HÀ NỘI (NV) – Trong bảy tháng đầu năm nay, Việt Nam bội chi 102 ngàn tỷ đồng và các cuộc tranh luận về cách hành xử trước tình trạng bội chi vẫn chưa ngã ngũ.

Kiểm đếm tiền ở Kho bạc Nhà nước. Bội chi trong bảy tháng đầu năm 2013 đã vượt qua mức 100 tỉ đồng.(Hình: Dân Trí)
Bội chi ở Việt Nam diễn ra trong bối cảnh tất cả các nguồn thu ngân sách đều giảm đáng kể. Các nguồn thu chính và lớn như dầu thô, xuất khẩu đều giảm vài trăm tỉ đồng so với dự kiến.
Tại các cuộc họp, cuộc hội thảo diễn ra trong tháng qua, rất nhiều ý kiến đề nghị tăng mức bội chi ngân sách để kích thích phát triển kinh tế, hoặc tăng phát hành trái phiếu để tăng đầu tư công, thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên một số chuyên gia kinh tế cho rằng, việc bơm thêm tiền trong bối cảnh hiệu quả đầu tư công chưa được cải thiện sẽ gây thêm áp lực cho lạm phát, tỷ giá.
Đang có những nhận định rất khác nhau về tình trạng lạm phát ở Việt Nam. Hồi trung tuần tháng 7, tại một hội thảo về “Diễn biến giá cả, thị trường Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2013”, Tổng cục Thống kê của Việt Nam đưa ra một loạt số liệu rồi nhận định, lạm phát không còn là mối lo lớn trong năm 2013 và hoàn toàn có thể kiềm chế ở mức thấp hơn năm 2012.
Tuy nhiên ngay sau đó, trong Báo cáo cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam sáu tháng đầu năm 2013, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, đến cuối năm nay, lạm phát của Việt Nam có thể tăng đến 8,2%. WB nhận định, việc tăng lương tối thiểu, cùng với việc tăng giá dịch vụ giáo dục, y tế, giá điện, giá xăng dầu… sẽ là những yếu tố chính, đẩy lạm phát năm 2013 tăng cao hơn nhiều so với mong muốn của Việt Nam.
Tương tự, tuy các chỉ số thống kê của sáu tháng đầu năm do Tổng cục Thống kê công bố cho thấy, tình hình kinh tế vĩ mô đang được cải thiện nhưng phần lớn chuyên gia kinh tế và báo giới cùng báo động, niềm tin vào sự hồi phục kinh tế trong công chúng Việt Nam đã giảm đáng kể.
Các hệ thống siêu thị liên tục than thở vì mãi lực càng ngày càng thấp do vật giá gia tăng, dân chúng vừa kiệt quệ về tài chính, vừa lo âu về tương lai nên hạn chế chi tiêu tới mức tối đa. Cũng tháng 7, Ngân hàng HSBC công bố, trong hai tháng 5 và 6, chỉ số mua hàng của giới quản trị (PMI), sụt giảm đáng ngại, điều đó cho thấy doanh giới cũng hạn chế đầu tư.
Đáng lưu ý là trong khi các ngân hàng thương mại ứ thừa tiền vì rất ít người, rất ít nơi muốn vay, Ngân hàng Nhà nước lại đề nghị phát hành thêm 100 ngàn tỉ đồng trái phiếu để mở rộng đầu tư công. Ông Đinh Tuấn Minh, một chuyên gia kinh tế cảnh báo, việc tăng đầu tư công bằng cách phát hành thêm trái phiếu sẽ chèn ép đầu tư tư nhân do làm tăng mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế.
Có vẻ như nhiều viên chức và chuyên gia kinh tế ở Việt Nam đã quên hoặc không còn muốn nhớ hệ quả cay đắng của gói “kích cầu” 8 tỷ USD, sau đó tăng thành 9 tỉ USD vào năm 2009. Bên cạnh một số tác động tích cực như tăng GDP, gói “kích cầu” này là nguyên nhân chính khiến bong bong trong đầu cơ chứng khoán và bất động sản phình to rồi bể, lạm phát gia tăng, thâm hụt ngân sách trầm trọng, nợ công vượt dự kiến, kinh tế vĩ mô trở thành bất ổn và cuối năm 2009, nhà cầm quyền Hà Nội phải quyết định ngừng kế hoạch.
Gói “kích cầu” 2009 cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước như Vinashin, Vinalines,… có thêm tiền để đổ vào các dự án quái gở để cuối cùng mất cân đối nghiêm trọng, để lại những khoản nợ tính bằng hàng ngàn tỉ đồng cho nhà cầm quyền trung ương giải quyết.
Đã có vài chuyên gia kinh tế cho rằng, muốn kinh tế Việt Nam vượt qua những khó khăn như hiện nay, điều đầu tiên mà chính quyền Việt Nam phải làm là khôi phục niềm tin của cả dân chúng lẫn doanh nghiệp vào khả năng điều hành kinh tế của mình, song thực tế cho thấy, hàng loạt chính sách, giải pháp được đề ra từ 2012 đến nay chỉ tạo thêm bất an. (G.Đ)








