàng Phi” thường đọc các tác phẩm xuất bản thời Việt Nam Cộng Hòa, truyện sáng tác cũng như truyện dịch.
Về phương diện cá nhân, nhờ các chương trình đọc truyện này, tôi có dịp thưởng thức nhiều và rất nhiều các tác phẩm của của các nhà văn Tự Lực Văn Đoàn cũng như những nhà văn tiền chiến khác: Nhất Linh, Khái Hưng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Mạnh Phú Tư, Vũ Trọng Phụng, Thanh Tịnh, Tô Hoài, Võ Đức Thu, Trần Tiêu, Tô Hoài, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh…; các nhà văn thời Việt Nam Cộng Hòa: Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Hồ Trường An, Lê Xuyên, Trùng Dương, Túy Hồng, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu…; những tác phẩm cổ điển nổi tiếng của Trung Hoa: Tam Quốc Chí, Đông Châu Liệt Quốc, Thủy Hử, Sử Ký Tư Mã Thiên, Tây Du Ký, Hồng Lâu Mộng; cũng như các tác phẩm của Kim Dung: Tiếu Ngạo Giang Hồ, Cô Gái Đồ Long…; các tác phẩm nghiên cứu của Nguyễn Hiến Lê, Sơn Nam.
Tôi được nghe hầu hết những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng (Số Đỏ, Giông Tố, Làm Đĩ, Kỹ Nghệ Lấy Tây…), Nguyễn Công Hoan (Tấm Lòng Vàng, Kiếp Hồng Nhan, Kép Tư Bền, Danh Tiết…), được nghe một số tác phẩm của Nguyên Hồng (Bỉ Vỏ, Những Ngày Thơ Ấu,…), của Hồ Biểu Chánh (Con Nhà Giàu, Con Nhà Nghèo…), của Hồ Trường An (Lớp Sóng Phế Hưng, Nắng Về Theo Bướm Lạ…), hay của Trần Tiêu (Con Trâu, Chồng Con, Ai Phải…) mà trước đây chưa hề có dịp được đọc.
Thích thú nhất và bất ngờ là thỉnh thoảng nghe được một số truyện ngắn không hề được biết đến như “Lấy Chồng Khác Làng” của Tô Hoài, “Con So Về Nhà Mẹ” của Thanh Tịnh, hay “ Người Chị Dâu Tôi” của Hồ Dzếnh, vân vân và vân vân.
Người viết xin giới thiệu một truyện ngắn của Tô Hoài, “Lấy Chồng Khác Làng,” do Thái Hoàng Phi, trang YouTube “Tủ Sách Tinh Hoa,” diễn đọc. Bằng một lối viết gọn ghẽ, đơn giản và một giọng văn tường thuật không màu mè, thậm chí hoàn toàn dửng dưng, Tô Hoài đã làm nổi bật cuộc sống với nhiều chi tiết về phong tục và nếp sống xưa cũ của người nông dân miền Bắc vào khoảng đầu thế kỷ 20, một cuộc sống hoàn toàn thu hẹp trong phạm vi làng xã.
Nói là lấy chồng khác làng, chứ thực ra, hai làng chẳng xa nhau mấy. “Đứng gốc cây đề ngoài cổng đồng trông qua bờ đìa, mờ mờ trong lùm cây muỗm cổ thụ nhô lên hai cái cột trụ tam quan đình, những hôm quang trời, bên này cũng thấy được lằn đê chắn ngang tầm mắt.”
Ấy thế mà đối với những cô, cậu chưa hề bước chân ra khỏi nơi mình ở như cô Vải trong truyện, thì rất là cách trở, “ngỡ như đám mây trắng mùa hạ lững thững mãi mới sang đến bên ấy.”
Câu chuyện bắt đầu từ một phiên chợ giáp Tết, người đông như nêm cối. Hai bà bán hàng, một là bà Chồi bán ống dang (loại cây dùng để làm lạt như cây tre) và một là bà bán mật, vốn cư ngụ ở hai làng khác nhau, tình cờ ngồi gần nhau. Bà Chồi có cô con gái tên Vải đi theo phụ; bà bán mật có cậu con trai cũng đi theo phụ. Cả hai loại hàng đều bán rất chạy vào dịp Tết, nên sau một thời gian bày bán, những ống dang cũng như những ống nứa đựng mật đã hết sạch.
Trong lúc thằng con trai bà bán mật “xách những thùng mật ra bờ sông té nước gột,” và cô Vải nhà bà Chồi “vào trong chợ, dạo xem hàng Tết,” thì hai bà thoải mái ngồi bỏm bẻm nhai trầu. Cuộc trò chuyện của hai bà mẹ đưa đến một kết quả không định trước:
“Bà bán mật vuốt quết trầu bám mép hỏi bà Chồi:
-Cái cháu quảy dang là thứ mấy nhà ta?
-Cháu thứ ba bà ạ.
Bà bán mật hỏi ngay một câu:
-Bà cho tôi nhá?
Bà Chồi còn chưa biết thế nào, bà kia quết vôi lấy miếng trầu mời đon đả:
-Cái thằng quảy mật ấy.
Rồi đưa bà Chồi miếng trầu mới têm. Bà Chồi nhổ bã trầu vào gốc cây, quay lại nhón tay lấy miếng trầu mới của bà bạn hàng. Và nói:
-Ối chà, con Vải nhà tôi ấy à, có nhớn mà chẳng có khôn đâu. Bà xem đấy, mặt trời đã lấp bóng đa rồi mà còn lượn chợ, rõ con nhà.
Bà bán mật lại vuốt mép, nhổ quết trầu rồi cũng nói ồi ồi:
-Thì cái thằng hai nhà tôi cũng như cái đụn rạ. Đấy, đi theo đỡ mẹ mà lại rúc vào đám chọi gà.”
Vu vơ thế mà rồi thành sự thật.
Chỉ vài tháng sau đó, cô Vải, con bà bán dang, lên đường sang lấy chồng bên Lở, làng của cậu con trai bà bán mật. Đám cưới tổ chức vào Tháng Ba. Sáng hôm đó, họ nhà trai bên làng Lở đi đón dâu, “các lão ông lão bà, các cô phù dâu thoạt chỉ xống áo như người đi làm đồng. Người xắn quần, người ôm váy, bì bõm lội.” Đi một hồi, mọi người ghé vào một cái quán nghỉ chân, đồng thời chuẩn bị lễ vật: buồng cau, hũ rượu. Sau đó là áo quần: ông cầm hương thì “áo the, khăn vố,” các bà thì “váy chồi thâm lồng ngoài váy nâu da bò” và các cô thì “khăn vuông mỏ quạ tua dây hoa đỏ;” riêng chú rể đi lẫn vào trong “đám trai, áo năm thân nhuộm cậy.”
Đèn đường làng nhà gái, “ông cầm hương áo the khăn lượt chít, vừa lội ngòi quần xắn móng heo, vẫn đi chân không (…) Hương đen thơm nghi ngút trước hai người đội mâm cau, mâm rượu phủ vuông lụa điều.”
Gần như cả xóm, người lớn cũng như trẻ con từ các ngõ đổ ra, để đón chào nhà trai. Vui nhất là trẻ con. Chúng “cuống quýt chăng dây, vớ được dây mướp, dây gấc, cái thắt lưng dải yếm cũng chăng ra, chỉ kiêng không được chăng thừng. Chằng chịt như mạng nhện, những cái dây cản bước, như không muốn người con gái đi lấy chồng làng xa. Ấy thế nhưng đã có người nhà trai lo sẵn, xong cả. Trẻ mỏ chỉ khó cho thêm vui. Mỗi cái dây nhận một phong bao giấy điều. Mở ra, thấy mấy đồng chinh, đồng kẽm, đứa nào cũng hí hửng, giựt giây mở đường.”
Ở nhà cô dâu, “Bà Chồi đứng trong cổng ném vốc muối theo rồi cúi mặt, quay vào. Còn Vải thì cảm thấy đi đâu chưa biết, nhưng thế là xa nhà từ đây. Nước mắt Vải đẫm cả hai bên má.”
Đến lúc rước dâu, thì trời đã về chiều, sương mờ khắp cánh đồng, hai bên bờ nghe tiếng nhái, tiếng chẫu, hai họ “tay nải đeo vai, xúm xít hỗn độn như đi chợ Tết.” Riêng cô dâu, Vải, “ngước mặt lên, chỉ thấy bóng tối mờ mịt. Mới vài bước đường mà xa, sao mà thật xa. Lội xuống ngòi, đã nhá nhem tối, tiếng chân bì bõm, nhưng chẳng trông thấy chân ai. Vải quay nhìn lại bóng tối lần nữa.”
Vài hôm sau, đôi vợ chồng son phải dắt díu nhau về làng cô dâu để làm lễ nộp cheo, vì theo tục lệ, nếu “Lấy chồng làng khác, lệ phải có lễ cheo mới được làng nhận rể.” Chồng “xách cái rọ mới đan nhốt con gà trống thiến, con gà mái rồi ra cổng đồng, như người đi làm, chỉ khác đầu quấn cái khăn lượt, lại mặc cái áo năm thân nhuộm cậy, như hôm đám cưới.” Còn vợ thì mặc cái áo dài nâu non, “vạt áo thắt quả găng, lất phất bay lẫn hai dải yếm lụa.” Nấu nướng ở nhà Vải xong, hai vợ chồng khăn áo chỉnh tề, vợ thì đội mâm xôi, chồng thì bưng hũ rượu, đem lễ ra đình làng.
“Vào tam quan, vợ hạ mâm xôi xuống cửa bên. Chồng ấn lại vành khăn lượt trên đầu cho chặt, vợ từ từ đưa mâm xôi lên. Chồng trịnh trọng đội mâm, một tay nắm cổ hũ rượu nút lá chuối khô. Vợ bước theo, vào trước bậc cửa đình thì đứng lại đấy, đàn bà con gái xưa rày không được đặt chân vào chốn đình trung.” Vào bên trong, “Chồng hai tay đặt hũ rượu lên hương án cùng với mâm xôi con gà. Rồi quỳ xuống lễ thánh, xong xuôi bước ra vái hai bên các ông chức việc, các quan viên rồi cứ chắp hai tay, cúi đầu so vai lom khom bước lùi qua bậc cửa đình.”
Ở nhà, mâm rượu con gà mái đã sẵn sàng. Đám chén mời ông chú, có lão ông cầm hương hôm đưa dâu cháu. Ăn uống xong, đến chiều, hai vợ chồng trở về bên làng Lở.
Cuộc hôn nhân thế là hoàn tất mỹ mãn.
Từ đó, “Hàng năm, vợ chồng Vải về bên ngoại vào Tết nhất hay các dịp góp giỗ. Cẩn thận, giữ lệ. Khi con gà, hũ rượu, lại có khi vác cả bó mía, dựng bên bàn thờ làm gậy cúng các cụ. Khi nào gặp mưa, nước ứ trong ngòi, chồng lại cõng vợ, rồi cõng cả con sang bờ bên kia.”
Cuộc sống nghèo mà hạnh phúc của cặp vợ chồng không kéo dài được lâu. “Nguyên vì anh theo bạn buôn lên Mường mua mía về kéo mật bán chợ Tết. Khi lên theo đường bộ, về thì cho mía lên bè xuôi sông Đà. Năm nào cũng đi thế. Chuyến ấy ngược, dọc đường cả bọn ngủ lại cửa rừng dốc Cun.”
Tô Hoài kiệm lời, vắn tắt sự kiện bất ngờ kế tiếp trong chỉ một câu duy nhất: “Nửa đêm, con hổ ra ăn thịt mất anh ấy.”
Cái chết vô cùng thương tâm của anh chồng được diễn tả một cách dửng dưng, vô cảm. Y như chuyện thường ngày. Không nước mắt, không than van, không đau xót, không… gì hết. Cái lạ là, chính điều này lại gây nên một cảm xúc đặc biệt. Giống như nỗi đau đã được cô đặc lại, bi thảm!
Chồng chết rồi thì sao? Cuộc sống của người góa phụ son trẻ vẫn không có gì thay đổi. Truyện chấm dứt bằng những chi tiết đơn giản, bình thường của một cuộc sống đơn giản bình thường: “Năm năm, mẹ con nhà Vải vẫn giữ lệ về góp giỗ. Khi qua ngòi, gặp nước đầy hay nước cạn, mẹ Vải cũng cõng con lội. Cu con đã lên chín, lên mười, ‘chân nó dài bằng cái sào nứa’ – người ta cười thế, mẹ vẫn cõng con lội sang – người ta lại bảo nhà này chiều con quá.” [qd]
——
Chú thích: (*) www.youtube.com/watch?v=2uq9W852WME
Tô Hoài sinh năm 1920 tại Thanh Oai, Hà Đông và mất năm 2014, hưởng thọ 94 tuổi, để lại hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác. Hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là “Dế Mèn Phiêu Lưu Ký” dành cho tuổi thơ và “Ba Người Khác” đề cập đến bi kịch cải cách ruộng đất ở miền Bắc; tác phẩm này đã từng bị liệt vào loại sách cấm và bị thu hồi ở trong nước.



























































































