Trạng Trình, với quán Trung Tân

Viên Linh

Man mác một đỉnh Hoành Sơn
Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
Ấy là những binh thù thái thái
Lòng trời xui ai nấy biết ru?
Phá điền đầu khỉ cuối Thu
Tái binh mới động thập thò liền sang
Lọ chẳng thường trong năm khôn xiết
Vẻ lại thêm hung kiệt mất mùa
Lưu tinh hiện trước đôi thù
Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm
Xem thấy những sương săm tuyết lạnh
Loài bất bình tranh mạnh hung hăng
Thành câu cá, lửa tưng bừng
Kẻ ngàn Đông Hải người rừng Bắc Lâm
Chiến trường chốn chốn cát lầm
Kẻ nằm đầy đất kẻ trầm đầy sông
Sang Thu chín huyết hồng tứ giả
Noi đàng dê tranh phá đôi nơi
Đua nhau đồ thán quần lê
Bấy giờ thiên hạ không bề tựa nương
(một đoạn Sấm Trạng Trình)

Một tâm thức sĩ phu lớn soi chiếu năm trăm năm qua xuyên suốt ngàn trang thơ văn đất nước là tâm thức Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), tác giả cả trăm bài Bạch Vân Quốc Ngữ Thi, Sấm Ký Trình Quốc Công, bài bia Trung Tân Quán, và những dụ ngôn ban phát cho vua chúa anh hùng khanh tướng ba triều nhà Mạc, họ Trịnh họ Nguyễn mà sử sách đã ghi. Lời ông như huyền thoại mà là lịch sử, chân dung ông như đạo gia tiên thánh mà quanh quẩn bên khóm gừng, luống tỏi. Con người giản dị mà lạ thường ấy đã viết những gì, đã nói những gì, xuất xử ra sao mà sống ngót một trăm tuổi vào thời đại mà tuổi thọ thông thường ta thấy chỉ là bốn năm con giáp?

Ba gian am quán lòng hằng mến,
Đòi chốn sơn hà mặt đã quen.
Thanh vắng thú quê dầu nấn ná,
Dữ lành miệng thế mặc chê khen.
(Thơ chữ Nôm – bài 8) [Theo Trịnh Khắc Mạnh (Văn Hải Phòng.com)]

Sống ở ba gian am quán nơi quê nhà, nhưng tâm trí ông ở trong cả “ba nước,” nếu ta có thể nói không phải chỉ bắc phương mới có chuyện “tam quốc chi,” Việt Nam thời đó cũng có “tam quốc chí: nhà Mạc, vua Lê, chúa Trịnh.” Con người nổi tiếng với triết lý “nhàn” thật ra luôn luôn thao thức về non sông đất nước và đám lê dân nghèo khổ: “Mấy hồi gối chiếc, hai hàng lệ, Một mình nghe tiếng chầy nện vải trong đêm lạnh.” (Sầu). Nghĩ đến người dân như mấy câu thơ dưới đây, chỉ thấy ông là một:

Chẳng khác chim bị mất tổ,
Giống hệt cá bị máu dồn xuống đuôi.
Lúc ấy như thế là cùng cực,
Sinh dân quá ư tiều tụy.
(Cảm hứng)

Như đồng nội có mạ khô,
Kho đụn không thóc thừa.
Vất vả nghèo khổ, người nông phu than vãn,
Đói và gầy, kêu khóc trên đồng ruộng.
(Tăng thử)

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi (1491) và mất năm Ất Dậu (1585), ông húy là Văn Đạt, hiệu là Bạch Vân Am và Tuyết Giang Phu Tử, tự là Hanh Phủ, người làng Trung Am huyện Vĩnh Lại Hải Dương (nay thuộc xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng) và yên nghỉ vĩnh hằng cũng chính trên quê hương mình. Từ nhỏ đến năm 1534, Nguyễn Bỉnh Khiêm theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở Thanh Hóa và sau dạy học ở quê nhà. Năm 1534, khi đã 43 tuổi mới đi thi và đỗ Giải nguyên. Năm 1535, ông thi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ Nhất Danh (Trạng Nguyên) năm Ất Mùi niên hiệu Đại Chính thứ 6 (1535) đời vua Mạc Thái Tông và ra làm quan với nhà Mạc đến năm 1542. Nguyễn Bỉnh Khiêm là người học rộng biết nhiều và giữ các chức quan, như: Tả Thị Lang Bộ Lại Kiêm Đông các đại học sĩ. Từ năm 1542 đến năm 1585, Nguyễn Bỉnh Khiêm nghỉ hưu tại quê nhà, tuy ông đã về nghỉ, nhưng vua nhà Mạc vẫn sai người đến hỏi quốc sự và thăng ông làm Thượng Thư Bộ Lại, tước Trình Tuyên Hầu, rồi Trình Quốc Công. (Theo TKM).

Về văn bia, áng văn thuật lại việc dựng ngôi quán ở bến Trung thanh cao mà giản dị, nhân đó mà nói đến “bến mê” nghe ý vị mà vui:

“Bản tính người ta vốn thiện, nhưng vì bẩm thụ khác nhau, vì bị ham muốn vật chất che lấp nên nhiều người không giữ được toàn gốc cái thiện lúc ban đầu, rồi ngông nghênh, bủn xỉn, càn rỡ, thiên lệch, làm nhiều điều xấu. Người làm quan thì tranh nhau về danh, người buôn bán thì giành nhau vì lợi, khoe khoang thì dựng lầu hóng mát, nhà giữ ấm, giầu sang thì làm nhà hát, đài múa. Thấy người chết đói bên đường không dám bỏ ra một đồng tiền để giúp, thấy người rét co ngủ trơ ngoài trời không đắp cho manh rạ. Tính thiện đã bỏ mất từ lâu.

Còn may lẽ trời trong lòng người chưa hết. Cho nên các cụ già làng ta biết khuyên dân làm việc thiện: Đền chùa cầu quán sửa nhiều nơi. Tôi cũng ham làm điều thiện, thường cho là người biết giữ lẽ phải.

Mùa thu năm Nhâm Dần (1542) tôi từ quan về làng nghỉ, cùng các cụ làng ra chơi Bến Trung (Trung Tân). Ở đây phía Đông trông ra bể Đông, phía Tây nhìn đến Kinh Tây, phía Nam nhìn xa xa là làng Liên Khê, thấy làng Trung Am, làng Bích Động trước sau liên tiếp, phía Bắc cúi nhìn vào sông Tuyết (tức sông Hàn) thấy chợ Hàn bến Nguyệt phải trái bao quanh. Một con đường lớn ở giữa ngựa xe qua lại không biết mấy ngàn dậm.

Nhân thế tôi thưa với cụ già rằng: Trước các cụ xây cầu Trường Xuân, Nghinh Phong, đẹp thì có đẹp, nhưng vẫn chưa đẹp bằng chỗ đất đẹp này, tưởng nên dựng ở đây một cái quán để khách qua đường có chỗ nghỉ ngơi.

Các cụ đều vui lòng nghe theo. Tôi liền bỏ tiền nhà ra làm nền, rồi sai bọn Trương Thời Cử, Nguyễn Trọng Tiêm, Nguyễn Mẫn, Vũ Đình Dịch, Lê Sùng Phúc đôn đốc coi sóc công việc. Ngày mồng ba Tháng Tám khởi công đến ngày hai mươi chín quán dựng xong. Tôi viết biển đề tên là Quán Trung Tân.

Có người hỏi tôi quán tên là Trung Tân, có nghĩa như thế nào? Tôi đáp rằng: Trung là đạo trung, giữ được toàn thiện là trung. Còn Tân là bến để đậu, biết chỗ đậu đúng thì là bến chính, nếu đậu sai chỗ là bến mê.

Tên quán Trung Tân vốn theo nghĩa đó. Như trung với vua, thương yêu anh em, hòa thuận vợ chồng, tín nghĩa bạn bè. Thế là Đạo Trung vậy. Thấy lợi không tranh giành, vui làm điều thiện để dung thân, lấy lòng chí thành mà đối đãi với người, với vật là Đạo Trung vậy. Ở đâu giữ được Đạo Trung thì ở đấy giữ được sự Chí Thiện. Nếu biết lấy những điều đó làm bến để đậu, làm điều cốt yếu để qui tụ thì mọi sự, mọi vật không thể sai sót, không thể không đến chỗ Tân Thiện mà công đức lại vô cùng lớn lao. Các cụ đều vui nghe lời nói về chữ Thiện, xin ghi vào đá để lưu lại lâu dài.

Tháng mạnh Xuân niên hiệu Quảng Hòa thứ ba 1543. Tiến sĩ cập đệ khoa Ất Mùi (1535) Lại Bộ Tả Thị Lang Kiêm Đông các đại học sĩ Tư Chính Khanh Trung Am, Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn. (Người dịch Ngô Đăng Lợi). Viên Linh soạn bên Hồ Ngỗng Trời, Jaguar Trail, Falls Church Virginia, 21 Tháng Mười Hai, 2016.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT