Tại Trung Tâm Hội Nghị Quốc Gia
Hà Nội, Việt Nam
12:11 P.M. ICT
Chào các bạn [cử tọa vỗ tay], chào đất nước Việt Nam [cử tọa vỗ tay]. Vô cùng cảm ơn các bạn. Cảm ơn chính phủ và công chúng Việt Nam, đã nồng nhiệt đón tiếp khi tôi đến thăm đất nước của các bạn. Cảm ơn các bạn có mặt hôm nay. [Cử tọa vỗ tay] Chúng tôi biết rằng, các bạn từ khắp nẻo đường đất nước đến đây, kể cả những thanh niên nam nữ tiêu biểu cho sự tích cực, tài năng, và hy vọng của Việt Nam.
Trong chuyến công du này, tâm hồn tôi xúc động và cảm kích, trước sự đón chào thân ái của các bạn. Nhiều người đứng bên đường vẫy tay chào tôi, cử chỉ này khiến tôi cảm nhận tình thân hữu giữa các quốc gia. Hôm qua tôi đi giữa phố cổ, thưởng thức món bún chả rất ngon, và uống bia Hà Nội. [Cử tọa vỗ tay] Tôi muốn nói một câu rất thật: Tôi chưa bao giờ nhìn thấy, một dòng xe máy xuôi ngược nhiều như vậy trong đời. Có điều tôi chưa thử qua đường, nhưng một ngày nào đó nếu tôi có dịp trở lại, các bạn nhớ chỉ giùm tôi phải qua đường như thế nào.
Tôi không phải là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên đến Việt Nam, trong thời gian gần đây. Nhưng tôi là người đầu tiên – giống như các bạn – trưởng thành sau cuộc chiến giữa hai đất nước. Khi Lực Lượng Hoa Kỳ cuối cùng rời Việt Nam, tôi mới 13 tuổi. Ðến lúc trưởng thành, lần đầu tiên tôi biết đến Việt Nam và tiếp xúc với người Việt là tại Hawaii, tiểu bang có một cộng đồng người Việt rất đáng tự hào.
Cũng trong thời điểm đó, tại Việt Nam có nhiều người nhỏ tuổi hơn tôi. Cũng giống như hai cô con gái của tôi, nhiều người trong số các bạn chỉ biết một điều duy nhất, đó là mối quan hệ bình thường, thanh an giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Tuy nhiên khi đến đây tôi hiểu rõ quá khứ, hiểu rõ trang sử ngặt nghèo của chúng ta; nhưng tôi muốn tập trung nhìn vào tương lai – bởi vì sự phồn vinh, an toàn, và bình định là những điều chúng ta có thể hướng đến.
Tôi cũng đến Việt Nam, với lòng trân trọng di sản cổ xưa của quý quốc. Hàng ngàn năm qua, những nông dân đã cày cấy trên mảnh đất này – lịch sử được khắc ghi trên những chiếc trống đồng Ðông Sơn. Hà Nội bất khuất đứng bên dòng sông Hồng, hàng ngàn năm qua. Thế giới ngưỡng mộ những bức tranh lụa tuyệt đẹp của Việt Nam; Văn Miếu tồn tại như bằng chứng bất biến cho nền khoa cử và kiến thức của Việt Nam. Trong nhiều thế kỷ, vận mệnh quốc gia của các bạn bị giặc ngoại xâm thôn tính. Quê hương thân yêu của các bạn nhiều lần thuộc quyền thống trị của kẻ khác. Nhưng giống như cây tre, tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam, được danh tướng Lý Thường Kiệt minh họa bằng hai câu thơ: Nam Quốc Sơn Hà Nam Ðế Cư. Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Hôm nay, chúng ta cùng ôn lại lịch sử giữa người Việt và người Mỹ, về một khoảng đời xưa từng bị bỏ quên. Hơn hai trăm năm trước, một tiền nhân của người Mỹ, là Tổng Thống Thomas Jefferson, đã đến Việt Nam khi đi tìm hạt lúa cho nông trại của ông. Tại đây, ông tìm thấy giống gạo trắng, thơm ngon, cho ra năng suất cao, hiệu quả nhất. Về sau, từng thương thuyền Hoa Kỳ vượt trùng dương đến Việt Nam buôn bán.
Suốt Thế Chiến Thứ Hai, người Mỹ có mặt hỗ trợ cuộc kháng chiến chống ngoại xâm tại Việt Nam. Khi những phi công Mỹ bị bắn hạ, người Việt Nam đã giải cứu họ. Ngày Việt Nam tuyên bố độc lập, Hồ Chí Minh trích dẫn Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hoa Kỳ, rằng: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Thượng Ðế ban cho họ các quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
Ở một thời điểm khác, tiêu chuẩn chung về lý tưởng và lịch sử chống thực dân, có lẽ đã đưa chúng ta đến gần nhau hơn. Nhưng đáng tiếc, Chiến Tranh Lạnh và nỗi sợ hãi trước chủ nghĩa cộng sản, lại đẩy chúng ta đến bến bờ xung đột. Giống như những cuộc chiến khác xuyên suốt lịch sử nhân loại, chúng ta nhận biết một sự thật cay đắng rằng – dù chúng ta muốn hay không muốn, chiến tranh chỉ mang đến thống khổ và bi kịch.
Tại các nghĩa trang tử sĩ không xa trung tâm này, và trên bàn thờ của các gia đình ở khắp ba miền đất nước Việt Nam, vẫn còn lẩn khuất nỗi bi thương, vì các bạn biết đấy, khoảng 3 triệu người Việt Nam, cả thường dân và binh sĩ ở Miền Nam và Miền Bắc Việt Nam, đã nằm xuống. Trên Bức Tường Tưởng Niệm tại thủ đô Washington, công chúng có thể chạm vào họ và tên của 58,315 binh sĩ Hoa Kỳ, những người đã chết vì cuộc chiến đã qua. Trong đất nước của chúng ta, những cựu chiến binh và gia đình tử sĩ vẫn không ngừng khóc thương những người thân yêu đã qua đời. Cũng tương tự như tại Hoa Kỳ, chúng ta biết rằng, dù không đồng ý với cuộc chiến này, chúng ta luôn tôn vinh những người đã phục vụ tại sa trường, chào đón họ trở về với sự tôn kính mà họ xứng đáng được hưởng. Chính vì thế, người Việt Nam và người Mỹ, công nhận nỗi đau khổ và sự hy sinh đến từ hai phía.
Gần đây hơn, suốt hai mươi năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ. Ngày nay, thế giới có thể nhìn thấy những tiến bộ của các bạn. Từ sự cải cách kinh tế, đến các hiệp định thương mại, kể cả những hiệp định ký kết với Hoa Kỳ, quốc gia của các bạn đã bước vào nền kinh tế toàn cầu, bán sản phẩm trên toàn thế giới. Nhiều danh mục đầu tư cũng đã bước vào Việt Nam. Là một trong số những nền kinh tế phát triển nhanh nhất Châu Á, Việt Nam đang vươn lên, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình.
Chúng tôi nhận ra sự tiến bộ của Việt Nam qua những tòa nhà chọc trời, những tòa nhà cao tầng tại thủ đô Hà Nội và thành phố Sài Gòn, những trung tâm thương mại, và những trung tâm đô thị. Chúng tôi nhìn thấy những điều này, qua vệ tinh Việt Nam đặt vào không gian, cũng như nhìn thấy thế hệ mới trên online, tung ra chiến dịch khởi động và điều hành các dự án mới. Chúng tôi nhìn thấy qua sự kết nối của hàng chục triệu người Việt Nam, trên trang truyền thông xã hội Facebook và Instagram. Các bạn không chỉ đăng những tấm hình selfies – mặc dù tôi nghe nói, các bạn đăng rất nhiều tấm ảnh loại này – [cử tọa cười] – cho đến bây giờ có rất nhiều người yêu cầu tôi chụp hình selfies. Các bạn cũng cất cao tiếng nói, bày tỏ thái độ về những điều đáng quan tâm, chẳng hạn như các bạn đã lên tiếng, để cứu hàng cây cổ thụ in bóng tại thủ đô Hà Nội.
Tất cả những điều tích cực này trở thành sự tiến bộ thật sự, trong đời sống của mọi người. Tại Việt Nam, các bạn đã thực hiện xóa bỏ đói nghèo một cách đáng kể, tìm cách tăng thu nhập gia đình, đưa hàng triệu người bước vào tầng lớp trung lưu. Ðói nghèo, bệnh tật, tỷ lệ tử vong của trẻ em và các bà mẹ, tất cả đều đã giảm xuống. Số lượng người có nước sạch để uống, có điện để sử dụng, số trẻ em trai và trẻ em gái đến trường, và tỷ lệ người dân biết đọc biết viết&, tất cả đều đã gia tăng. Ðây là sự tiến bộ phi thường. Ðây là những gì các bạn đã đạt được, trong một thời gian rất ngắn.
Khi đất nước Việt Nam thay hình đổi dạng, cũng là lúc Việt Nam và Hoa Kỳ thiết lập mối quan hệ. Chúng tôi cảm nhận bài học do Thiền Sư Thích Nhất Hạnh giảng dạy: “Bằng đối thoại thật sự, cả hai bên đều sẵn sàng thay đổi.” Chính bằng đối thoại và thay đổi, cuộc chiến vốn phân chia chúng ta, nay trở thành nguồn mạch chữa lành mọi nỗi đau. Chính bằng sự đối thoại và thay đổi, chúng tôi có thể tìm kiếm những quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh, cuối cùng đưa họ trở về nhà. Chính bằng sự đối thoại và thay đổi, chúng tôi có thể giúp các bạn loại bỏ những trái mìn, những quả bom chưa nổ, để không một em bé nào bị mất tay chân, khi chạy nhảy chơi đùa ở vườn rau hay bến bãi. Ngay cả khi tiếp tục hỗ trợ những người Việt Nam khuyết tật, chúng tôi cũng tiếp tục giúp các bạn loại bỏ chất độc da cam – dioxin – vì thế, Việt Nam có thể khai hoang vỡ đất. Chúng tôi tự hào về công việc chúng tôi đã làm tại Ðà Nẵng, cũng như chúng tôi mong muốn hỗ trợ các bạn tại Biên Hòa.
Xin đừng quên quá trình hòa giải giữa hai quốc gia của chúng ta, do những cựu chiến binh từng đương đầu với nhau ngoài chiến trường, thực hiện. Hãy nhớ đến Thượng Nghị Sĩ John McCain, người bị giam giữ nhiều năm trong chiến tranh. Ông đã gặp Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp, chia sẻ rằng: Việt Nam và Hoa Kỳ không nên là kẻ thù, mà nên là bạn. Hãy nhớ đến tất cả các cựu chiến binh Việt Nam và Hoa Kỳ, những người đã và đang nỗ lực hàn gắn vết thương, cũng như đem lại lợi ích cho cả hai quốc gia. Như trung úy Hải Quân Mỹ, hiện nay là ngoại trưởng Hoa Kỳ, John Kerry, người cũng đang có mặt ở đây, hôm nay. Thưa Ngoại Trưởng John, thay mặt cho tất cả mọi người, chúng tôi vô cùng biết ơn những nỗ lực phi thường của ông, đã làm vì sự hòa hợp hòa giải của nhân dân Việt-Mỹ.
Chính vì những cựu chiến binh đã cho chúng ta nhìn thấy con đường, chính vì những người lính có đảm lược tìm kiếm hòa bình, giờ đây chúng ta trở nên gần gũi nhau hơn bao giờ hết. Ngành thương mại của chúng ta ngày càng phát triển. Sinh viên và học giả của chúng ta cùng nghiên cứu với nhau. Chúng tôi đã chào đón nhiều sinh viên Việt Nam, hơn bất kỳ quốc giao nào khác ở Ðông Nam Á. Và mỗi năm, các bạn đón chào thêm nhiều du khách người Mỹ, trong đó có cả giới trẻ lưng khoác ba lô, đến Hà Nội-ba mươi sáu phố phường, đến mua sắm tại phố cổ Hội An, và đến cố đô Huế. Là những người Mỹ và người Việt Nam, chúng ta, bằng cách nào đó, đã có thể hiệp thông, nhờ ca từ của nhạc sĩ Văn Cao – “Từ nay người biết quê người; từ nay, người biết thương người.”
(còn tiếp)
(Chuyển ngữ: Hải Vân/Người Việt)
























































