Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 2)

 


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


 


Kỳ 2


 


Tôi gặp hắn lần đầu tiên tại Piraeus. Tôi xuống bến để đáp tàu về Crete. Ngày sắp rạng. Trời mưa. Một cơn gió Ðông Nam Ðịa Trung Hải thổi mạnh và tiếng rào rào của sóng vẳng đến tận quán café nhỏ.


Những cánh cửa kính khép kín, không khí nồng mùi hơi người trộn với mùi rượu đan sâm. Bên ngoài trời lạnh và hơi thở làm mờ những gương cửa sổ. Năm sáu thủy thủ đã thức suốt đêm tại đây, co ro trong những cái áo khoác da dê nâu, đang uống café hay rượu đan sâm và nhìn biển qua những khuôn cửa mờ hơi nước. Những con cá váng vất vì biển động tìm chỗ ẩn trong những vùng nước lặng dưới đáy sâu; ở đó chúng đợi chờ bình lặng bên trên trở lại. Những ngư phủ trong những quán café cũng chờ đợi bão rứt và những chú cá, yên tâm, ngoi lên trên mặt nước và đớp mồi. Cá lờn bờn, cá miêu, cá đuối đang trở về sau những cuộc chinh phạt ban đêm. Ngày ló rạng.


Cửa kính mở. Một phu bến tàu mập lùn, rám nắng, đầu trần, đi chân không, toàn thân vấy bùn, bước vào.


– Kìa! Kostandi, một thủy thủ mặc áo khoác rộng màu xanh da trời kêu lên, hồi này ra sao bạn già?


Kostandi nhổ bọt.


– Mày muốn tao ra sao? hắn gắt gỏng trả lời. Chào chủ quán! Chào cả nhà! Chào chủ quán! chào cả nhà! Ðời tao vậy đó. Thất nghiệp dài dài!


Một vài người bắt đầu cười, những kẻ khác lắc đầu và nguyền rủa.


– Thế giới là tù ngục của cuộc đời, một lão để ria mép, đã học triết lý ở tuồng múa rối Thổ Nhĩ Kỳ* nói. Phải, tù ngục của cuộc đời. Khốn kiếp!


– Hừ, quân phá gia chi tử chó đẻ! Gã gầm lên và ngậm bộ ria mép xám.


Tôi ngồi thu mình trong một góc vì lạnh. Tôi gọi ly đan sâm thứ hai. Tôi thèm ngủ, nhưng tôi chiến đấu chống lại giấc ngủ, chống lại sự mệt mỏi và chống lại nỗi cô liêu của ngày mới rạng. Tôi nhìn qua những khuôn cửa mờ đục ra bến tàu đang thức giấc, nhộn nhạo bởi những tiếng còi tàu, tiếng kêu la của những phu kéo xe và những người lái đò. Và vì nhìn ngắm lâu, một tấm lưới vô hình, dệt nên bởi biển, bởi cơn mưa, và bởi chuyến ra đi, đã xoắn chặt tim tôi bằng những cái mắt lưới dầy của nó.


Mắt tôi dán chặt vào cái mũi đen ngòm của một con tàu lớn. Toàn thân tàu vẫn còn chìm đắm trong đêm tối. Trời vẫn mưa và tôi nhìn thấy những sợi nước mưa nối liền trời với bùn.


Tôi nhìn con tàu đen, bóng tối, cơn mưa và nỗi buồn của tôi thành hình. Những kỷ niệm nổi dậy. Trong không khí ẩm ướt, tạo thành bởi cơn mưa và niềm hối tiếc, khuôn mặt của người bạn chí thiết thân yêu lại hiện ra. Tôi đã xuống bến này tiễn biệt hắn bao giờ? Năm ngoái? Trong một cuộc đời khác hay mới hôm qua? Tôi còn nhớ buổi sáng hôm đó trời cũng mưa gió giá lạnh, và ngày cũng mới lên. Lần đó nữa, tâm hồn tôi cũng trĩu buồn.


Phải chia lìa dần những kẻ thân yêu, cay đắng biết bao! Thà giang tay cắt đứt phũ phàng và tìm lại cô đơn, khí hậu tự nhiên của con người còn hơn. Tuy nhiên, trong buổi rạng đông mưa gió ấy, tôi không thể chia lìa bạn tôi. (Sau này khi hiểu tại sao, than ôi, đã quá muộn rồi còn đâu!) Tôi đã lên tàu cùng với hắn và ngồi trong ca-bin của hắn, giữa những cái va-li ngổn ngang. Tôi chăm chú nhìn hắn thật lâu khi hắn mải nhìn đi chỗ khác, như thể muốn lần lượt ghi sâu vào tâm trí những nét đặc biệt của hắn – cặp mắt trong xanh long lanh, khuôn mặt trẻ trung đầy đặn, cách diễn tả tế nhị và khinh bạc, và, trên tất cả, hai bàn tay quí phái với những ngón thon dài.


Một lát sau bắt gặp cái nhìn tha thiết và quyến luyến của tôi, hắn quay lại với vẻ giễu cợt thường có mỗi khi hắn muốn che dấu cảm xúc. Hắn nhìn tôi. Hắn hiểu. Và để khuây khỏa nỗi buồn biệt ly, hắn hỏi với một nụ cười chế nhạo:


– Cho đến bao giờ?


– Cho đến bao giờ cái gì mới được chứ?


– … Còn tiếp tục gậm nhấm giấy và bôi vẽ mực? Ði với tôi thầy nhé! Ở Caucasus đó, hàng ngàn đồng bào ta đang lâm nạn. Mình hãy đi cứu họ.


Hắn cất tiếng cười như để nhạo báng cái sứ mệnh cao cả của hắn.


– Có thể chúng ta không thể cứu họ được, nhưng chúng ta sẽ cứu vớt chúng ta trong khi chúng ta cứu vớt những kẻ khác. Có phải thầy đã thuyết pháp thế không, thưa thầy? “Cách duy nhất để cứu mình là tranh đấu cứu vớt những kẻ khác…” Vậy hãy tiến lên, thầy, thầy thuyết pháp hay lắm. Tại sao thầy không đi với tôi?


Tôi không trả lời. Tôi nghĩ tới mảnh đất Ðông Phương thiêng liêng, từ mẫu của những thần thánh, rặng núi cao vòi vọi còn vang dội tiếng gầm thét của Prometheus. Cũng bị trói vào những tảng đá đó, giống nòi tôi đang kêu gào. Một lần nữa giống nòi lại lâm nguy và kêu gọi các con đến cứu. Và tôi thụ động nghe lời kêu cứu đó, như thể nỗi đau đớn chỉ là một giấc mộng và cuộc đời một tấn bi kịch mê say mà trong đó không có ai, trừ kẻ thô lỗ hay khờ khạo, mới nhảy lên sân khấu vào tham gia vào hành động.


Không cần chờ câu trả lời, bạn tôi đứng dậy. Tàu hú lên lần này nữa là lần thứ ba. Hắn chìa tay ra cho tôi và một lần nữa lại dấu cảm xúc trong lời chế nhạo.


– Au revoir nhé, mọt sách!


 


* Karagheuz hay Karagoz – N.H.H

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT